Dịch giả: Đào Bạch Liên
Chiến thành nam
Đánh trận ở nam thành

    
ưu Kình Thảo vê râu, giới thiệu: “Thành này có hai mặt giáp bờ nước nên còn mang tên khác là Điếu Ngư2. Nhưng nếu muốn thả câu thật thì dây câu phải dài ít nhất hai trăm thước.”
Tiết Dung sai Tiết Công phóng khoái mã đi tiền trạm vào thành báo tin.
Trống ngực đập thình thịch, Văn Tĩnh thầm nghĩ: “Lúc này mà không trốn thì chẳng còn cơ hội nào chạy thoát được nữa.” Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng bối rối quá đỗi, gã chẳng tìm ra được cách gì, mau chóng bị đám người xúm quanh đẩy về phía thành Hợp Châu.
Họ đi chưa đầy hai dặm, đã thấy phía trước bụi bốc mù mịt, một toán nhân mã phóng thốc tới. Viên tướng đi đầu tung mình xuống, cúi lạy Văn Tĩnh sát đất, những người cùng đoàn cũng răm rắp làm theo, Văn Tĩnh ngồi ngẩn ra trên lưng ngựa.
Viên tướng nọ tuổi chừng ngũ tuần, trán rộng mặt to, tóc mai lốm đốm bạc, vầng trán nổi bật một nối ruồi đỏ như chu sa. Bộ khôi giáp trên người rung rung, hành lễ xong ông ta đứng dậy, cất giọng sang sảng chào: “Thuộc hạ Vương Lập - Tứ Xuyên Kinh lược sứ - tham kiến thiên tuế.”
Văn Tĩnh thở dài, cố lấy lại bình tĩnh. Vương Lập không đợi gã trả lời, nói tiếp: “Thiên tuế giật mình vì bọn bất lương, thêm nỗi đi đường mệt mỏi, hẵng nghỉ lại ở vùng hoang dã này ít lâu, thuộc hạ đã cho người chuẩn bị rượu quý thức ngon để nghênh tiếp thiên tuế.” Đoạn ông ta chìa tay: “Mời thiên tuế!”
Văn Tĩnh muốn bày tỏ chút thân thiện nhưng lại thẹn, ngập ngừng gọi: “Vương Kinh lược sứ…”
Vương Lập nghiêm mặt ngắt lời: “Thuộc hạ để mất Kiếm Môn, tự biết tội đáng muôn chết. Vào trong thành rồi, thuộc hạ sẽ bẩm báo tình hình cụ thể sau.”
Văn Tĩnh nghe nói cứ đuỗn người ra, chẳng biết nên đáp thế nào. Vương Lập nhảy phắt lên chiến mã, cùng những người khác rạp mình cúi chào, mời Văn Tĩnh đi trước. Gã thiếu niên hết cách, đành giục ngựa tiến lên, có anh em họ Tiết hộ vệ hai bên trái phải, giương cung lắp tên trông rất uy phong. Văn Tĩnh cảm thấy nhức óc vô cùng.
oOo
Vào đến Thái thú phủ, yến tiệc đã sắp sẵn trong đại sảnh, một bầy thị nữ cúi đầu khép nép đứng bên lối đi, trông thấy Văn Tĩnh đều rạp mình vái lạy, nhạc công nổi đàn sáo, tấu khúc Tương kiến hoan, âm thanh vui tươi réo rắt.
Văn Tĩnh ngứa ngáy khó chịu, không nhịn nổi liền ngoảnh phắt lại toan nói rõ chân tướng, chợt nghe thấy ngoài cửa lớn có tiếng vó ngựa, tiếng lào xào huyên náo, rồi sửng sốt nhận ra Bạch Phác, Nghiêm Cương, Đoan Mộc Trường Ca và Lương Thiên Đức đang xăm xăm đi vào.
Văn Tĩnh hoảng hồn, nín thinh nhìn họ. Không khí trong sảnh bỗng lặng hẳn, mấy nhạc sư dường như cũng cảm nhận được điều bất ổn nên ngừng chơi. Văn Tĩnh chực mở miệng, Bạch Phác đã vái lạy sát đất, trầm giọng nói: “Thuộc hạ hộ vệ sơ suất khiến thiên tuế gặp nguy hiểm, tội đáng muôn chết. Xin thiên tuế trách phạt.” Ba người kia đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng quỳ cả xuống. Lương Thiên Đức là người bực bội nhất: Già lạy con còn ra cái thể thống gì nữa?
Văn Tĩnh nín lặng nhìn ông bố, sống lưng gai gai, bất giác run rẩy. Vương Lập quan sát sắc mặt gã, dò đoán suy nghĩ của gã, tự hỏi: “Phải chăng thiên tuế giận bốn người họ không làm tròn chức trách, nhưng e mất vẻ khoan dung độ lượng của mình nên không muốn phạt họ công khai?” Nghĩ đến đây, ông ta thận trọng tính toán, thầm nhủ: “Nếu đã thế, để ta thay thiên tuế làm việc này vậy.”
Rồi thay đổi vẻ mặt, ông ta quát bốn người: “Các ngươi hành sự bất lực, đáng phạt tội nặng! Người đâu, kéo ra ngoài đánh hai trăm trượng thẳng tay.”
Bốn người chưa kịp nói năng gì, Văn Tĩnh nghe thấy họ sắp sửa đánh cha mình, đã vội vã kêu lên: “Khoan nào!”
Bốn người đều nhìn gã, Văn Tĩnh bối rối, gắng trấn tĩnh, chậm chạp nói: “Tôi… tôi… Ờ, việc này không trách họ được…” Vụt nhớ đến vài đoạn vi hành điều tra trong truyện kể, gã nói: “Ta chỉ muốn âm thầm tìm hiểu một số việc, xem tình hình Xuyên trung ra sao? Nào ngờ gặp phải kẻ xấu… Ờ, việc này đều là lỗi của bản… bản vương, bản… bản vương hiện đã bình an vô sự rồi, các ngươi, các ngươi đứng lên cả đi.” Chẳng biết làm thế nào, gã đành nhận lấy cái mác Hoài An vương đó vậy.
Nhóm Bạch Phác nhìn nhau, mỉm cười đứng dậy. Đêm hôm nào mất dấu Văn Tĩnh, bốn người tìm kiếm không thu được kết quả gì, kế đó nghe tin khẩn từ Kiếm Môn bèn vào ải hiệp sức bảo vệ. Tướng giữ ải là Trương Hà bị Bá Nhan bắn tên chết, trong thành tình hình rối loạn như rắn mất đầu, đại quân Mông Cổ thừa cơ nghi binh ở phía tây ải, kế đó dùng nỏ lớn và đại pháo yểm hộ cho xe tông phá cửa thành. Bốn người khó khăn lắm mới kiểm soát được đám bại binh, chạy thoát khỏi sự truy đuổi của quân Mông Cổ, lùi vào Xuyên trung. Trước việc Văn Tĩnh mất tích, rồi đến Kiếm Môn quan thất thủ, họ đều bối rối chẳng nghĩ ra kế gì, đành theo đám bại binh rút về Hợp Châu, lúc này đây thấy Văn Tĩnh bình an vô sự, tuy còn điều nghi hoặc chưa hiểu nhưng bốn người cùng hết sức vui mừng, nhất là Lương Thiên Đức, quả thực đã cất được một gánh nặng lớn trong lòng.
Vương Lập như bị dội nước lạnh, chưng hửng. Các tướng khác lo sợ thầm nghĩ: “Không ngờ Hoài An vương lợi hại như vậy, một mình đi vi hành, chẳng hiểu những việc xấu mình làm ngày thường có bị ông ta phát hiện không?”
Mọi người lần lượt ngồi xuống, ai nấy một dạ băn khoăn, chợt nghe thấy tiếng cười vang lên ngoài cửa, rồi trông thấy mấy người vận giáp sắt sải bước tiến vào. Người đi đầu mặt trắng râu dài, hình dung nho nhã, chếch mé trái y là một người tầm thước, da ngăm, ánh mắt sắc lẻm, trông rất mạnh mẽ. Hai người phía sau đều cao trên tám thước, lừng lững khôi vĩ, một người râu xoăn đến ngực, một người râu dài lất phất, uy phong lẫm lẫm, tướng mạo bất phàm.
Người đi đầu tiến vào đại sảnh, xá Văn Tĩnh một cái, dõng dạc cất tiếng: “Thái thú Hợp Châu là Lý Hán Sinh bận việc quân không kịp nghênh tiếp, mong thiên tuế thứ tội.”
Dạo trước Văn Tĩnh đã nghe Bạch Phác nhắc đến tên tuổi hình dáng quan viên Hợp Châu, còn nhớ được chút ít, cũng chẳng thể thú nhận cái vụ giả mạo này được nữa, đành đáp: “Lý Thái thú đừng đa lễ.”
Người da ngăm vái chào: “Thuỷ sư Đô đốc Lữ Đức tham kiến thiên tuế. Thuộc hạ đang bận áo giáp, không thể trọn lễ, mong thiên tuế lượng thứ.”
Vương Lập trỏ hai người phía sau Lữ Đức, cười: “Lý Thái thú và Lữ Đô đốc thì thiên tuế đều gặp rồi, còn hai vị này, thiên tuế chắc đã nghe tên từ lâu nhưng chưa gặp bao giờ. Vị râu xoăn là Mã quân Thống chế Hướng Tông Đạo, vị kia là Bộ binh Thống chế Lâm Mộng Thạch, có hai vị ấy và Lữ Đô đốc, Hợp Châu nhất định vững như kiềng ba chân.”
Văn Tĩnh không biết nên ứng đối thế nào, chỉ gật đầu cho bốn người ngồi, bụng bảo dạ: “Cứ thế này mãi sớm muộn cũng cháy nhà ra mặt chuột.” Thấy gã bần thần, Vương Lập lại hiểu lầm, bèn thưa rằng: “Thiên tuế đừng lo, dẫu tiên phong của bọn Thát có tới Lư Châu thì cũng khó lòng vượt qua được Lôi trì3, vì Chỉ huy sứ thành ấy là Lưu Chỉnh tướng quân, một danh tướng thuộc hạng nhất nhì Xuyên trung, đa mưu túc trí, thao lược hơn người. Có ông ấy giữ Lư Châu, thiên tuế cứ ở phía sau lập kế hoạch tác chiến là được rồi.”
Văn Tĩnh chẳng hiểu ông ta nói những gì, chỉ gật gật đầu. Vương Lập nói xong vỗ tay, tiếng tơ trúc lại nổi lên, hai tốp vũ cơ xiêm y sặc sỡ theo nhau tuôn vào. Một thiếu nữ diễm lệ vận áo sa mỏng màu lam, tay cầm phách gỗ hồng, vừa theo bậc cấp tiến lên sảnh đường vừa gõ phách ca:
“Tuý phách xuân sam4 tích cựu hương,
Thiên tương li hận não sơ cuồng,
Niên niên mạch thượng sinh thu thảo,
Nhật nhật lâu trung đáo tịch dương.
Vân miểu miểu,
Thủy mang mang,
Chinh nhân quy lộ hứa đa trường?
Tương tư bản thị vô bằng ngữ,
Mạc hướng hoa tiên phí lệ hàng.5”
Giọng ca tròn vành rõ chữ, người nghe cảm nhận được sự ấm áp lan vào tim, rất khoan khoái. Mười hai vũ cơ phất tay áo múa theo lời hát.
Eo lưng mềm mại như nhành liễu mảnh mai, uyển chuyển như hồ điệp vờn bay, khiến mọi người dự tiệc đều ngơ ngẩn.
Vũ khúc vừa ngừng, tiếng vỗ tay nổi lên như sấm, thiếu nữ áo lam tiến đến trước mặt Văn Tĩnh khom mình bái chào.
Vương Lập cười nói: “Thiên tuế! Người thấy ca vũ đất Thục có được không?”
Văn Tĩnh thành thật đáp: “Hát hay lắm.” rồi thầm nghĩ: “Đại quân Mông Cổ đã áp sát mà mấy người này vẫn còn tâm trí để thưởng thức văn nghệ, đúng là Trước quân lính chiến đầy nguy hiểm, Dưới trướng cô nàng vẫn múa ca6. Quan viên Đại Tống thực biết hưởng thụ.”
Lý Hán Sinh góp chuyện: “Thiên tuế sành từ và khúc, nên chăng điền thử một bài để nàng ta hát?”
Vương Lập luôn miệng khen phải rồi đưa mắt làm hiệu, thuộc hạ bèn mang bút mực dâng lên.
Bạch Phác và ba người kia mặt xám như tro, nhìn nhau, bụng bảo dạ: “Gay to rồi, thằng nhóc có biết điền từ7 hay không?”
Văn Tĩnh thần người một lúc rồi cầm lấy cây bút lông sói, tim Bạch Phác cũng nảy lên theo. Văn Tĩnh tập trung ngẫm nghĩ chốc lát, nhớ tới cảnh tượng đại giang ban nãy, quả thực chưa từng thấy sự tráng lệ hùng vĩ như thế bao giờ, tâm niệm xoay chuyển, lại nhớ tới Ngọc Linh, bóng giai nhân mờ dần lúc giã biệt, chỉ e không còn dịp gặp nhau, bất giác thấy chua xót khó tả, vung bút múa, thảo một bài Nhất tùng hoa lệnh:
Nhất giang li sầu lệ đông khứ, tống biệt hữu thanh sơn.
Bích nguyệt linh lung chiếu nhân hoàn, ức đương niên, kỷ đa bi hoan.
Vân thuỷ thâm xứ tà dương ảnh, thảo mộc thiên tế ảm;
Cô hồng thanh đoạn tầng vân lí, vô xứ mịch hương quan.
Can qua sự, tuỳ kinh đào vạn lý, nhật lạc xứ, phong lưu vân tán,
Quy khứ lai dã, hoàng lương mộng tỉnh, chẩm biên lệ lan can.8
Thiếu nữ áo lam đón tờ hoa tiên, nhíu mày. Bạch Phác và ba người kia thấp thỏm gần chết.
Thiếu nữ khẽ thở dài nói: “Bài từ này buồn quá, được mỗi câu Can qua sự, tuỳ kinh đào vạn lý, nhật lạc xứ, phong lưu vân tán là còn có hào khí một chút.”
Nhác thấy vẻ mặt đe doạ của những người xung quanh, cô ta thở dài, hé đôi môi đỏ định cất tiếng hát. Đột nhiên ngoài cửa có tiếng bước chân loạng choạng, rồi một tên lính lao vào, hét to: “Có chuyện lớn rồi.”
Nhận ra đó chính là viên chỉ huy toán thám mã ngoài thành, ai nấy đều sửng sốt.
Vương Lập giữ vững phong phạm của đại tướng, trầm tĩnh hỏi: “Chuyện gì mà hoảng hốt như vậy?”
Người đó nuốt nước bọt, thở hổn hển đáp: “Thám mã tiền phương báo về, đại quân Mông Cổ đã vượt qua Lư Châu, đang tiến về Hợp Châu.”
Vương Lập đứng phắt dậy, la thất thanh: “Gì cơ? Sao có thể như vậy được, lẽ nào Lư Châu thất thủ rồi?”
“Thuộc hạ đã phái người đi tìm hiểu thêm…”
Lúc đó ngoài cửa lại có tiếng vó ngựa gấp gáp, tất cả cùng ngó ra, thấy ngay một tên thám tử vừa tung mình từ trên ngựa xuống nói vội vã: “Lưu Chỉnh đầu hàng, Lư Châu đã rơi vào tay địch. Ngột Lương Hợp Thai đang dẫn ba vạn đại quân theo đường bộ tiến về Hợp Châu.”
Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, Vương Lập tức giận hỏi: “Đại Tống ta đãi Lưu Chỉnh không bạc, vì cớ gì mà y đầu hàng chứ?”
Lý Hán Sinh vuốt râu trầm ngâm: “Biết đâu trinh thám lầm lẫn?”
Lữ Đức nói: “Quân cơ đại sự, thà tin rằng có, đừng nghĩ rằng không. Lư Châu thất thủ, quân Mông Cổ nhất định sẽ tiến thẳng tới đây bằng cả hai đường thủy bộ. Nếu không kịp đề phòng, Hợp Châu có hề hấn gì, thiết kỵ của Mông Cổ nhất định sẽ thuận đường tiến về phía đông, bắt chước kế phá Ngô của Vương Tuấn9 ngày xưa để làm cỏ Giang Nam.”
Y chưa dứt lời, lại có tiếng vó ngựa từ xa dội tới, mọi người dao động, nhìn ra thấy một con tuấn mã đứng khựng ngoài cửa.
Kỵ sĩ bước nhanh vào phủ, quỳ lạy, trầm giọng nói: “Đại tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai dẫn mấy vạn quân tiên phong đang đóng trại cách Hợp Châu ba trăm dặm. Thuỷ sư Lư Châu là Sử Thiên Trạch làm soái, Lưu Chỉnh làm phó, theo dòng xuôi xuống đông, còn có tin Đại hãn Mông Cổ đã rời bản doanh Lục Bàn sơn dẫn mười vạn quân đến dịch trạm Kiếm Môn.”
Không khí tịch mịch, ánh mắt kinh hãi của mọi người đổ dồn cả vào Văn Tĩnh. Gã thiếu niên choáng váng vì những tin xấu liên tiếp, chẳng biết nên làm thế nào, đành lé mắt nhìn Bạch Phác.
Bạch Phác khẽ gật đầu, nói: “Binh quý ở chỗ thần tốc, bọn Thát đã giành được toàn những cứ điểm quan trọng, lúc này ngoài tử thủ ra thì không còn cách nào khác.”
Các đại tướng đều có suy nghĩ tương tự, Văn Tĩnh thầm nghĩ: “Nói cũng như không ấy, mặc kệ ai thắng ai thua, chẳng can hệ gì đến ta hết. Cứ ở mãi đây bị họ hỏi han thêm vài câu là cái đuôi chồn của ta thò ra ngay. Mấy ngày nay mệt quá sức rồi, phải sớm…”
Vương Lập khom mình, ngắt đoạn suy nghĩ của gã: “Bạch tiên sinh nói có lý, chẳng hay thiên tuế còn mưu kế gì không ạ?”
Văn Tĩnh buột miệng không suy nghĩ: “Ngủ.”
“Ngủ ạ?” Chúng tướng ngẩn người ngơ ngác, trố mắt há miệng, ngây đuỗn như một lũ tượng đất trong thổ miếu.
Văn Tĩnh lỡ miệng, than khổ khôn nguôi, đâm lao đành theo lao: “Ngày mai Mông Cổ chắc sẽ đem quân đến dưới thành. Đại chiến sắp nổ ra rồi, nếu không nghỉ ngơi tĩnh dưỡng thì làm sao ứng phó được?”
Lý Hàn Sinh cảm thán: “Thiên tuế thực có phong độ của đại tướng. Chúng thuộc hạ như kiến bò chảo nóng, chẳng biết làm thế nào, chỉ có thiên tuế tâm định khí nhàn, suy tính quả sâu sắc.”
Vương Lập biểu tán đồng: “Lời nói thật diệu quá, kế sách trước mắt, nghỉ ngơi là quan trọng nhất.” đoạn hạ lệnh: “Cho quân sĩ trong thành dưỡng sức đêm nay, ngủ một giấc thật thoải mái, tinh thần đầy đủ rồi sẽ quyết bề thắng phụ với bọn Thát…”
Văn Tĩnh chẳng ngờ họ lại nghe lời đến thế, cảm thấy ngạc nhiên vô cùng, tự nhủ: “Nếu mọi người đều ngủ như heo chết để quân Mông Cổ đánh vào thì chẳng phải mọi tội lỗi đều trút lên mình ta sao? Hai lão già các ngươi tính khéo ghê!”
Gã quét mắt nhìn khắp lượt rồi dừng lại ở Lữ Đức, nghĩ bụng: “Người này vừa rồi kiến giải cao minh lắm, nhất định sẽ đóng một vai trò lớn trong đại sự đây.” đoạn cất tiếng gọi: “Lữ Đô đốc.”
Lữ Đức vâng dạ tiến lên, Văn Tĩnh trầm ngâm chốc lát rồi nói: “Ông chia quân sĩ trong thành ra năm nhóm, bốn nhóm đầu hết một canh giờ lại đổi ca một lần, nhóm cuối cùng nghỉ ngơi hoàn toàn để chuẩn bị việc thủ thành ngày mai.”
Lữ Đức lĩnh mệnh. Văn Tĩnh lại nói với Hướng Tông Đạo: “Hướng Thống chế! Ông dẫn bốn trăm khinh kỵ đi tuần quanh thành. Trong vòng một trăm dặm, hễ phát hiện có quân Mông Cổ thì lập tức dùng phương pháp Phong hoả thời cổ đại, lấy lửa làm hiệu truyền tin về thành.”
Hướng Tông Đạo vâng lệnh, thầm nghĩ với sự kinh ngạc tột độ: “Việc này giao cho thuộc hạ là được, bắt ta làm khác nào dùng dao mổ trâu để giết gà?”
Văn Tĩnh liếc mắt về phía Vương Lập và Lý Hán Sinh, bụng bảo dạ: “Thế là an toàn rồi đấy.”
Lý Hán Sinh không bỏ qua cơ hội tâng bốc, nói ngay: “Thiên tuế suy tính thật chu toàn.”
Vương Lập vuốt râu: “Đúng thế, chúng ta cũng nên học tập phong độ của thiên tuế…” Vốn dĩ ông ta định nhắc đến việc tiếp tục tửu yến, nhưng cảm thấy không ổn, nên không nói hết câu.
Sau đó mọi người giải tán, Vương Lập đưa Văn Tĩnh đến Trúc Hương viên nghỉ ngơi. Khu vườn này trồng toàn trúc xanh, gió thổi bóng trúc lay động, trông thật xao lòng dưới ánh trăng.
Văn Tĩnh theo Vương Lập vào một căn tịnh xá. Bên trong trần thiết trang nhã, bốn tỳ nữ kiều lệ phong tình tươi cười nghênh đón, toan cởi áo tắm gội cho gã. Văn Tĩnh hoảng hồn nắm chặt lấy đai lưng, nói nhanh: “Ta tự làm là được rồi.”
Vương Lập ngạc nhiên nghĩ bụng: “Hoài An vương dòng dõi hoàng gia, nghe nói trong phủ mỹ nữ vô số, sao hôm nay lại trái thói thế? Phải chăng chê mấy con bé này không đủ đẹp?”
Ông ta trầm ngâm, cung tay cáo từ.
Văn Tĩnh tắm gội xong xuôi, toàn thân thư thái, đi ra khỏi phòng. Trong sảnh đã có thêm một nữ tỳ nữa. Người đó vừa trông thấy gã liền cúi mình chào. Văn Tĩnh đỏ mặt tía tai, cúi đầu đi qua bên cạnh, chợt nghe thấy người ta thỏ thẻ gọi: “Thiên tuế!”
Văn Tĩnh ngoảnh đầu nhìn, nhận ra chính là thiếu nữ áo lam hồi tối ca bài từ trong phủ Kinh lược. Cô ta ăn mặc theo lối tỳ nữ nên vừa rồi Văn Tĩnh không nhận ra, nay nhận ra rồi cũng nên chào hỏi cho phải phép, gã đành lắp bắp: “Cô… đến đây làm gì vậy?”
Thiếu nữ nói sau một hồi cúi đầu im lặng: “Thiên tuế chắc phải hiểu rõ hơn Nguyệt Thiền chứ.”
Không quen với lối nũng nịu phong tình ấy, Văn Tĩnh hỏi “Hiểu gì cơ?”
Nguyệt Thiền định nói lại thôi, Văn Tĩnh bảo luôn: “Ta buồn ngủ lắm, có chuyện gì đợi mai hãy hay!”
Nguyệt Thiền hỏi: “Thiên tuế có muốn nghe thiếp hát một khúc không?”
Văn Tĩnh lắc đầu, đi tuột vào phòng ngủ, đóng cửa và khoá trái, thở phào nghĩ: “Coi như qua được một đêm.”
Gã trèo lên giường, vốn dĩ muốn ngủ, nhưng ruột rối như tơ vò, không sao bình tĩnh được, cuối cùng chỉ tơ tưởng đến bóng dáng xinh đẹp mà ranh mãnh nọ.
“Chẳng biết còn gặp được nàng nữa không?” Văn Tĩnh buồn rầu: “Có lẽ đời này kiếp này không còn được nhìn thấy nàng nữa rồi.” Nghĩ tới đây, gã chua xót suýt khóc. Bỗng nhiên nghe thấy đằng xa tiếng ngâm xướng vẳng lại, Văn Tĩnh lắng tai, nhận ra chính là bài Nhất tùng hoa lệnh gã điền hồi tối mà chưa kịp hát, tiếng ca dặt dìu thanh tao chứa nỗi sầu man mác. Tâm trạng Văn Tĩnh khéo hợp với giai điệu đó, nghe hồi lâu bất giác si dại, gã khoác áo bước ra, trông thấy Nguyệt Thiền tắm mình trong ánh trăng mờ ảo, đang chậm bước bên bụi hoa, tay cầm một tờ giấy, ngâm nga khe khẽ.
Nghe tiếng kẹt cửa, cô gái ngoảnh đầu nhìn, biến sắc thi lễ: “Tỳ tử vô phép, phải chăng đã quấy nhiễu giấc mộng của thiên tuế?”
Mặt Văn Tĩnh đỏ như gà chọi, gã lắc đầu, lúng túng nói: “Không… không phải, cô hát hay lắm.” Ngừng một lát, gã nuốt nước bọt: “Chỉ tại ta điền từ không ra gì…”
Nguyệt Thiền mỉm cười: “Đâu phải chuyện hay dở… có điều từ của thiên tuế khác với trước đây.”
Văn Tĩnh giật mình: “Chẳng lẽ cô ta quen đồ thật, và đã nhìn ra chỗ sơ hở của đồ giả này rồi ư?”
“Thiếp đã từng xem từ của thiên tuế ở chỗ Vương Kinh lược, quả thực hào sảng, khí trùm thiên hạ, nuôi hùng tâm đuổi Thát, bình trung nguyên.” Nguyệt Thiền nhìn Văn Tĩnh, lắc lắc đầu: “Nhưng bài từ này của thiên tuế thì khác hẳn.” Nói tới đây cô ta thở dài. Văn Tĩnh hơi yên dạ, bảo: “Muộn rồi đấy, cô đi ngủ đi!”
Nguyệt Thiền cúi đầu: “Vương Kinh lược sai thiếp tới thị hầu cho thiên tuế ngon giấc. Người còn chưa ngủ được, tỳ tử nào dám đi nằm trước?”
Văn Tĩnh không hiểu ẩn ý của nàng, bèn nói: “Được rồi, ta về ngủ đây.”
Gã bước vào phòng, Nguyệt Thiền vào theo. Văn Tĩnh nói: “Ta sắp ngủ, cô theo ta làm gì?”
Nguyệt Thiền ngẩn người: “Thiên tuế không cho tỳ tử hầu hạ ạ?”
Văn Tĩnh đáp: “Ta có chân có tay, sao phải bắt cô hầu hạ?”
Nguyệt Thiền che miệng cười: “Thiên tuế thực biết đùa.”
“Ta đùa gì cô?” Văn Tĩnh gãi tai, thấy nàng cười đâm thắc mắc.
Nguyệt Thiền thở dài: “Thiên tuế ghét tỳ tử chăng? Tỳ tử tự biết mình xấu xí…”
“Ai ghét cô, cô rất đẹp mà!” Văn Tĩnh sốt sắng nói.
“Thật ư?” Hai má Nguyệt Thiền đỏ bừng lên dưới ánh nến, nàng áp đầu vào ngực Văn Tĩnh: “Thiên tuế…”
Văn Tĩnh giật lui, giữ lấy nàng hỏi: “Cô… không được khỏe ư?”
“Té ra thiên tuế vẫn ghét bỏ tỳ tử.” Mắt đỏ hoe, Nguyệt Thiền cúi mình: “Nếu vậy thiếp không quấy nhiễu người nữa.” Nói xong nàng quay đầu đi ra.
Văn Tĩnh đang thắc mắc, chợt nghe văng vẳng có tiếng hú dài, gã nhảy vọt ra ngoài, thấy trên mái nhà đằng xa có hai bóng người, một trước một sau, xẹt đến như chớp, ban đầu cự ly quá xa, nhưng chỉ chốc lát, người đằng sau đã đến gần.
Nguyệt Thiền mặt hoa thất sắc, nép sát vào người Văn Tĩnh: “Thiên tuế, gì thế kia?”
Văn Tĩnh cảm thấy thiếu tự nhiên, nhưng thân là nam nhi, không tiện lùi lại, bèn ưỡn thẳng người, nói lớn: “Đừng sợ!”
Gã chưa dứt lời, bóng đen đã từ mái nhà đáp xuống, đứng trong sân, đối diện với Văn Tĩnh. Hai bên cùng sững sờ, người nọ kêu lên: “Đồ ngốc, ngươi đấy à?”
Văn Tĩnh không ngờ còn được gặp lại nàng, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ đáp: “Tôi đây!”
Tiêu Ngọc Linh vận đồ dạ hành càng làm nổi bật nước da thắng tuyết, nghe Văn Tĩnh đáp với giọng thân thiết như vậy, nàng bất giác mềm lòng: “Ngươi vẫn nhớ ta ư?” Đảo mắt nhìn thấy Nguyệt Thiền bên cạnh gã, nàng nổi giận chửi: “Thì ra ngươi cũng một giuộc với bọn đàn ông vô sỉ khác!”
Văn Tĩnh nghe nàng mắng mình vô sỉ, không hiểu thế là ý gì, đương tần ngần lại thấy Bạch Phác phất tay áo rộng lướt tới như ngự gió, từ mái nhà đáp xuống, chân chưa chạm đất đã gập quạt điểm vào Ngọc Linh. Ngọc Linh trở tay búng ra một đao. Bạch Phác gõ cán quạt lên thân đao, lật mình chắn xuống trước mặt Văn Tĩnh, mỉm cười nói: “Ngươi to gan quá đấy, hôm nay có mọc cánh cũng đừng hòng thoát thân.”
Ngọc Linh phì một tiếng, vung đao lên trước toan đấu với Bạch Phác. Tiếng báo động nổi lên bốn bề, Văn Tĩnh lo cuống kêu: “Bạch tiên sinh…” Bạch Phác nghe gọi hỏi: “Thiên tuế có gì căn dặn?” Trong lúc hỏi y đã kịp chặn ba đao một cước của Ngọc Linh.
Văn Tĩnh vốn muốn xin Bạch Phác thả Ngọc Linh, vừa lúc lính gác ùn ùn đổ tới, huơ đao múa thương vây chặt hai người vào giữa, gã im bặt. Vương Lập bị kinh động cũng chạy đến, thấy vậy kêu: “Bạch tiên sinh! Ông lùi ra để quân sĩ bắt ả.”
Bạch Phác cười đáp: “Khỏi cần.” Y trở mình né một đao, quạt gấp bật khỏi tay áo, như con rắn mổ vào huyệt Nghênh Hương của Ngọc Linh. Cô gái nhảy tót sang trái, Bạch Phác dịch chuyển như du long, xoay mình một cái vòng ngay đến mé tả Ngọc Linh, quét tay áo rộng vào hông nàng. Ngọc Linh lảo đảo giật lui, lưng đụng vào một cây ngải hoa, khoé miệng rịn máu.
Văn Tĩnh cả kinh nhoài lên, Bạch Phác chìa tay ngăn lại. Gã thiếu niên chuyển bộ pháp, Bạch Phác tức thì chặn hụt, ngạc nhiên không hiểu ra sao. Trong lúc ấy Văn Tĩnh đã vùng đến bên Ngọc Linh, giơ tay đỡ nàng. Cô gái hừ mũi vung đao chém, Văn Tĩnh vội vã né tránh khiến nàng mất thăng bằng ngã nhào xuống đất, hai tên lính tiến lên toan bắt. Văn Tĩnh lắc mình, phất song chưởng, đẩy theo đà của hai tên đó, chúng ngã sấp mặt, mồm đầy đất cát.
Quan sát gã phô diễn võ công, Bạch Phác rất lấy làm kinh ngạc, tự hỏi: “Lộ công phu kia rõ ràng là của phái ta, thằng nhóc này học ở đâu thế nhỉ?”
Vương Lập gọi Văn Tĩnh: “Thiên tuế tránh ra đi, con giặc cái đó nguy hiểm lắm!”
Văn Tĩnh không đáp, cứ che chắn trước mặt Ngọc Linh.
Vương Lập và Bạch Phác nhìn nhau ngơ ngác, chưa biết xử sự thế nào. Đúng lúc ấy từ một góc có tiếng ho vọng ra, Văn Tĩnh giật thót liếc trông, gặp ngay đôi mắt tức giận của Lương Thiên Đức, đứng bên cạnh lão là Đoan Mộc Trường Ca và Nghiêm Cương. Cơ mặt gã thiếu niên giật giật, cuối cùng không chịu nổi ánh mắt của ông bố, gã bước dịch sang bên.
Bạch Phác rảo bước tới, bắt lấy Ngọc Linh. Vương Lập hỏi: “Thiên tuế, nên xử ả này thế nào?”
Bạch Phác liếc Văn Tĩnh. Gã trai gần như rơi nước mắt, khẽ nói: “Cô ấy đã bị thương rồi, đừng… đừng làm khó cô ấy…”
Ngọc Linh hơi thở rối loạn, nhưng khẩu khí vẫn rất quật cường: “Ai… ai cần ngươi thương hại?”
Vương Lập không nhận ra uẩn khúc bên trong, nói luôn: “Thiên tuế đã dạy như vậy, tạm thời nhốt ả vào thạch lao trong phủ.”
Bạch Phác nhìn Văn Tĩnh, gật gật đầu, điệu Ngọc Linh đi về hướng nhà giam. Văn Tĩnh trông theo hai người, bối rối chẳng biết làm thế nào.
oOo
Bá Nhan gò cương ngựa, tiếng vó câu gấp rút phía sau cũng chậm lại. Y phóng mắt nhìn thành quách nơi xa hồi lâu rồi nói vẻ cảm thán: “Hợp Châu thành như mãnh hổ phục bên dòng sông, như chim ưng đậu nơi đầu núi, dễ thủ mà khó công, không thể xem thường.”
A Thuật nhướng mày, hiu hiu tự đắc: “Đại quân Mông Cổ ta hễ tấn công là thắng, một cái thành này thì đáng kể gì?”
Bá Nhan cau mày hỏi: “Vậy phải tấn công thế nào đây?”
Khuôn miệng có hàng ria mép măng tơ của A Thuật cong lên quỷ quái, gã nói: “Mình tỏ vẻ yếu ớt, dụ quân Tống ra ngoài thành, sau đó cắt đứt đường rút lui của chúng, đánh cho tan tác trên đồng dã!”
Bá Nhan không nhận xét gì, thở dài nhìn dòng sông cuồn cuộn. Tên binh sĩ truyền lệnh bỗng từ đằng sau phóng ngựa tới, dõng dạc nói: “Ngột Lương Hợp Thai tướng quân có lệnh, hai người đóng trại cách Hợp Châu một trăm hai mươi dặm, chuẩn bị công thành!”
Bá Nhan biến sắc: “Sao gấp vậy?”
“Lệnh truyền được đấy!” A Thuật cười ha hả, mắt loé sáng: “Hôm nay phá Hợp Châu luôn.”
oOo
Văn Tĩnh lo âu đứng trên đầu thành, các tướng xúm quanh. Ở rất xa, giữa những quả núi trọc thù lù, dãy lều Mông Cổ trắng muốt trải dài nhấp nhô theo thế núi quanh co. Dưới thành gió thu rét mướt thổi tới, cuốn thốc bụi mù lên tan tác giữa trời.
Một nhịp Hồ già10 phiêu phất bốc khỏi mặt đất, hoà với tiếng trống da trâu tạo nên âm thanh kinh hồn giữa không trung. Từ đại doanh Mông Cổ, nhân mã ùn ùn kéo ra như nước triều. Ba vạn quân dàn hàng một tiến lên giữa những thân cỏ khô vàng, chiến mã hí vang trong gió thu hiu hắt. Đoàn quân Mông Cổ rùng rùng áp sát thành Hợp Châu.
Tiếng trống trận khiến Văn Tĩnh sực tỉnh. Quân Mông Cổ đẩy một cái thang mây11 to tướng đến, tựa vào sườn núi leo lên. Trên đầu thành đá nhám, hàng ngàn hàng vạn cung cứng nỏ mạnh đã kê vào các lỗ châu mai, máy bắn đá nong đầy đá cạnh nhọn, dây buộc vào những con lăn cũng đã được căng ra.
Thang còn cách thành chừng ba trăm bộ, hàng vạn lính Mông Cổ đã hò hét vang trời, ồ ạt xung phong. Tiếng bựt bựt cung tiễn và tiếng con lăn đá vần ồ ồ vọng lên khoảng trời trên triền núi. Chiến binh Mông Cổ bật kêu gào thảm thiết, tên mạnh xuyên qua những tấm giáp ngực bằng da thuộc của họ, mũ đồng lõm rúm dưới sức nặng của những tảng đá bay, máu thịt phòi ra khỏi kẽ hở của bộ áo, bắn toe toét xuống nền cỏ xanh. Loạt lăn gỗ nặng trịch đẩy bật ngửa cái thang mây cao lừng lững, đè nghiến xuống đám binh sĩ, chúng kêu lên những tiếng rách phổi. Văn Tĩnh đứng xem, hai chân bủn rủn, toàn thân đẫm mồ hôi, ba mươi sáu cái răng va nhau lập cập, gã cảm thấy những việc đáng sợ đã gặp trong đời chẳng đáng gì so với cảnh tượng này hết.
Gặp tên mạnh đá cứng, lính Mông Cổ dần dần chống đỡ không nổi, phải lùi lại phía sau. Quân Tống sĩ khí dâng cao, mấy vạn binh sĩ thủ thành nhất tề reo hò vang dội, tiếng reo hoà với tiếng sóng dập dồn nơi xa, ngân nga không dứt.
“Phiu”. Một ngọn tiễn dài lướt bóng qua vòm không, xuyên thủng người một tên lính phất cờ. Đại kỳ tuột tay người, đảo một cái trên cao, sau rớt xuống nền cỏ dại hoen máu.
Quân Tống vụt im phăng phắc, phóng mắt nhìn ra: trông thấy xa xa bên dưới có một con ngựa đen tuyền, vó tung bay, bờm lất phất, trên mình nó là một viên tướng áo bào xanh lam, tay giương cung cứng ngắm lên đầu thành. Chợt “Phiu” một tiếng nữa, ngọn tiễn thứ hai đã tới nơi, xuyên thấu người một tên lính bắn nỏ, đà tên không dừng ở đó, tiếp tục bay lút vào ngực một đồng đội đứng sau y.
Nghiêm Cương trố mắt thét to “Lại là hắn!”
“Có nhẽ đâu thế, hắn bắn tên kiểu gì...” Vương Lập hãi hùng kêu lên. Nên biết khoảng cách từ chỗ Bá Nhan đến đầu thành phải tới sáu bảy trăm bộ, huống hồ ở tư thế hướng lên cao, muốn tên cạp đích và mạnh đến vậy, ít nhất xạ thủ phải bắn được ở cự li một ngàn bộ. Trong thành Hợp Châu, ngoài cỗ Phá sơn nỗ12 do mười người điều khiển, những tay nỏ bình thường đừng mơ đến chuyện bắn xa như thế.
Vương Lập chưa dứt lời, mũi tên thứ ba đã cận kề. Bạch Phác nhanh tay tinh mắt nhoài lên trước, giơ quạt gấp gõ một cái, mũi tên mất hướng, bay chệch đi, xọc vào đầu một thân binh đứng sau Vương Lập.
Sau ba mũi tên, Bá Nhan đã phi ngựa tới trước hàng quân. Lính Mông Cổ phấn chấn cao độ, hò reo như vỡ trời, rầm rập tiến theo chiến mã của hắn.
Vương Lập ra một hiệu lệnh. Tên và đá liền trút xuống rào rào, Quân Mông Cổ đội mưa tiễn, lần thứ hai dựng thang lên. Dưới thành, xác chất thành đống máu me, người bị thương rên la đau đớn. Bá Nhan luôn tay bắn tên, mỗi lần tên bay, một người gục ngã, không bắn chệch lấy một lần, mặc dù vậy quân Tống trên thành vẫn chiếm được địa lợi, giằng co chừng nửa canh giờ, quân Mông Cổ dần dần lùi lại sau.
Hướng Tông Đạo thấy thế bèn thưa với Vương Lập: “Bọn Thát bải hoải rồi. Lúc này mà thúc quân tấn công nhất định giành được phần thắng, xin Kinh lược sứ hạ lệnh, cho phép thuộc hạ dẫn người đánh ra, bẻ gãy nhuệ khí của chúng.”
Vương Lập gật đầu hỏi Văn Tĩnh: “Thiên tuế thấy thế nào?”
Bạch Phác lúc đó đang đứng sau lưng Văn Tĩnh, nghe vậy nói: “Không được, quân Thát tuy đã tổn thất nặng nề, nhưng tiến lùi đều theo chương pháp, hoàn toàn không có dấu hiệu gì là chán nản bải hoải cả.”
“Đúng đấy.” Lương Thiên Đức cũng vuốt râu gật đầu: “Trận thế của chúng chưa rối loạn đến mức không rút quân một cách chỉnh tề được.”
Vương Lập lộ rõ oai quyền, cau mày gạt phắt: “Hai người chẳng qua chỉ là thủ hạ của thiên tuế, quốc gia đại sự đâu đến lượt các ngươi chen vào?” đoạn quay sang nói với Văn Tĩnh: “Cơ hội tốt như thế, lỡ rồi là mất.”
Văn Tĩnh nhủ bụng: “Bố thực đa sự, việc này liên quan gì đến chúng ta, cứ mặc kệ lão ấy đi.” Nghĩ tới đây, gã bảo: “Vậy thì làm theo đề xuất của Hướng thống chế.”
Thấy gã không chấp nhận ý mình, Bạch Phác thở dài. Lương Thiên Đức cũng cau mày, đột nhiên vòng tay nói: “Nếu Hướng thống chế không chê, Lương mỗ nguyện làm một quân tốt đen.”
Văn Tĩnh cả kinh, song không biết nên phản đối thế nào. Hướng Tông Đạo liếc Vương Lập. Vương Lập im lặng nhìn Văn Tĩnh. Cho rằng gã bằng lòng, ông ta chực lên tiếng đồng ý, vừa lúc Tiết Dung bước ra nói to: “Anh em tôi cũng võ vẽ mấy đường cung mã, không muốn ẩn nấp đằng sau, xin thiên tuế và Kinh lược sứ ưng thuận để chúng tôi theo Hướng thống chế, cùng quân Thát so tài cao hạ.”
Vương Lập quét mắt nhìn mọi người, cười bảo: “Thì ra Đại Tống toàn những nhiệt huyết nam nhi. Được! Các vị hãy cùng Hướng thống chế xuất kích, cho hoàng đế Thát nếm mùi oai phong của chúng ta.”
Mọi người dạ ran vâng lệnh. Cửa thành mở, tám ngàn quân tinh nhuệ ào ào lướt ra, hệt như mũi đao sắc bén. Đại quân Mông Cổ đang rút lui lập tức bị cắt đứt thành hai, cung nỏ tên bắn rào rào, binh sĩ kêu gào thảm thiết, tiếng gào thấu tận trời xanh. Hướng Tông Đạo ra lệnh biến trận, mũi tấn công vừa thọc sâu lập tức rút về, để lại một vạn kẻ địch tơi bời hỗn loạn. Lương Thiên Đức mình vận nhuyễn giáp, phi ngựa hàng đầu, tay cầm trường thương, múa tựa tuyết bay, tấn công như vũ bão.
Lữ Đức buột miệng thốt: “Thương pháp giỏi lắm!”
Trên thành, thấy quân Mông Cổ rối loạn, mọi người cũng hớn hở, xôn xao khen ngợi. Văn Tĩnh chỉ quan tâm đến sự an nguy của cha, tay chống vào lan can lạnh ngắt, chăm chú theo dõi. Tuy chưa chinh chiến bao giờ, nhưng gã rất giỏi quan sát tình thế để từ đó suy đoán tâm ý đối thủ. Quan sát một lúc, gã bỗng nhận ra đại quân Mông Cổ có vẻ rối loạn, thực ra nửa như vô tình nửa như cố ý, đang lùi đến phía dưới thành Hợp Châu.
“Không hay rồi.” Trong lòng Văn Tĩnh gợn lên một ý nghĩ đáng sợ: “Chẳng lẽ là…” tức thì mồ hôi lã chã, gã gọi Vương Lập: “Mau mau thu binh…”
Vương Lập định tăng viện xuất kích đánh gãy cánh quân tiên phong kia, chợt nghe Văn Tĩnh bảo thu binh, ông ta thắc mắc muốn hỏi, bỗng một hồi tù và rúc lên xé rách vòm không, trận chiến dưới thành đột ngột thay đổi ghê gớm. Quân Mông Cổ dịch chuyển nhanh như chớp, từ một tách làm hai. Bá Nhan chạy cánh trái, A Thuật chạy cánh phải, vạch thành hai vòng cung trơn mịn trên trận địa, cách li tám ngàn quân của Hướng Tông Đạo khỏi thành Hợp Châu. Bá Nhan căng cung. Mũi tên bắn đi, xuyên qua chiếc khôi toả tử liên hoàn13 của Hướng Tông Đạo, mất lút vào trong đầu y. Khôi giáp của Hướng Tông Đạo làm bằng thép lạnh tinh luyện, cứng lạ thường, mũi tên tuy lún vào thịt bốn phân nhưng vẫn chưa đến nỗi chí mạng. Hướng Tông Đạo nhịn đau dẫn quân đột phá vòng vây. Thình lình A Thuật lao vào qua hàng người, vung thương đâm thẳng vào mặt y. Hướng Tông Đạo mặt mày đầy máu, lộn nhào từ trên ngựa xuống, lập tức nhão thành thịt nát dưới chân đám loạn quân.
Chủ tướng táng mạng, binh sĩ hoang mang. Quân Mông Cổ một trái một phải, như hai con rồng khổng lồ, tiến lùi quẫy động, cung tiễn đao thương tràn đi như chẻ tre. Quân Tống vỡ trận, máu thịt tơi tả, tử thương vô số. Sĩ khí Mông Cổ dâng cao, tiếng trống da trâu vang rền như sấm, Hợp Châu rung chuyển theo, chư tướng trong thành ai nấy tái mét mặt.
Lương Thiên Đức quất thương thúc ngựa phi nước đại, lại lấy cung tiễn ra, liếc thấy một viên Thiên phu trưởng, lão vừa phi vừa bắn. Kẻ đó ngã nhào. Lương Thiên Đức vung thương hú dài: “Theo ta.”
Quân Tống bị đánh giết, mười phần thiệt đến bốn, sáu phần còn lại cũng như rắn mất đầu, chạy quáng chạy quàng, nghe thấy tiếng hú gọi, không màng phân biệt thật giả, phần lớn đều lao theo lão. Ở phía đó quân Mông Cổ mất thủ lĩnh, tinh thần tạm thời hơi rối loạn. Lương Thiên Đức thúc ngựa phi, bắn tên hai bên trái phải, mau chóng giết chết mười người, quân Tống theo sau phấn khởi, cùng dốc sức phá được một lỗ nhỏ trong vòng chiến cứng và rắn như cái thùng thép của Mông Cổ.
Bỗng tiếng tên bắn lăng lệ vô tỉ rít vang. Bá Nhan đã tới!
Như có mắt sau lưng, Lương Thiên Đức lật tay múa cung. Mũi tên mạnh đến mức tưởng chừng xuyên thủng đá vàng đâm nghiến vào cánh cung lão. Liền đó lão cúi rạp mình, để mũi tên thứ hai của địch nhân bay sượt qua đỉnh đầu. Khôi rơi xuống đất, mái tóc hoa râm theo gió tán tác bay.
Kinh hoàng, nhưng không khiếp nhược, Lương Thiên Đức rùn người bắn trả bằng chính mũi tên của đối phương. Bá Nhan né mình tránh, chưa kịp hồi thủ, từ sau lưng đã xẹt tới ba ngọn tiễn như lưu tinh. Người xuất thủ chính là anh em họ Tiết.
Cặp mắt tròn loé sáng, Bá Nhan lật tay, nhẹ nhàng bắt gọn ba mũi tên. Tiết gia huynh đệ thảng thốt thầm nghĩ: “Thủ pháp quen thuộc quá.” Bá Nhan hành động nhanh như chớp, không đợi họ phát loạt tiễn thứ hai, y đặt luôn ba mũi tên lên cánh cung dài sáu thước.
“Phiu phiu phiu…” Giữa bốn người, sáu ngọn tiễn cùng lúc rời cung, lao vào nhau. Tiễn Bá Nhan mang cường lực kinh thế hãi tục, đâm gãy loạt tên của anh em họ Tiết, gạt chúng rơi hết xuống đất. Kế đó đà bay vẫn mạnh, ba mũi tên tiếp tục lao thẳng đến ba người. Chuyện xảy ra quá đỗi bất ngờ, Tiết Phương lắc mình không kịp, bị tên xuyên ngực, chết tốt.
Tiết gia huynh đệ xuất thân thợ săn. Từ ngày vào nghề, đi rừng luyện võ đến khởi nghiệp mưu sinh, họ đều bên nhau, ba người mà chẳng khác nào một thể. Tiết Phương táng mạng, hai anh em còn lại lòng đau như cắt, lập tức cùng xốc ngựa phóng chếch đi, ép cánh Bá Nhan từ hai mé, phát tiễn liên châu. Bá Nhan thúc chân khiển ngựa, phi vòng tròn, tay trái giương cung, tay phải khua nhẹ, gạt rơi bốn mũi tên, đón lấy rồi nhanh như chớp đặt chúng lên dây cung.
Tiết Dung nhận ra Như Ý Ảo Ma thủ, thầm nghĩ “Tên Thát đó là đồng bọn của gã áo đen…” Ý nghĩ chưa trọn, một mũi tên đuôi lông vũ đã bắn tới như sấm sét, xé rách yết hầu hắn. Tiết Dung ộc ra một màn máu, còn kịp liếc thấy ở đằng kia Tiết Công vừa ngã xuống, móng ngựa lập tức dẫm lên đầu y, óc trắng máu đỏ phọt tung toé.
Lương Thiên Đức dẫn nhóm tàn quân đột phá vòng vây, thi triển thương pháp tinh tuyệt tả xung hữu đột, giết liền mấy tướng, vừa đánh vừa lùi. A Thuật cho quân tấn công vu hồi, cố sức khoá đường rút, bản thân gã múa thương nghênh đón Lương Thiên Đức. A Thuật tuổi còn nhỏ nhưng thương pháp thực không thể xem thường. Gã múa thương như giao long xuất hải, chiêu thế kỳ quái, đấu một trận ngang ngửa với ông già.
Vương Lập quan sát tình hình, lại phái thêm quân ra ngoài thành cứu viện. Mấy vạn người chém giết nhau từ chiều tới tối mịt. Binh tướng Mông Cổ kiêu dũng, quân Tống không dám giằng co lâu, dần dần rút chạy. Ngột Lương Hợp Thai đứng quan chiến, liệu chừng hôm nay khó bề giành được lợi thế gì hơn nữa, nếu đuổi theo nhất định sẽ hứng loạn tiễn trên bờ thành trút xuống, ông ta bèn hạ lệnh thu binh. Sau trận đấu, song phương đều tổn thất trầm trọng, có điều, Mông Cổ chưa dùng tới tinh binh mà tám ngàn quân tinh nhuệ của Đại Tống thì đã thiệt hại quá nửa, đúng là chó cắn áo rách.
Quân Mông Cổ từ từ rút lui. Đám tướng lĩnh trên đầu thành Hợp Châu trái tim trĩu nặng, thở không ra hơi. Vương Lập nhìn Lương Thiên Đức trong bộ áo giáp nhuộm máu, nản lòng vô cùng, đau xót than: “Hôm nay không nghe lời Bạch tiên sinh nên tổn thất đến mức này, cũng may nhờ Lương tráng sĩ chèo chống, bằng không… ôi…” Quay sang Văn Tĩnh, ông ta ôm quyền, “Xin thiên tuế trách phạt.”
Văn Tĩnh thấy cha bình an vô sự thì rất mừng rỡ, đừng nói gã không dám trách phạt, mà dù có cái quyền ấy thật, chưa chắc gã đã muốn truy cứu, liền lắc lắc đầu, đi thẳng xuống thành.
Về đến phủ Kinh lược, thị nữ dâng sơn hào hải vị, cơm rượu thịnh soạn, Văn Tĩnh gắp mấy miếng rồi gác đũa sang một bên, chống má trầm tư.
Nguyệt Thiền dè dặt hỏi: “Cơm nước không ngon ư?”
Văn Tĩnh thở dài: “Cô không hiểu đâu.”
“Vì mỹ nhân áo đen đó phải không?” Nguyệt Thiền nói, giọng xa xót.
Văn Tĩnh ngạc nhiên: “Sao cô biết?”
Nguyện Thiền khẽ than: “Đêm qua khi thiên tuế gọi nàng, thiếp nghe rất rõ, sau đó thiên tuế lại công khai bênh vực nàng…”
Văn Tĩnh nhợt mặt: “Ta… ta…”
Nguyện Thiền nhẹ nhàng nói: “Thiên tuế buồn bã thế này, lòng Nguyệt Thiền cũng không được vui. Người đã mến thích, vì sao không trực tiếp đi gặp nàng?”
“Liệu có được không?” Văn Tĩnh gấp rút hỏi.
Nguyệt Thiền cười: “Sao mà không được, ai dám ngăn cản người đây?”
Văn Tĩnh ngẩn mặt, sực hiểu: “Rõ hồ đồ, hiện tại ta là Hoài An vương kia mà!”
Nghĩ tới đó, gã co cẳng chạy, mới được vài bước lại quay ngoắt về, nhặt mấy món ăn nhẹ màu mè trên bàn ôm vào ngực. Nguyệt Thiền thắc mắc, ngạc nhiên nhìn gã. Văn Tĩnh đỏ mặt, lúng túng bảo: “Với tính khí của nàng ấy, nhất định đến hôm nay cũng chưa chịu ăn uống gì.” Nói rồi chạy biến đi.
“Thiên tuế thực có lòng.” Nguyệt Thiền nhìn theo bóng gã, lắc đầu cười buồn.
Đến được gần nhà lao mà không bị ai cản trở, bỗng trông thấy Bạch Phác từ phía trong đi ra, Văn Tĩnh vội vàng chạy đến nấp bên hòn giả sơn. Bạch Phác cau mày, tựa hồ có điều phiền muộn, thở dài đi xa dần. Văn Tĩnh đợi y khuất dạng mới bước ra. Lính gác gặp thiên tuế, tự nhiên không dám căn vặn. Văn Tĩnh theo hành lang đi vào, tường đá rêu lên xanh rờn, không khí rất ẩm ướt. Nhòm qua khe cửa nhà lao, Văn Tĩnh trông thấy Ngọc Linh thần sắc tiều tụy, quanh mình quấn ba sợi xích sắt to, hai sợi ở tay, một ở chân, bên cạnh đặt ít thức ăn, quả nhiên chưa hề động đến. Gã bất giác xót xa, tự nhủ: “Cô đến làm gì? Thứ thiên tuế giả hiệu như tôi đây làm sao mà cứu được cô!”
Gã đẩy cửa vào. Ngọc Linh lạnh lùng liếc mắt, hừ một tiếng, ngoảnh phắt đầu đi. Văn Tĩnh đứng ngẩn ra một lúc rồi đặt hộp điểm tâm xuống đất, nói: “Tiêu cô nương! Tôi mang cho cô vài món ăn nhẹ, cô ăn đi, đừng để đói quá hại người.”
“Đồ vô liêm sỉ!” Ngọc Linh nhìn gã giận dữ “Ta không cần ngươi thương hại.”
“Tôi thế nào mà vô liêm sỉ?” Văn Tĩnh kêu lên oan ức.
Ngọc Linh thét: “Còn xảo biện? Đêm qua ngươi kè kè bên con bé đó, không vô liêm sỉ thì là gì?”
Văn Tĩnh ngây người, mãi mới nhớ ra: “Ý cô nói Nguyệt Thiền cô nương phải không?”
“Nguyệt Thiền cô nương? Gọi thân mật quá nhỉ!”
“Nguyệt Thiền cô… à không, cô ta… cô ta chỉ hát cho tôi nghe thôi mà, có… có… quan hệ gì với tôi… vô… vô liêm sỉ đâu?” Văn Tĩnh cuống quýt nói líu cả lưỡi, nước mắt chực tuôn rơi.
Ngọc Linh nhìn gã hồi lâu: “Đúng không đấy? Thực ngươi không ngủ với ả chứ?”
“Ngủ?” Văn Tĩnh trố mắt: “Tôi… đâu có?”
Ngọc Linh nhoẻn cười, nhưng lại ngưng ngay, nghiêm mặt nói: “Đàn ông các ngươi cùng một hạng tồi tệ, cũng như đám vương công Mông Cổ kia, toàn những kẻ vô liêm sỉ, chỉ giỏi ức hiếp phụ nữ, ép buộc đàn bà con gái ngủ với mình!” Sau những lời ấy, chừng như xúc động can tràng, mắt nàng đỏ lên, rầu rầu nói: “Mẹ bị thằng khốn nạn đó cưỡng bức, đẻ ra thứ nghiệt chủng là ta. Về sau thằng khốn nạn có nhiều thú vui mới, tìm đủ mọi cách rũ bỏ người. Mẹ treo cổ tự tận, để lại một mình ta, nếu không có sư phụ, thì ta…” Nói tới đây, nàng bật khóc.
Văn Tĩnh nghe khóc đâm luống cuống, vụng về giơ tay áo đến trước mặt Ngọc Linh toan giúp nàng lau nước mắt, nhưng bị gạt phắt đi. Nhìn nàng nức nở bi thương, gã thấy buồn không chịu nổi, bèn lắp bắp nói: “Tiêu… Tiêu cô nương, tôi xin thề với trời, nếu tôi ngủ… ngủ với đàn bà con gái, thì sẽ bị loạn tiễn xuyên tâm, mất mạng dưới thành Hợp Châu này.” Nhớ lại những cảnh tượng rùng rợn chết chóc hồi ban ngày, gã bèn lấy ngay ra thề độc như vậy.
Ngọc Linh đỏ mặt: “Ngươi… ngươi ngủ với ta thì có sao?”
Văn Tĩnh mù tịt chuyện nam nữ, nghe hỏi vậy trố mắt: “Ừ nhỉ, với cô thì có vấn đề gì đâu?”
Ngọc Linh là người Mông Cổ, không bị lễ giáo câu thúc, lại sinh trưởng trong nhà vương hầu, cũng hiểu biết đôi chút về những chuyện tương tự, chỉ là chưa thực sự rành rõ lắm mà thôi. Nghe Văn Tĩnh ngớ ngẩn hỏi lại như vậy, không kìm được, cô phì cười.
Văn Tĩnh hiểu lầm, đỏ mặt tía tai “Cô… cô cười… cười cái gì. Tôi… tôi nói thật đó, cô… không tin sao?”
Ngọc Linh gắng nhịn cười, dịu dàng nói: “Ta tin chứ. Ngươi lại đây.”
Văn Tĩnh ngẩn mặt, tiến tới.
“Xắn áo lên, chìa tay ra.”
Văn Tĩnh y lời.
Ngọc Linh bỗng cắn một cái. Văn Tĩnh đau quá suýt thét lên, nhưng sợ đánh động bọn thị vệ ngoài cửa, gã cố nén, nghiến răng nghiến lợi hỏi: “Cô… cô làm gì vậy?”
Ngọc Linh nhả ra, khuôn mặt thoáng nét cười: “Lừa ngựa Mông Cổ đều mang dấu nung của chủ trên mình, ta cũng đóng cho ngươi một cái. Từ nay về sau, ngươi là của ta, không ai đánh cắp được nữa.”
Nhìn hai hàng dấu răng hình bán nguyệt in trên bắp tay, Văn Tĩnh dở khóc dở cười. Ngọc Linh ngả đầu vào ngực gã. Hương thơm từ thân thể người thiếu nữ len vào mũi Văn Tĩnh, gã thấy máu nóng bừng bừng, trống ngực đập thình thịch, nhưng không dám động đậy, cứ đứng cứng đờ như một tảng đá. Ngọc Linh êm ái hỏi: “Mình có biết vì sao em tới đây không?”
Văn Tĩnh khó khăn lắm mới giữ được nhịp thở: “Đến giết người chứ gì?”
“Ngốc quá!” Ngọc Linh lườm gã, dịu dàng nói: “Thực ra em, em nhớ mình.” Con người nàng mang tình cảm phóng khoáng của đại mạc, dám yêu dám hận, nghĩ sao nói vậy. Văn Tĩnh nghe mà sững sờ.
“Lúc mình ở bên thì không cảm thấy.” Ngọc Linh thủ thỉ “Mình đi rồi, chẳng hiểu sao, em chỉ những nghĩ đến mình. Em… em nhớ mình, trốn sư huynh, chạy khắp nơi tìm mình… Ừ, trời cũng thương tình, em tìm mất hai ngày, cuối cùng đã tìm thấy!” Nói tới đây, nụ cười nở bừng trên khuôn mặt trắng trẻo của nàng, tuôn vào mắt Văn Tĩnh như sóng gợn, tỏa rộng ra trong trái tim gã. Văn Tĩnh bỗng chốc thần người.
Im lặng hồi lâu, gã lóng ngóng bảo: “Ăn… ăn tí điểm tâm đi!”
Ngọc Linh nhìn gã tủm tỉm: “Em bị trói này, ăn thế nào được?”
Văn Tĩnh nghệt mặt.
Ngọc Linh không nhịn được cười “Ngốc thế, không biết đường bón cho em ư?”
“A… được… à!” Văn Tĩnh tay chân luống cuống, làm thức ăn vãi tung tóe ra sàn, tức thì mặt nhăn như bị: “Đáng chết, tôi thật đáng chết!”
“Đừng lo, mình nhặt lên cho em đi.” Ngọc Linh nói. Văn Tĩnh lắc đầu: “Bẩn lắm, ăn sao được?”
Ngọc Linh mỉm cười, mắt lấp lánh: “Chỉ cần là do mình nhặt, bất kể bẩn thế nào, em cũng ăn.”
Văn Tĩnh sững người, nhặt thức ăn lên, phủi bụi đất bám bên trên, nhẹ nhàng đưa tới miệng Ngọc Linh.
Ngọc Linh ngoạm lấy, suýt chút nữa là cắn cả vào đầu ngón tay Văn Tĩnh. Nàng tỏ ra rất vui “Ngon thật, cả ngày trời không ăn, đói chết mất.”
Văn Tĩnh xoa xoa đầu ngón tay, nhăn nhó, nhặt từng miếng bánh dẻo phủi thật sạch, đưa vào miệng Ngọc Linh. Hai người bên nhau chẳng nói chẳng rằng, một người bón, một người ăn. Trong thạch thất nhỏ lạnh và ẩm ướt, ý xuân bỗng đượm nồng nàn.
“Ngốc này!” Ngọc Linh nói: “Miệng mình để ruồi bâu à? Kể chuyện cho em nghe đi!”
Văn Tĩnh đang nghĩ cách cứu nàng, không tìm ra kế gì, nay nghe nàng nói vậy, đành gật đầu, xoay sang kể chuyện. Hôm nay tâm trạng gã thơ thới khác thường, kể chuyện cũng có duyên lạ, Ngọc Linh khúc khích cười mãi. Cứ thế, đôi người chìm đắm vào đó, quên hết mọi sự xung quanh.
Chẳng biết mất bao lâu, lúc Văn Tĩnh bước ra khỏi thạch thất, trúc đã ngả bóng, trăng sáng trên cao.
Gã đi được mười mấy bước thì đụng phải Bạch Phác vừa từ chỗ tối nhô ra, vẻ mặt cổ quái: “Thiên tuế.”
“A! Bạch tiên sinh.” Văn Tĩnh có tật giật mình, vội hỏi: “Chuyện gì thế?”
“Đêm qua thiên tuế hiển lộ võ công, lợi hại lắm.” Bạch Phác phe phẩy quạt. “Chẳng hay người học ở đâu?”
Văn Tĩnh cũng không định giấu: “Thầy ông dạy tôi.”
Bạch Phác biến sắc: “Quả nhiên không nhìn lầm, phải chăng là Tam tài Quy nguyên chưởng?”
Văn Tĩnh gật đầu. Bạch Phác đi mấy bước, ngửa mặt than: “Môn võ công đó ta luyện mất một tháng, trước sau vẫn không sao nhập môn được, nhất là tâm pháp, thực huyền ảo. Thầy nói ta không đủ cơ duyên, không luyện được công phu ấy, chẳng ngờ người lại truyền cho em.”
Văn Tĩnh chỉ những muốn đi, bèn nói: “Nếu không còn việc gì khác, tôi đi nhé.”
Bạch Phác chực nói lại thôi, hồi lâu mới bảo: “Hôm ấy em mất tích, Lương tiên sinh lo lắng không yên. Em đừng để ông ấy phải thấp thỏm.”
Văn Tĩnh đỏ mặt: “Tôi sẽ không thế nữa.” Rồi quay đi. Bạch Phác nói với theo: “Nắm được con nhóc đó, đối phó với Tiêu Lãnh sẽ dễ dàng hơn nhiều. Mong thiên tuế chớ làm hỏng đại sự.”
Văn Tĩnh lạnh toát người: “Lão ta biết rồi hay sao?”
Bạch Phác nói: “Nhưng con bé đó không chịu ăn thứ do người khác đưa tới, e rằng thiên tuế phải chăm lo cho nó ít nhiều.”
Văn Tĩnh thẹn quá hóa giận: “Ông nhìn trộm à?”
Bạch Phác cười khẩy: “Nếu thuộc hạ không đuổi bọn vệ binh đi, thiên tuế há được tự do như thế? Thuộc hạ chỉ muốn nhắc nhở thiên tuế, hãy nhớ địa vị của mình, đừng lún sâu quá độ.” Nói đoạn phất tay áo rộng, thong thả bước đi.
Vì mấy câu nói của Bạch Phác, Văn Tĩnh trằn trọc cả đêm. Hôm sau gã lại gắng gượng đến nhà lao đưa cơm nước. Nguyệt Thiền cũng nhanh nhẹn, đã chuẩn bị xong suất cơm từ sớm rồi.
Ngọc Linh gặp Văn Tĩnh, tất nhiên mừng rỡ vô cùng, cứ quấn lấy gã nói đủ chuyện trên trời dưới bể.
Văn Tĩnh cố làm bộ vui tươi, nhưng trong dạ phập phồng lo âu, chẳng biết thành trì có giữ nổi không, cũng chẳng biết làm thế nào để cứu được Ngọc Linh ra, cảm thấy con đường trước mặt thật mờ mịt, gã phấp phỏng vô cùng, kể chuyện một lúc bỗng thở dài.
“Chàng ngốc! Mình không vui à?” Mắt lấp lánh, Ngọc Linh hỏi với vẻ quan tâm.
Văn Tĩnh không giấu được, bèn thổ lộ gan ruột.
Ngọc Linh nín lặng hồi lâu, vùi đầu vào ngực gã, dịu dàng nói: “Đừng cả nghĩ! Dù Mông Cổ hay người Tống thắng, em cũng cam lòng ở lại đây, không đi đâu hết. Chỉ cần… chỉ cần ngày ngày được gặp mình, thì dẫu mai kia có bị loạn đao phanh thây, em cũng không sợ…”
Văn Tĩnh bịt miệng nàng: “Đừng… đừng nói thế! Em chết thì tôi cũng không sống được nữa! Anh còn sống, nhất định không để em chết…” Nói đến câu cuối, giọng gã chắc như đinh đóng cột, lòng hạ quyết tâm, thề chết cũng phải lo cho Ngọc Linh chu toàn.
Ngọc Linh nhìn gã hồi lâu, bỗng nhoẻn cười, nói khẽ: “Đúng là ngốc!”
Từ xa vọng tới âm thanh ầm ầm như núi lở.
Ngọc Linh thắc mắc hỏi: “Gì thế?”
Văn Tĩnh chăm chú lắng nghe: “Quân Mông Cổ đang công thành đấy!”
Ngọc Linh rùng mình, nép sát vào người Văn Tĩnh. Gã thiếu niên vòng tay ôm lấy nàng, họ cùng im lặng.
oOo
Liên tiếp mấy ngày, A Thuật đều tới trước thành khiêu chiến, nhưng quân Tống không dám khinh suất ra đánh. Lương Thiên Đức vừa lập được đại công, Vương Lập rất lấy làm trọng, lệnh cho lão tạm thời thay thế chức vụ của Hướng Tông Đạo, điều khiển gần một vạn quân mã. Mọi người đều có việc của mình, Văn Tĩnh không bị ai để ý, tự nhiên bạo dạn lên rất nhiều, thêm vào đó không phải lo chiến trận, gã bèn tự tạo lấy niềm vui. Ngoài những lúc quanh quẩn bên Ngọc Linh, gã chú tâm rèn giũa chỗ ảo diệu của Tam tài Quy nguyên chưởng. Vốn dĩ bập bõm những nguyên tắc luyện võ, gã cũng không lấy thế làm chán ghét, thắc mắc chỗ nào, lại bàn luận với Ngọc Linh.
Ngọc Linh tuy không nắm được chỗ huyền ảo của Cửu cung đồ, nhưng nhờ thụ giáo ở một đại cao thủ thuộc dạng hiếm hoi trong thiên hạ, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, võ nghệ nàng chưa hẳn lợi hại, song kiến thức võ học thì rất rộng, nghe Văn Tĩnh mô tả những chỗ khó, nàng nhận ra ngay yếu lĩnh, lại thấy Văn Tĩnh tin tưởng mình, nàng cũng chẳng giấu giếm gì mà không chỉ dạy, nghiễm nhiên trở thành sư phụ của Văn Tĩnh, hướng dẫn hết mình. Kể chuyện mệt rồi, hai người miệng nói tay so, biểu diễn võ công. Ngọc Linh muốn giúp gã hiểu được các yếu lĩnh, trước tiên đem chiêu thức võ công của môn phái mình ra thị phạm, sau đó lại cùng Văn Tĩnh nghiền ngẫm cách né tránh, phá giải.
Nên biết, Công Dương Vũ và Tiêu Thiên Tuyệt như nước với lửa, tương khắc cả về mặt võ công, nhưng âm – dương, trái – phải, trong tương khắc luôn có tương sinh. Võ công của hai người họ nếu va chạm thì khó phân cao hạ, nhưng nếu cọ xát tương hỗ thì có kết quả kỳ diệu phi thường. Kết quả ấy, chính Tiêu Thiên Tuyệt và Công Dương Vũ chưa chắc đã nghĩ tới, hoặc căn bản không muốn nghĩ tới, nhưng lúc này Ngọc Linh và Văn Tĩnh không hiềm môn hộ khác biệt, đã phát huy sự phối kết đến cực điểm, nhất là Văn Tĩnh đang trong giai đoạn tiến triển nhanh, nhờ thế mà tinh tiến thần tốc, vượt quá mọi sự hình dung.
Mấy ngày như vậy trôi qua. Một hôm Văn Tĩnh và Ngọc Linh đang cùng mài giũa về võ học, chợt nghe tiếng chốt cửa lách cách, đều kinh ngạc vô cùng. Giọng Bạch Phác vang lên bên ngoài: “Thiên tuế! Thuộc hạ có chuyện bẩm báo.”
Văn Tĩnh đỏ mặt đi ra, thấy Bạch Phác bộ dạng nghiêm nghị, khác hẳn mấy buổi trước. Y khom mình thi lễ, trầm giọng nói: “Hoàng đế Mông Cổ tới!”
Hết chương 5
Chú thích
14351436 Tên một bài thơ của Lý Bạch.
Tôi tìm trên mạng được hai bản dịch tiếng Việt bài thơ này, một của Hoa Sơn, một của Nguyễn Tâm Hàn, tôi thích bài dịch của Hoa Sơn hơn mặc dù 4 câu cuối nghe không được êm lắm, nó như sau:
CHIẾN ĐẤU Ở THÀNH NAM
Vừa năm ngoái Tang Càn đẩm máu
Đến năm nay loạn náo Tân cương
Điều Chi sóng rửa giáo thương
Thiên Sơn cỏ tuyết ngựa thường đói ăn
Ngoài muôn dặm chiến tranh dai dẳng
Thảy ba quân tóc trắng già nua
Hung dùng máu đổi cày bừa
Đồng hoang xương trắng nghìn xưa rõ rành
Xây phòng bị, Tần triều chống giặc
Phong hỏa lầu xưa rực Hán gia
Lửa binh lệnh hiệu chẳng nhòa
Dặm trường chinh chiến khó mà đoạn ngưng
Quân sĩ chết trong lần giáp chiến
Ngước nhìn trời ngựa trận hí vang
Quạ diều mổ xác từng đàn
Bay tha ruột vướng máu loang cây cành
Giờ như bãi tha ma gió lộng
Bại tướng kia một bóng thẩn thờ
Mới hay binh khí hung đồ
Thánh nhân tuyệt lộ sa cơ mới dùng.
(Nguyên tác: Phiên âm Hán Việt:
Khứ niên chiến, Tang Càn nguyên, Kim niên chiến, Thông Hà đạo.
Tẩy binh Điều Chi hải thượng ba, Phóng mã Thiên Sơn tuyết trung thảo.
Vạn lý trường chinh chiến, Tam quân tận suy lão.
Hung nô dĩ sát lục vi canh tác ; Cổ lai duy kiến bạch cốt hoàng sa điền.
Tần gia trúc thành bị Hồ Xứ, Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên.
Phong hỏa nhiên bất tức, Chinh chiến vô dĩ thì.
Dã chiến cách đấu tử, Bại mã hào minh hướng thiên bi.
Ô diên trác nhân trường, Hàm phi thướng quải khô thụ chi.
Sĩ tốt đồ thảo mãng, Tướng quân không nhĩ vi.
Nãi tri binh giả thị hung khí, Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi)
15081509 Câu cá
15121513 Nằm ở phía đông nam huyện Vọng Giang tỉnh An Huy ngày nay, vốn là nước băng tan từ Hoàng Mai, Túc Tùng chảy ra, đến vùng này thì tụ lại thành ao.
15171518 Xuân sam nghĩa như thanh sam. Vì vậy còn nói Tư mã xuân sam (cũng như Tư mã thanh sam trong Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị: Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh)
15221523 Bài từ theo điệu Giá cô thiên của Yến Kỷ Đạo.
Yến Kỷ Đạo (1040-1112), tự Thúc Nguyên, hiệu Tiểu San, người Lâm Xuyên - Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Thúc Nguyên là từ nhân thời Bắc Tống, từng làm quan viên nhỏ ở nhiều nơi, cuối đời dưỡng già tại quê nhà. Từ của ông có ý vị cảm thương, tập hợp trong “Tiểu San từ”.
Tôi không có khả năng dịch từ nên tạm dịch nghĩa như sau:
Say rượu, vuốt tấm áo xanh vẫn thấy vương mùi hương cũ
Trời cứ khiến kẻ cuồng này sầu khổ vì biệt ly
Mỗi năm cỏ buồn lại mọc trên lối đi
Ngày ngày ngôi lầu lại đón lúc chiều xuống.
Mây mịt mờ, nước mênh mang,
Chinh nhân trở về đường còn rất xa
Tương tư làm sao nói cho cạn,
Viết không hết cũng đừng hoài công khóc với tờ thư.
15461547 Nguyên văn Hán Việt:
Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.
Hai câu trong Yên ca hành của Cao Thích, trích bản dịch thơ của Trần Trọng San.
15561557 Thể từ có lẽ lạ tai với nhiều bạn nên tôi làm chú giải (Chú giải này tham khảo một post của người bạn tôi là Tân Nguyệt, đăng trên Trái tim Việt Nam 5 năm về trước).
Từ là một thể loại văn học xuất phát từ các điệu hát cổ, thịnh hành nhất vào đời Tống. Tên mỗi điệu từ là tên một điệu hát, chẳng hạn như Giá cô thiên, Niệm Nô kiều, Túy hoa âm, Mãn đình phương, Lâm giang tiên… Người ta đặt từ sao cho khớp với nhạc, nên gọi là điền từ (Để dễ hình dung, bạn có thể liên hệ đến việc đặt lời mới cho các điệu chèo cổ của ta như Quân tử dịch, Sử bằng, Đò đưa, Tò vò, Nhịp đuổi, Du xuân, Đào liễu, Ngâm bốn mùa…). Chính điều này đôi khi làm bó buộc sự sáng tạo trong từ. Nhưng bù lại, sự phong phú của vần điệu và câu chữ trong từ lại làm cho nó có những âm điệu riêng rất thú vị mà thơ không có.
Từ được chia ra nhiều phái. "Kinh điển" của Từ là phái Hoa gian (nổi tiếng có Liễu Vĩnh, Tần Quán,...), gồm những chủ đề đậm mùi son phấn, nhưng cũng không ít những khúc nhạc thanh tao. Phái Hào phóng (đứng đầu là Tô Thức) mang một màu sắc khác, phóng khoáng hơn, thoát tục hơn... Sang thời Nam Tống, từ yêu nước của Nhạc Phi, Tân Khí Tật cũng rất nổi tiếng... Những người làm từ được gọi là Từ nhân (tương tự như làm thơ thì được gọi là Thi nhân).
15641565 Tôi tạm dịch nghĩa:
Lệ sầu ly biệt rơi theo dòng chảy về đông, chia tay bên núi biếc
Trăng xanh mờ ảo chiếu xuống nhân gian, nhớ năm xưa đã trải bao buồn vui.
Mây nước thăm thẳm hắt ánh nắng, cây cỏ bên trời ảm đạm;
Tiếng chim hồng quạnh quẽ giữa những lớp mây, chẳng thấy đâu bóng quê nhà.
Việc can qua diễn ra khắp nơi, mặt trời lặn, gió thổi mây tan.
Trở về tỉnh giấc mộng hoàng lương, thấy bên gối đầm đìa nước mắt.
15801581 Xem Tam Quốc
15841585 Hồ già là một loại nhạc cụ hơi của người Mông Cổ, theo thời gian nó được tách ra rất nhiều dòng khác nhau. Bạn có thể xem ảnh ở đây.
15921593 Thang dùng để công thành, có nhiều loại: thang dây, thang gỗ,... theo mô tả trong truyện thì tôi nghĩ là loại thang giống như cái xe đẩy, nhìn nghiêng có dạng tam giác. Xem hình ở đây.
16001601 Nỏ phá núi
16041605 Khôi giáp có chừng vài ba trăm loại. Toả tử liên hoàn (hay liên hoàn toả tử) là một trong số đó. Bạn có thể xem hình nó ở đây.

Truyện Côn Luân Đôi lời về tác giả Thục đạo nan Canh lậu tử Tam tài biến Điệp luyến hoa Chiến thành nam Xạ Thiên lang Mãn giang hồng Cô vân xuất tụ Tuyết vũ Phượng tường Mi gian quải kiếm Huyết tiễn phần thiên Thiên quân nhất cục Nhất sinh sơ kiến Thái Ất phân quang Thiên cơ hữu nguyệt Mê trận vô hình Thiên cơ hữu nguyệt(TTV) Mê trận vô hình(TTV) Khả thị duy ngã BIẾN KHỞI TIÊU TƯỜNG THIÊN ĐỊA PHẢN PHỤC THẮNG GIẢ VI VƯƠNG XẢ THÂN TỰ HỔ HOA ÁM LIỄU MINH Tứ diện sở ca Tiên Phật tranh phong THUẦN DƯƠNG THIẾT HẠP Thương Thiêu Đông Nam Phong Ba Hiểm Ác Thâu Thiên Hoán Nhật Nhạc Cực Sinh Bi Tâm Như Tử Hôi Di Tinh Hoán Đẩu Bát Vân Kiến Nhật Câu Tâm Đẩu Giác Vạn Vật Quy Tàng Bạch Mai Hàm Dương Lăng Không Nhất Vũ Long Hổ Chi Hội Tứ Thiểu Bái Sư Xích Mao Chi Hổ Xa Mã Lân Lân Phục Ngưu San Hạ Chiết Cung Vi Thệ Lục Hoa Diệu Thuật Hán Thủy Kinh Đào Tương Dương Công Phòng Cùng Đồ Mạt Lộ Thạch Công Sơn Đầu Xà Khiếu Tước Lai Thùy Thắng Thùy Bại Tây Tái Long Ngâm Phần Hương Túy Ngọc Vô Pháp Vô Tướng Hạnh Lâm Y Ẩn Quần Ma Loạn Vũ Kiến Hoa Sinh Phật Cựu Ái Nan Mẫn Giai nhân vi chú Hoa trung thánh triết Tả hữu vi nan Vụ lâm kỳ ẩu Điên đảo ngũ hành Ấu đế chi tranh Địch hữu mạc biện Yên ba vi mang Bĩ Cực Thái Lai Kim Thiền Thoát Xác Tự Cổ Đa Tình Tâm Tùy Minh Nguyệt Đại Thiên Vương Tự Chung Thiên Trường hận Chúng Phản Thân Li Đông Tây chi minh Vạn Phu Mạc Địch Trọc Thế Thao Thao Đại Tai Côn Luân Tùy Viên Tựu Phương [1] Nhân Mệnh Chí Trọng Thiên Lang Khiếu Nguyệt Cố Nhân Tương Phùng Hoàng Hà Cửu Khúc Long Bôn Vạn Lý [1] Hòa Hài Chi Đạo [1] Phong Vân Tề Hội [1] Nhất Kiếm Hoành Thiên Thấp Tang Hữu A [1] Nguyệt Chiếu Đại Giang[1]