Dịch giả: Vũ Trấn Thủ
Trần Phú Thuyết
Chương 25

Buồn đến mụ mẫm người, và tinh thần mỗi ngày một sa sút vì cái cảnh ăn không ngồi rồi bắt buộc, Pôlốptxép và Liachépxki vẫn tiếp tục giết thời gian hết ngày này qua đêm khác trong gian phòng xép chật chội nhà Iakốp Lukits.
Thời gian gần đây không hiểu sao các chuyến liên lạc đã thưa hẳn đi, và các lời hứa hẹn tràn đầy hy vọng của tổng hành dinh khởi nghĩa gửi cho chúng trong những phong bì nom sơ sài nhưng niêm phong rất cẩn thận, từ lâu nay đã mất hết tác dụng đối với chúng…
Pôlốptxép xem ra chịu đựng khá hơn cái cảnh tù túng kéo dài thế này, thậm chí bề ngoài y có vẻ lại càng phớt tỉnh. Nhưng Liachépxki thì thỉnh thoảng lại lên cơn, mỗi lần một kiểu khác nhau. Lần thì suốt mấy ngày liền y không nói một câu, cứ ngồi nhìn bức tường trước mặt bằng con mắt mất hết thần sắc. Lần thì y trở nên đặc biệt ba hoa, nói nhiều đến chối tai, không chịu nổi, và những lúc ấy, mặc dầu nóng bức, Pôlốptxép lại lấy chiếc áo burka (°) trùm kín đầu, chốc chốc trong bụng lại sôi lên một ý muốn gần như không nén nổi, ý muốn đứng bật dậy, rút kiếm ra khỏi vỏ, thẳng cánh chém một nhát xuống cái đầu chải chuốt nắn nót của Liachépxki. Rồi một lần, trời vừa đổ tối Liachépxki đã biến đi đâu lúc nào không biết, gần sáng mới mò về, ôm theo một bó hoa tướng ướt đẫm sương.
Suốt đêm hôm ấy Pôlốptxép không chợp được mắt, trong bụng lo sốt vó vì tên đồng đảng mất tăm, tai vểnh lên nghe mỗi lần có tiếng động dù là rất nhỏ từ bên ngoài vọng vào. Liachépxki đi chơi về nom phấn khởi, vui vẻ, toàn thân toát ra cái tươi mát của đêm khuya. Y xách ở ngoài hiên vào một xô nước, thận trọng thả hoa vào đó. Gian phòng bí hơi sực lên hương thơm ngây ngất của những bông hoa pêtunhia (°°), hoa thuốc lá, hoa đổng thảo và những hoa gì nữa Pôlốptxép không biết tên, và lúc ấy đã xảy ra một chuyện bất ngờ: Pôlốptxép, viên quan ba kỵ binh lòng gang dạ sắt ấy, sau khi hít mạnh đầy lồng ngực những hương hoa lâu ngày rồi đã quên, bỗng òa khóc… Nằm trên cái giường hôi hám, trong bóng tối trước lúc bình minh, y đưa hai bàn tay nhơm nhớp mồ hôi lên ôm mặt, và khi những cơn nức nở bắt đầu làm y nghẹt thở, y vùng mạnh quay phắt vào tường, cắn chặt răng vào góc gối.
Liachépxki đi chân đất, nhẹ bước đi đi lại lại trên mặt sàn âm ấm của gian phòng xép. Cái phong cách tế nhị lịch thiệp của thuở ngày xưa thức tỉnh lại trong con người y, và y huýt sáo rất nhẹ một khúc nhạc ôperetta, làm ra vẻ như không nghe, không trông thấy gì…
Mười một giờ trưa, choàng tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngắn nhưng nặng chĩu, Pôlốptxép định mắng cho Liachépxki một trận tàn nhẫn về chuyện tự ý bỏ đi chơi, nhưng lại chỉ nói:
- Phải thay nước trong xô đi… kẻo hoa héo mất.
Liachépxki vui vẻ đáp:
- Xin chấp hành ngay tắp lự.
Y xách vào một bình nước giếng mát lạnh, còn nước ấm trong xô thì đem vẩy sàn.
- Anh lấy hoa này ở đâu thế? – Pôlốptxép hỏi.
Ngượng ngùng vì cơn yếu đuối của mình, xấu hổ vì những giọt nước mắt y đã khóc lúc ban đêm, y quay mặt nhìn đi chỗ khác.
Liachépxki nhún vai:
- Nói “lấy” thì lịch sự quá, ngài Pôlốptxép ạ. Phải nói là “ăn cắp”, nghe chối tai đấy, nhưng đúng hơn. Tôi đang đi tha thẩn quãng trường học thì ngửi thấy đúng mùi thần tiên thơm ngào ngạt, tôi liền vượt hàng rào vào vườn nhà lão giáo Spưn, vặt trụi đi một nửa hai luống hoa đem về để phần nào làm cho cuộc sống khốn nạn của chúng ta đỡ tẻ nhạt. Tôi xin hứa từ nay sẽ cung cấp cho ngài đủ hoa tươi.
- Ấy chớ!
- Tôi nhận thấy ông cũng chưa hoàn toàn mất hết những tính người, - Liachépxki nói nhỏ, giọng ám chỉ, và nhìn Pôlốptxép chòng chọc.
Tên này nín thinh, làm ra vẻ không nghe thấy…
Hai đứa mỗi tên giết thời giờ một cách. Pôlốptxép thì ngồi bên bàn hàng giờ liền bói bài, mấy ngón tay chuối mắn sờ vào những quân bài cáu bẩn, mặt nhăn lại ghê tởm. Còn Liachépxki thì ngồi giường đọc lại lần thứ hai mươi rồi chứ không ít cuốn sách độc nhất y có trong tay, cuốn Qua vadis của Xienkêvits, thưởng thức từng chữ một của cuốn tiểu thuyết ấy.
Đôi lúc Pôlốptxép quẳng bài đấy, ngồi xếp bằng tròn dưới sàn, trải miếng bạt ra, lấy khẩu trung liên mà không cần lau lại cũng đã sạch bóng tháo ra, lau lại, chùi sạch từng bộ phận, rồi bôi mỡ, cái mỡ lau súng đã chảy ra vì nhiệt độ của căn phòng. Sau đó lại thủng thỉnh lắp khẩu súng vào, ngồi ngắm nghía, cái đầu trán dô nghiêng bên nọ, nghiêng bên kia. Rồi thở dài một cái, y bọc khẩu súng vào mảnh vải bạt ấy, đem cất cẩn thận dưới gầm giường, lấy băng đạn ra lau, lắp đạn trở lại, và ngồi vào bàn, rút ở dưới đệm ra cây kiếm sĩ quan, thử lưỡi kiếm vào móng tay cái, rồi cầm hòn đá mài khô thận trọng liếc qua vài cái vào lưỡi thép ánh lên một ánh mờ mờ. “Như lưỡi dao cạo!” – y hài lòng lẩm bẩm.
Những lúc như thế, Liachépxki lại gấp sách lại, nheo nheo con mắt độc nhỡn, mỉm một nụ cười cay độc:
- Tôi lấy làm lạ, hết sức lấy làm lạ vì cái bệnh tình cảm ngớ ngẩn của ngài! Việc gì mà ngài phải nâng niu con dao thái thịt của ngài như một thằng ngốc nâng niu một đồ cổ giả thế? Ngài nên nhớ rằng bây giờ là năm ba mươi rồi và thời đại của những thanh kiếm, xà mâu, gươm giáo và mọi thứ đồ sắt rèn khác đã vĩnh viễn qua rồi. Ngài thân mến ạ, trong cuộc chiến tranh vừa qua, quyết định hết thảy là pháo binh chứ không phải là lính tráng cưỡi ngựa hoặc không cưỡi ngựa. Và pháo binh cũng vẫn sẽ quyết định kết quả những trận đánh và những cuộc chiến tranh tương lai. Là một pháo thủ già đời, tôi xin khẳng định với ngài một cách hết sức dứt khoát như vậy!
Pôlốptxép, như thường lệ, le lé mắt nhìn Liachépxki, rít răng lại nói:
- Thế anh định khởi sự bằng gì? Ngay từ đầu bằng hỏa lực lựu pháo hay bằng lính tráng cầm kiếm? Anh cứ đưa tôi dù chỉ một khẩu đội bảy nhăm mà thôi, tôi cũng sẽ sẵn sàng trao ngay thanh kiếm của tôi cho mụ vợ Ôxtơrốpnốp. Nhưng nếu không có thì anh hãy im mồm đi, đồ quý tộc bẻm mép ạ! Nghe anh lải nhải mà tôi buồn nôn. Những chuyện về vai trò pháo binh trong chiến tranh vừa qua, anh hãy đem kể cho các cô tiểu thư quý tộc Ba Lan, chứ đừng kể với tôi. Và nói chung, anh luôn luôn kiếm cơ hội ăn nói với tôi bằng cái giọng ngạo mạn, nhưng thưa ngài đại diện của nước Ba Lan vĩ đại, tôi báo cho ngài biết là không xong đâu. Cái giọng của ngài, và những câu chuyện rông dài của ngài không ngửi được. Tiện đây, tôi nói cho ngài biết là những năm hai mươi người ta đã nói về cái tổ quốc của ngài như sau: “Nước Ba Lan chưa chết, nhưng đã thối hoắc mùi tử thi…”.
Liachépxki thốt lên bằng giọng làm ra bi đát:
- Lạy Chúa, một sự nghèo nàn về trí tuệ đến khủng khiếp! Hết quân bài lại lưỡi kiếm, hết lưỡi kiếm lại quân bài… Nửa năm nay không thấy ngài đọc được lấy một chữ in nào. Ngài đã trở lại mọi rợ rồi! Thế mà ngài đã có hồi nào cũng dạy trường trung học cơ đấy…
- Tôi đi dạy học là do tình thế bắt buộc, thưa ngài quý tộc Ba Lan yêu quý ạ! Ngậm đắng nuốt cay mà dạy học đấy!
- Hình như ông Tsêkhốp của các ngài có một mẩu chuyện về dân kôdắc như thế này: ở một ấp nọ có một tay địa chủ kôdắc vô học có hai anh con lớn đần độn suốt ngày chỉ làm có độc một việc là một anh bắt gà trống trong chuồng ra tung hê lên trời để anh kia cầm súng bắn. Và cứ như thế hết ngày này sang ngày khác. Chẳng đọc sách, chẳng có một nhu cầu văn hóa nào, chẳng một mảy may quan tâm gì đến các giá trị tinh thần… Đôi lúc tôi thấy hình như ngài là một trong hai anh con trai ấy thì phải… Hay tôi lầm?
Pôlốptxép chẳng buồn trả lời, hà hơi lên lưỡi thép ánh lên một màu chết chóc của thanh gươm, ngồi nhìn vệt hơi nước xanh xanh lan ra rồi tan dần đi. Rồi y lấy vạt áo Tônxtôi xám của y lau sạch lưỡi kiếm và thận trọng, thậm chí với một vẻ trìu mến, đút thanh kiếm vào trong cái vỏ đã sờn, nhẹ nhàng, không nghe thấy một tiếng cọ xát.

*

--------------
(°) Burka: Một kiểu áo bành tô dạ thường mặc ở vùng Cápcadơ. ND.
(°°) Pêtunhia: một giống hoa cánh to, nhiều màu. ND.

*

Nhưng không phải những cuộc chuyện trò nổ ra bất ngờ và những lời châm chọc lẫn nhau ấy bao giờ cũng kết thúc êm ả như thế. Gian phòng ít khi được mở cửa, bí hơi đến ngột ngạt; thời tiết ngày càng nóng bức làm cho cuộc sống khốn khổ khốn nạn của chúng tại nhà Ôxtơrốpnốp càng trở nên khó chịu. Và càng ngày càng có nhiều lúc Pôlốptxép đang nằm trên cái giường nhớp nháp và sặc mùi mồ hôi, nhảy bổ xuống đất, nén giọng lại mà gầm lên: “Như cái nhà tù! Ta đến chết rục trong cái nhà tù này mất!”. Rồi ngay cả ban đêm, ngủ mê y cũng luôn luôn nhắc đến cái tiếng nặng nề ấy, cho đến lúc Liachépxki phát sốt ruột, phải bảo y:
- Ngài Pôlốptxép ạ, nghe có thể tưởng như trong cái vốn từ vựng đã quá nghèo nàn của ngài chỉ còn giữ lại được có độc một tiếng “nhà tù”. Nếu ngài mê cái tổ chức từ thiện ấy thì tôi thực tình khuyên ngài: ngài hãy lên GPU huyện ngay hôm nay đi, và đề nghị họ cho vào tù nghỉ mát tối thiểu là hai chục năm gì đó. Tôi cam đoan với ngài đề nghị ấy sẽ không bị họ khước từ đâu!
- Cái ấy gọi là cái gì nhỉ? Tiếng Ba Lan gọi là một câu pha trò có duyên phải không? – Pôlốptxép mỉm cười méo xệch, nói.
Liachépxki nhún vai:
- Ngài thấy nó nhạt quá chăng?
- Tôi thấy anh là một con vật, - Pôlốptxép hờ hững nói.
Liachépxki lại nhún vai cười gằn:
- Có thể lắm. Tôi sống bên cạnh ngài lâu quá rồi cho nên nếu có mất hết tính người thì cũng chẳng lấy gì làm lạ…
Sau cuộc đụng chạm ấy, suốt ba ngày ba đêm chúng không nói với nhau một lời. Nhưng đến ngày thứ tư thì xảy ra một chuyện làm chúng bắt buộc phải nói…
Sáng sớm hôm ấy, Iakốp Lukits còn chưa ra trụ sở thì có hai người lạ mặt bước vào sân. Một người mặc áo mưa vải sơn mới tinh, còn người kia thì mặc chiếc áo choàng vải thô lem luốc, có mũ trùm. Người thứ nhất cắp nách một cái cặp to, phồng căng, còn người thứ hai thì vắt vai một chiếc roi ngựa, cán roi kết ngù có dây da nom rất sang. Theo đúng điều quy định với nhau từ lâu, Iakốp Lukits nhìn qua cửa sổ thấy có người đến, bước vội vào hiên trong gõ hai tiếng thong thả vào cửa phòng xép hai tên ở, rồi lững thững bước ra thềm, chân bước tay vuốt ria.
- Bà con đến tìm tôi phải không ạ? Cần lấy cái gì ở kho nông trang chăng? Các vị là ai? Người ở đâu đến?
Người béo mập cầm cặp mỉm cười niềm nở, hai má phinh phính lúm xuống hai đồng tiền như má đàn bà, đưa tay lên vành chiếc mũ cátkét đã sờn, nói:
- Bác là gia chủ đây phải không? Xin chào bác Iakốp Lukits. Bà con láng giềng nhà ta giới thiệu chúng tôi sang gặp bác. Chúng tôi đi thu mua gia súc, tiếp phẩm cho anh em thợ mỏ, để anh em bồi dưỡng, như người ta thường nói. Chúng tôi trả giá cao, cao hơn giá thu mua nhà nước quy định một chút. Chúng tôi trả giá cao là vì phải cho anh em thợ mỏ ăn tử tế một tí và không được gián đoạn. Bác là quản lý nông trang, chắc bác hiểu nhu cầu của chúng tôi… Nhưng chúng tôi không mua gia súc của nông trang đâu, chúng tôi chỉ mua gia súc riêng của nông trang viên thôi, và của bà con cá thể nữa. Chúng tôi nghe nói bác có con bò cái tơ. Bác có bán không? Về giá cả chúng tôi không cò kè đâu, và tiền nào của ấy.
Iakốp Lukits nín thinh một lát, đưa tay gãi gãi lông mày nghĩ ngợi, tính nhẩm trong bụng là nếu bán được cho những anh tiếp phẩm dễ tính thì hời đây, lại khỏi phải lê la ngoài chợ. Rồi lão trả lời như đa số những nông dân thạo mua bán thường trả lời:
- Bò cái tơ để bán thì nhà tôi chả có.
- Có lẽ bác cứ cho xem, may ra chúng ta đồng ý với nhau được giá đây. Tôi xin nhắc lại lần nữa, chúng tôi sẵn sàng trả giá hời một tí.
Iakốp Lukits lại im lặng một phút, đưa tay lên vuốt ria mép, rồi để cho có vẻ quan trọng, chậm rãi nói, như nói với mình:
- Kể ra bò cái tơ thì nhà tôi cũng có một con đấy, mà lại béo tốt, nom rất là mỡ màng! Nhưng chúng tôi cũng cần giữ nó, vì con mẹ già rồi, phải thay, mà giống này thì tốt sữa, tốt bơ, tốt lắm cơ. Không, các đồng chí tiếp phẩm ạ, nhà tôi không bán đâu!
Người béo mập cầm cặp thất vọng thở dài:
- Đành vậy, bán hay không là ở gia chủ… Thôi thế xin lỗi bác, chúng tôi đi mua nhà khác vậy, - và một lần nữa anh ta lại vụng về đưa tay lên chiếc lưỡi trai mũ nhàu nát, rồi đi ra.
Anh chàng dắt bò nom lực lưỡng, cổ cày vai bừa, cũng bước ra theo sau, tay vung vẩy cái roi, mắt lơ đãng nhìn đảo một lượt cái sân, mấy gian nhà ở, mấy cửa sổ, và khung cửa con đóng kín mít của gian buồng áp mái…
Đến đây thì máu tham của Iakốp Lukits không nén được nữa. Để cho hai ông khách ra đến cổng ngoài, lão lại réo gọi người béo mập:
- Này, đồng chí tiếp phẩm ơi. Quay lại tí đã! Đồng chí trả bao nhiêu một cân hơi.
- Cái đó ta sẽ bàn. Nhưng tôi đã nói với bác là giá cả thì chúng tôi không cò kè đâu, và chúng tôi được tự quyền chi. Tiền chúng tôi không nhiều đâu, nhưng cũng không đến nỗi thiếu, - người béo mập dừng lại ở cổng đợi và đưa bàn tay phốp pháp vỗ vỗ lên cái cặp nom cũng phốp pháp, có ý khoe.
Iakốp Lukits bước từ trên thềm xuống với vẻ dứt khoát:
- Nào ta đi xem bò, trong khi nó chưa đi nhập đàn. Nhưng xin các đồng chí nhớ cho là rẻ thì tôi không bán đâu đấy. Nể các đồng chí quá, vì thấy các đồng chí dễ dãi, không bủn xỉn như những tay con buôn. Những loại con buôn bủn xỉn ấy thì đừng hòng đặt chân vào nhà tôi!
Cả hai anh lái thịt xem xét và sờ nắn con bò rất kỹ lưỡng, xoi mói bới lông tìm vết, sau đó người béo mập mặc cả róng riết, còn người cầm roi xem vẻ chán ngấy cái trò ấy, miệng thổi sáo, chân bước lang thang sân trước sân sau, mắt thì đưa đảo ngó hết chuồng gà, đến cái chuồng ngựa bỏ không, ngó khắp, kể cả những chỗ không nên ngó đến… Và lúc ấy Iakốp Lukits mới như chợt bừng tỉnh: “Ôi, lạy Chúa, họ vào đây chưa chắc đã phải để mua bò đâu!”.
Lão lập tức đồng ý bớt bảy mươi lăm rúp, nói:
- Thôi được, để bồi dưỡng các đồng chí thợ mỏ thì tôi cũng sẵn lòng bán thiệt một chút vậy. Bây giờ xin lỗi các đồng chí, tôi phải ra trụ sở, không tiếp các đồng chí được. Các đồng chí dắt bò đi ngay bây giờ chứ? Thế thì cho xin tiền ngay đi!
Người béo mập đứng bên cửa nhà kho, nhấp nước bọt ngón tay, dềnh dàng đếm tiền, thêm mười lăm rúp vào số tiền đã ngã giá, rồi nháy mắt một cái bắt tay Iakốp Lukits đang nóng ruột như bào:
- Thế nào, mua bán xong xuôi rồi ta cũng phải làm một chai chứ hả bác Iakốp Lukits? Nghề mua bán của chúng tôi là lúc nào cũng phải có tí chất cay trong túi để khao mà! – Và vẫn dềnh dàng như thế, anh ta rút trong túi ra một chai vốtka còn nguyên tem ánh lên mờ mờ dưới nắng sớm.
Iakốp Lukits làm ra vẻ hồ hởi đáp:
- Để đến tối, các bác ơi, đến tối! Tối tôi rất lấy làm vui mừng được ngồi tiếp các bác một cốc. Cái chất tươi đóng chai bác vừa giơ ra ấy thì ở nhà chúng tôi đây cũng có, nhờ trời chúng tôi cũng chưa đến nỗi kiết xác, còn bây giờ thì các bác thứ lỗi cho: sức khỏe tôi bắt tôi phải kiêng rượu buổi sáng, thêm nữa công việc bận, tôi còn phải ra trụ sở. Xẩm tối mời các bác đến, ta sẽ chạm cốc mừng cho con bò nhà tôi.
- Ít ra thì bác cũng mời chúng tôi vào nhà nếm thử cốc sữa của con bò mẹ chứ nhỉ, - người béo mập cười tươi roi rói hai má lúm đồng tiền, nắm lấy khuỷu tay Iakốp Lukits nói như năn nỉ.
Nhưng Iakốp Lukits vẫn không đổi ý kiến. Toàn thân lão co lại trong một quyết tâm căng thẳng đến tột độ, và lão trả lời với nụ cười có phần nào khinh bỉ:
- Các ngài ạ, dân kôdắc chúng tôi có cái lệ là không phải khách muốn vào thăm lúc nào thì đến, mà khi được chủ mời mới vào. Ở chỗ các vị khác thế chăng? Nhưng nhập gia tùy tục, các vị ạ: tối ta sẽ gặp nhau, đồng ý chứ? Sáng sớm chả nên nhiều lời. Thôi, xin chào!
Quay lưng lại hai ông khách mua, và cũng chẳng thèm ngó đến con bò mà người to lớn lực lưỡng đang đủng đỉnh tròng dây, Iakốp Lukits lắc lư người, ì ạch bước lên thềm. Tay trái nắm lấy ngang lưng, lão ề à, giả vờ rên lên một tiếng, bước lên từng bậc một. Nhưng vào tới trong hành lang thì lão thôi hết mọi cái vờ vịt, tay ôm ngực đứng độ một phút, mắt nhắm lại, đôi môi tái nhợt thều thào: “Mả cha chúng bay!”. Rồi cơn đau nhói ở tim lão dịu đi, đầu cũng hết choáng váng. Iakốp Lukits đứng độ một lát nữa, rồi gõ cửa buồng Pôlốptxép, lễ phép nhưng kiên trì.
Bước qua ngưỡng cửa, lão mới kịp nói: “Khốn rồi, ngài ơi!...” – thì liền lúc đó như dưới một ánh chớp lóe lên giữa đêm dông bão, lão trông thấy một nòng súng lục chĩa vào lão, cái hàm răng bạnh và nhô ra đằng trước của Pôlốptxép, con mắt trừng trừng nhìn không chớp của y, và anh chàng Liachépxki ngồi trên giường trong một dáng điệu vụng về, hai bả vai tựa chặt vào vách, với khẩu trung liên kê trên hai đầu gối hơi chồng lên, cái nòng súng chĩa ra cửa, ngay tầm ngực Iakốp Lukits… Tất cả những cái đó, Iakốp Lukits đã thoáng thấy như trong giây lát một quầng sáng lóe lên chói lòa, kể cả cái nụ cười của Liachépxki và cái ánh long sòng sọc trong con mắt độc nhỡn của y, trong khi đó thì tai lão nghe thấy như vọng từ xa lại:
- Ông chủ thân mến ơi, ông rước ai về nhà ông thế vậy?
Iakốp Lukits đang lúc rối bời, không nhận ra tiếng nói ấy của ai, cứ như đó là tiếng của một người thứ ba nào đó, vô hình, một tiếng nói hổn hà hổn hển, xen những tiếng rin rít. Một sức mạnh không lệ thuộc vào lão đã buộc lão biến đổi hẳn đi trong khoảnh khắc: hai cánh tay lão đang ở tư thế nghiêm buông thẳng cứng dọc theo nẹp quần bỗng trùng lại ở hai khuỷu, toàn thân lão mềm nhũn, rủ xuống. Nhưng lão cất tiếng nói, và lời lão nói, mặc dầu không mạch lạc gì và bị ngắt quãng, đã nghe là một giọng khác:
- Tự họ dẫn xác đến chứ tôi đâu có rước ai về. Và các ngài ơi, các ngài còn định quát tháo hành hạ tôi như quát tháo một thằng nhãi ranh thế này đến bao giờ nữa mới thôi? Tôi không thể chịu được nữa rồi! Tôi nuôi không các ngài ăn, mua rượu các ngài uống, hầu hạ các ngài đủ vành. Mẹ con nhà nó thì giặt rũ quần áo các ngài, thổi nấu các ngài xơi mà không đòi lấy một xu… Giết tôi thì các ngài có thể làm lúc nào cũng được, ngay lập tức cũng được, nhưng sống mà có các ngài ở trong nhà như thế này thì gay go quá chừng! Và con bò cái tơ tôi đã đành bán lỗ vốn đi vì cũng phải có cái gì mời các ngài xơi chứ? Chả lẽ quan lớn như các ngài mà tôi toàn mời xúp suông mãi, nhất thiết cũng phải có tí thịt mới coi được. Các ngài lúc nào cũng đòi rượu vốtka… Và khi mấy cái thằng khách không mời mà đến ấy dẫn xác vào nhà, tôi cũng đã báo trước các ngài rồi, và về sau, vừa mới phát hiện ra chúng chỉ là đóng giả khách mua thôi, tôi đã quay đít đi ngay: “Thôi được, con bò tôi biếu không các vị đấy, nhưng các vị hãy đi khỏi đây nhanh lên!”. Ấy thế mà các ngài lại còn… Ôi, nói với các ngài mà làm gì? – Iakốp Lukits khoát tay một cái tuyệt vọng, rồi áp ngực vào khung cửa, hai tay ôm mặt.
Pôlốptxép, từ lâu nay sinh ra có thái độ dửng dưng một cách lạ lùng, bỗng nói bằng một giọng mất hẳn thần sắc:
- Ông Liachépxki ạ, lão già nói có lý đấy. Xem chừng động rồi, chúng ta phải chuồn khỏi nơi này thôi, trong khi còn chưa muộn. Ý kiến ông thế nào?
- Phải đi ngay hôm nay, - Liachépxki phát biểu dứt khoát và thận trọng đặt khẩu trung liên xuống đống chăn gối nhàu nát.
- Nhưng còn liên lạc?
- Sau hẵng hay. – Liachépxki hất hàm chỉ Iakốp Lukits. Rồi quay sang phía lão, nói bằng giọng gay gắt: - Này, Iakốp Lukits, thôi cái trò đàn bà ấy đi! Ông hãy kể chúng tôi nghe xem đã nói chuyện gì với hai thằng lái buôn ấy. Chúng đã trả xong tiền chưa? Chúng có còn đến đây nữa không?
Iakốp Lukits khóc thút thít như trẻ con, xỉ mũi vào vạt chiếc áo sơmi buông thõng không thắt dây lưng, đưa mu bàn tay lên quệt mắt, quệt râu ria, rồi mắt chẳng nhìn lên, lão kể lại ngắn gọn đầu đuôi câu chuyện nói với hai người tiếp phẩm, về thái độ khả nghi của người dắt bò, không quên nhắc lại chuyện họ hẹn tối sẽ lại uống rượu ăn khao.
Pôlốptxép và Liachépxki nghe kể, cứ lẳng lặng đưa mắt nhìn nhau.
- Hay lắm! – Liachépxki cười bẳn, nói. – Nhà anh không nghĩ ra được cái trò gì khác là mời chúng nó đến chén à? Mả mẹ anh chứ sao ngu thế, tối như hũ nút!
- Tôi đâu có mời, tự chúng nó đến đấy chứ, mà lại còn định xộc vào nhà ngay lúc ấy nữa, tôi đã phải giở đủ trò để hoãn binh đến tối. Và thưa các ngài quan lớn, thật tôi cũng chả biết gọi các ngài thế nào, các ngài chửi mắng tôi, coi tôi là thằng ngu thế thì cũng không phải… Lạy Chúa, mả mẹ tôi dại gì mà lại mời chúng nó vào nhà trong khi các ngài còn ngồi lù lù ra đây? Để chúng nó treo cổ tôi lên cùng với các ngài à?
Đôi mắt rơm rớm của Iakốp Lukits ánh lên một ánh bực tức và lão nói tiếp bằng giọng đã hằn học ra mặt:
- Thưa các ngài sĩ quan, cho đến năm mười bảy, các ngài vẫn cho chỉ có các ngài là thông minh thôi, còn lính tráng và những dân lành kôdắc chúng tôi đều là những kẻ ngu ngốc cả. Bọn đỏ đã dạy cho các ngài một bài học, nhưng xem ra thì họ cũng chưa dạy được đến nơi đến chốn… Bài học và trận đòn ấy cũng chưa làm được cho các ngài mở mắt ra!
Pôlốptxép nháy mắt một cái với Liachépxki. Tên này cắn môi, lẳng lặng quay mặt ra phía khung cửa sổ buông rèm kín, còn Pôlốptxép thì bước tới sát người Ôxtơrốpnốp, đặt tay lên vai lão, cười đấu dịu:
- Này anh Iakốp Lukits, việc gì mà anh phải bực dọc vì những lời nói không đâu? Lúc nóng lên thì người ta bạ đâu nói đấy, ta cũng chả nên chấp nhặt từng câu từng lời. Anh nói cái này thì đúng này: hai thằng mua bò ấy là nhân viên tiếp phẩm thì chẳng khác nào tôi là giáo chủ vậy. Cả hai thằng đều là nhân viên công an cả. Ông Liachépxki đã nhận mặt được một thằng. Anh hiểu chưa? Chúng đang tìm chúng tôi, nhưng còn là tìm mò, cho nên chúng phải đóng giả cán bộ tiếp phẩm. Bây giờ thế này: từ giờ đến trưa, chúng tôi phải rời khỏi nơi đây, đi lẻ từng người một. Anh hãy đi tìm và giữ chân hai thằng ấy lại hai ba giờ gì đó tùy anh, và bằng cách nào cũng tùy anh. Anh có thể kéo chúng nó đến nhà một bà con nào đó trong đám chiến hữu của chúng ta hiện có mặt ở nhà, ngồi uống rượu và tán chuyện với chúng. Nhưng cầu Chúa giữ cho anh và anh chủ nhà kia là đừng có say lúy túy rồi mà phun ra hết! Tôi mà biết, tôi sẽ giết cả hai! Điều ấy anh nên nhớ cho kỹ! Và trong khi anh chuốc rượu kìm chân chúng thì chúng tôi bí mật theo đường khe sau nhà đây, luồn ra thảo nguyên. Và ra đến đấy rồi thì có thánh tìm được chúng tôi! Anh bảo thằng con anh ngay bây giờ đem thanh kiếm của tôi, khẩu trung liên, mấy băng đạn và cả hai khẩu súng trường của chúng tôi giấu kỹ trong kho chứa phân bò.
- Giấu khẩu súng trường của ngài thôi, khẩu của tôi tôi mang theo, - Liachépxki nói chen vào.
Pôlốptxép im lặng nhìn hắn, rồi nói tiếp:
-Tất cả những thứ ấy phải bọc kỹ trong cái chăn và bí mật đem vào trong kho, trước khi đem vào phải quan sát kỹ xung quanh đã. Tuyệt đối không được giấu một cái gì trong nhà. Có một yêu cầu này nữa với anh, nói cho đúng hơn là một mệnh lệnh: thư từ gửi đến đề tên tôi, anh cứ nhận, và nhận xong thì giấu ngay dưới cái cối đá đập lúa bên nhà kho. Ban đêm thỉnh thoảng chúng tôi sẽ rẽ qua xem. Rõ cả chưa?
Iakốp Lukits thều thào:
- Rõ.
- Thôi, anh đi đi, và đừng rời mắt hai cái thằng tiếp phẩm khỉ gió ấy! Đưa chúng nó đi đâu cách xa đây càng xa càng tốt, trong khoảng hai giờ là chúng tôi không còn đây nữa. Anh có thể mời chúng nó tối nay đến nhà. Giường này thì đem gác trên phòng áp mái, mở cửa buồng ra cho thoáng khí. Đem vài thứ đồ tầm tầm quẳng vào đây cho chúng khỏi ngờ, và nếu chúng yêu cầu, cứ cho chúng đi xem khắp nhà một lượt… và chắc chắn chúng sẽ kiếm cớ này cớ khác đòi đi xem nhà anh đấy… Chúng tôi đi độ một tuần rồi sẽ quay lại. Chuyện ăn uống vừa qua của chúng tôi anh đừng cằn nhằn! Tất cả chi phí của anh, tất cả những tốn kém anh phải chịu vì chúng tôi, sẽ được đền bù lại cho anh gấp bội khi sự nghiệp của chúng ta thắng lợi. Nhưng chúng tôi sẽ phải trở lại đây nữa, vì cuộc nổi dậy trong khu vực tôi phụ trách sẽ được khởi sự từ Grêmiatsi đây. Và giờ hành động sắp đến rồi! – Pôlốptxép trịnh trọng kết luận và ôm hôn Iakốp Lukits một cái vội vàng: - Thôi đi đi, anh bạn già, cầu Chúa phù hộ cho anh!

*

Cánh cửa vừa khép lại sau lưng Ôxtơrốpnốp thì Pôlốptxép ngồi vào bàn, hỏi:
- Ông đã gặp thằng nhân viên GPU ấy ở đâu? Ông có chắc chắn không nhớ nhầm không?
Liachépxki nhích ghế lại gần, cúi ghé vào Pôlốptxép và có lẽ đây là lần đầu tiên trong suốt thời gian chúng biết nhau, hắn nói bằng giọng không có chút mỉa mai châm biếm:
- Giêsu Maria! Tôi nhầm làm sao được! Cái thằng ấy thì tôi nhớ cho đến ngày xuống lỗ! Ngài có trông thấy má nó có cái sẹo không? Đó là tôi cầm dao găm xỉa cho nó khi nó đuổi bắt tôi đấy. Và mắt tôi, con mắt trái của tôi đây này, là tay nó đánh lòi ra trong khi tra hỏi tôi. Ngài có trông thấy nắm tay nó khiếp thế nào không? Chuyện đó xảy ra cách đây bốn năm, ở Kraxnôđa. Một con đàn bà đã làm phản, đi khai báo tôi, nhưng ơn bề trên, nó đã chết ngoẻo rồi! Tôi đang còn ngồi tù thì anh em ta đã phát hiện ra tội nó. Tôi vượt ngục được hai ngày thì nó đã phải đền tội. Con khốn nạn ấy, nó rất trẻ, và đẹp, một đứa con gái kôdắc Kuban, một con chó cái Kuban thì đúng hơn. Câu chuyện là như thế… Ngài có biết tôi đã vượt ngục thế nào không? – Liachépxki xoa xoa vào nhau hai bàn tay nhỏ khô khốc, mỉm cười mãn nguyện. – Trước sau đằng nào chúng cũng sẽ lôi tôi ra bắn. Tôi chẳng còn cái gì để mất nữa, cho nên tính kế liều, thậm chí phải dùng đến cái sách cũng hơi hèn hạ một tí… Đầu tiên tôi bịp bọn dự thẩm, khai mình là một tên lính tốt đen chẳng biết gì, thì chúng quẳng tôi vào xà lim cấm cố, giam rất nghiêm ngặt. Tôi bèn quyết định đi nước bài cuối cùng để mưu cách thoát: tôi khai ra một thằng kôdắc ở ấp Kôrênốpxkaia. Nó cũng ở trong tổ chức của ta, nhưng là khâu cuối của dây chuyền. Nó chỉ có thể khai thêm ba người nữa cùng làng mà thôi, vì ngoài ra nó không còn biết một ai khác trong chúng ta cả. Lúc ấy tôi nghĩ bụng: “Chúng sẽ đem bốn thằng ngu ngốc ấy ra bắn hoặc đưa đi đầy, nhưng mình sẽ thoát, và đối với tổ chức thì tính mệnh của riêng mình còn quan trọng bằng vạn lần tính mệnh của bốn con vật kia”. Phải nói ngài biết rằng trong tổ chức của ta ở Kuban, tôi đóng một vai trò không kém quan trọng. Có thể đánh giá vai trò ấy qua sự việc là từ năm hai mươi hai đến nay tôi đã vượt biên năm lần đi Pari gặp tướng Kuchêpốp. Thấy tôi khai ra bốn tên, lão dự thẩm đã nới tay với tôi: nó cho phép tôi được đi dạo tại sân trong cùng với các tù nhân khác. Tôi phải hành động ngay, không thể chậm trễ được. Điều ấy chắc ngài hiểu. Một buổi chiều, đi dạo chơi lẫn trong đám đầu trộm đuôi cướp Kuban bị án tử hình, ngay từ vòng đầu tôi đã để ý thấy có cái thang bắc tựa vào nhà chứa cỏ, có vẻ là mới được đặt đấy ít lâu gì đó thôi. Hồi ấy đang là mùa cắt cỏ và hàng ngày bọn công an vẫn chở cỏ về cho ngựa. Tôi đi một vòng nữa, hai tay chắp sau lưng, đúng như quy định. Sang vòng thứ ba, tôi điềm nhiên đi tới cái thang, mắt chẳng ngó nghiêng, rồi từ từ trèo lên thang, hai tay vẫn chắp sau lưng, như người làm xiếc… Tôi đã dự kiến rất chính xác, ngài Pôlốptxép ạ! Chính xác về mặt tâm lý. Ngẩn tò te trước sự táo tợn đến lạ lùng của tôi, bọn lính gác đã để cho tôi có đủ thời gian leo lên đến bậc thứ tám rồi mới có một đứa giật mình quát lên: “Đứng lại!”. Trong khi đó thì tôi đã bò rạp người chạy lên được hai bậc nữa, rồi như một con dê, nhảy phốc lên mái nhà kho. Súng bắn loạn xạ lên nhá, và gào thét, và chửi! Nhảy tiếp hai cái là đến mép mái nhà, và một cái nữa là xuống dưới đường. Thế là xong. Ngay sáng hôm ấy tôi đã có mặt ở Maikốp, trốn tại một cơ sở bí mật tin cẩn… Tên cái thằng hộ pháp đã làm tôi chột mắt ấy là Khigiơnhiắc. Hôm nay ngài đã trông thấy nó rồi đấy, cái tượng hộ pháp mặc quần ấy. Vậy thì ngài bảo làm sao tôi lại có thể để nó lọt khỏi tay tôi mà sống đàng hoàng được? Không, nó đã đánh tôi lòi một mắt thì tôi phải cho nó nhắm tịt cả hai mắt lại! Một đổi lấy hai!
- Ông điên rồi ư? – Pôlốptxép kêu thốt lên phản đối. – Vì tư thù mà ông định làm hỏng việc lớn hay sao?
- Ngài cứ yên trí. Tôi sẽ khử thằng Khigiơnhiắc và tên đồng chí của nó không phải ngay tại đây đâu, mà sẽ phục ở một quãng nào đó, cách ấp Grêmiatsi Lốc này xa. Tôi sẽ dựng lên một vụ giết người cướp của là xong thôi mà! Tiền của chúng tôi sẽ lấy. Anh lái buôn mà để bị cướp là anh lái buôn tồi… Khẩu súng của ngài cứ giấu, còn khẩu của tôi, tôi sẽ thủ vào áo đi mưa, mang theo. Ngài không nên nghĩ đến chuyện ngăn cản tôi. Ngài nghe ra chưa? Một khi tôi đã quyết là tôi làm! Tôi sẽ đi trước, ngài đi ra sau một lát. Thứ bảy này chúng ta sẽ gặp nhau vào lúc xẩm tối ở khu rừng cạnh ấp Tubianxki, bên bờ suối, nơi chúng ta đã gặp nhau lần trước. Xin chào ngài, ngài Pôlốptxép ạ! Những ngày ở đây chúng ta đã đi tới chỗ hơi quá đáng, hiểu theo nghĩa thần kinh bị mất thăng bằng, và phải thừa nhận là đôi lúc tôi đã đối xử với ngài không được xứng đáng.
- Thôi được rồi… Hoàn cảnh của chúng ta thì nên miễn những lời yếu đuối, - Pôlốptxép bối rối càu nhàu, tuy vậy vẫn ôm lấy Liachépxki, đặt môi lên cái trán tái nhợt của hắn với thái độ một người cha.
Liachépxki xúc động trước biểu hiện bất ngờ của tình bạn ấy, nhưng quay đi, không muốn để lộ ra là mình bồi hồi. Tay đã nắm lấy quả nắm cửa rồi, y nói:
- Tôi sẽ đem thằng Măcxim Kharitônốp bên Tubianxki đi theo. Nó có súng, hơn nữa nó là đứa có thể tin cậy được trong những lúc khó khăn. Ngài không phản đối chứ?
Pôlốptxép im lặng một lát, rồi đáp:
- Kharitônốp trước là hạ sĩ quan ở đại đội tôi. Chọn hắn là phải. Ông cứ đem hắn đi cùng. Không biết bây giờ hắn thế nào nhưng ngày xưa hắn là xạ thủ xuất sắc đấy. Tôi hiểu tâm trạng của ông. Ý ông thế, ông cứ tiến hành, nhưng tuyệt đối không được tiến hành ở lân cận Grêmiatsi Lốc, không tiến hành trong thôn xóm, mà phải chọn chỗ nào đó ngoài thảo nguyên…
- Xin vâng. Thôi, chào ngài.
- Chúc ông thành công.
Liachépxki bước ra hành lang, khoác lên vai chiếc áo dipun cũ của Ôxtơrốpnốp, ghé mắt nhìn qua khe cửa ra lối ngõ vắng tanh. Một phút sau y lững thững bước qua sân, khẩu cácbin kỵ binh kẹp bên sườn trái, rồi cũng lững thững như thế y đi khuất góc nhà kho. Nhưng vừa mới nhảy xuống cái kho sau nhà xong là lập tức y biến đổi hẳn: y xỏ tay mặc hẳn áo dipun vào, cầm khẩu cácbin ra tay, mở chốt an toàn, len lén men theo con đường lên dốc núi, dáng điệu như một con dã thú, mắt sắc sảo quan sát tứ phía, tai vểnh lên lắng nghe từng tiếng xào xạc nhẹ, và chốc chốc lại ngoái nhìn xuống cái xóm phía dưới kia còn đang chìm trong làn khói lam buổi sớm.

*

° ° °
Hai ngày sau, vào buổi sáng thứ sáu, trên quãng đường giữa hai ấp Tubinaxki và Vôixkôvôi, cách khe Phong khoảng sáu chục mét, có hai nhân viên tiếp phẩm đã bị giết cùng với một con ngựa trong đôi ngựa kéo chiếc xe của họ. Người đánh xe, một anh kôdắc dân làng Tubianxki, đã chặt đứt dây thắng con ngựa còn lại, cưỡi lên nó chạy thoát về được Vôixkôvôi. Và anh ta đã đến Xôviết ấp trình báo sự việc.
Nhân viên cảnh vệ địa phương cùng với chủ tịch Xôviết, người đánh xe ngựa và mấy người làm chứng đã ra xem xét tại chỗ xảy ra vụ thảm sát, và đã xác định được diễn biến sự việc như sau: bọn cướp nấp ở trong rừng đã bắn ra khoảng mươi phát súng trường. Phát đầu tiên đã giết chết tươi người chăn bò cao lớn lực lưỡng có đôi vai rộng. Anh ta đã bị đạn bắn trúng tim và ngã sấp mặt từ trên xe xuống. Anh tiếp phẩm lùn mập đã hét lên bảo người đánh xe: “Phóng lên!” rồi giằng lấy roi ở tay anh ta, vung lên định quất con ngựa bên phải, nhưng chưa kịp quất thì bị phát đạn thứ hai quật ngã gục xuống xe. Viên đạn bắn trúng đầu anh ta, phía trên tai trái một chút. Hai con ngựa lồng lên, và xác anh ta rơi xuống đường, cách xác anh thứ nhất khoảng hai chục mét. Tiếp theo đó là vài loạt đạn nữa từ hai khẩu súng trường đồng thời bắn ra. Con ngựa gióng trái đang phi bị trúng đạn ngã lộn một vòng, làm gãy cái càng xe và kéo theo cái xe đổ lật nhào đè lên nó. Người đánh xe đã chặt đứt dây thắng của con ngựa còn sống, nhảy lên phi như bay. Bọn cướp đã bắn mấy phát đuổi theo anh ta nhưng chỉ là bắn dọa chứ không chủ tâm giết, vì theo lời anh ta kể lại, đạn bay vèo vèo qua đầu anh ta rất cao.
Túi quần áo hai tử thi được lộn trái ra, nhưng không thấy có giấy tờ gì. Chiếc cặp rỗng không của anh nhân viên tiếp phẩm nằm lăn lóc trong đám cỏ ven đường. Người dắt bò đã bị bọn cướp lật ngửa ra để lục soát, và căn cứ vào dấu vết hằn trên da mặt thì anh đã bị chúng dùng gót giày giẫm lòi mắt trái.
Chủ tịch Xôviết Vôixkôvôi, một anh kôdắc già đã tham gia hai cuộc chiến tranh, phát biểu ý kiến với anh nhân viên cảnh vệ:
- Xem này, Luka Nadarưts, cái thằng chó má nào người ta chết rồi nó còn hành hạ, không tha! Anh này đã chắn ngang đường nó đang theo chăng? Hay là tranh nhau một mụ đàn bà? Chứ nếu chỉ là cướp đường thôi thì không tàn ác với nhau đến như thế này đâu.. – Và cố tránh không nhìn cái hốc mắt rỗng hoác đỏ lòm kia và cái dòng máu chảy xuôi xuống má đã khô vón lại kia, đồng chí chủ tịch Xôviết lấy khăn tay của mình đắp lên mặt tử thi, rồi đứng thẳng dậy thở dài: - Cái bọn này táo tợn thật! Chắc chắn là chúng nó đã theo dõi hai anh này từ lâu, và tiền của các anh ấy chúng khoắng được rõ ràng phải đến hàng nghìn… Quân khốn kiếp! Chỉ vì đồng tiền mà chúng giết oan giết uổng những con người cường tráng như đại bàng thế này…
Ngay ngày hôm ấy, tin Khigiơnhiắc và Bôikô-Glukhốp bị giết đã loan về tới Grêmiatsi Lốc. Ngồi lại một mình với Đavưđốp ở trụ sở ban quản trị, Nagunốp hỏi:
- Xêmiôn ạ, cậu có hiểu được câu chuyện này rồi sẽ ra thế nào không?
- Cũng tàm tạm hiểu được như cậu hiểu. Đây là bàn tay thằng Pôlốptxép hoặc đồng đảng của chúng nó đây, thực tế thế!
- Đích thị thế rồi. Có một điều mình không hiểu: nhưng làm sao mà chúng nó đã phát hiện ra hai anh này là ai, vấn đề là như vậy! Và kẻ nào đã làm công việc điều tra phát hiện ấy?
- Vấn đề ấy thì mình với cậu chả thể giải quyết nổi. Nó là một bài toán có hai ẩn số, mà chúng mình thì không cứng về số học và đại số học gì cho lắm. Cậu đồng ý không?
Nagunốp ngồi im lặng hồi lâu, chân vắt chữ ngũ, mắt nhìn đăm đăm vào mũi chiếc ủng bụi trắng mà thực ra để tâm tận đâu đâu, rồi anh nói:
- Một ẩn số mình giải được rồi…
- Cái nào vậy?
- Con chó sói không bao giờ bắt mồi ở gần hang nó…
- Thế nghĩa là thế nào?
- Nghĩa là những tên kia từ xa đến, chứ không phải từ Tubianxki, và cũng không phải từ Vôixkôvôi. Điều ấy thì chính xác!
- Vậy cậu cho là từ Sakhơtư hay từ Rôxtốp sao?
- Không nhất thiết. Biết đâu lại không từ làng ta?
- Rất có thể, - Đavưđốp ngẫm nghĩ một lát rồi nói. – Maka ạ, vậy cậu có ý kiến gì đề xuất không?
- Phải chỉ thị cho các đảng viên mở to mắt ra mà nhìn, ban đêm bớt ngủ đi và bí mật tuần tra khắp làng, quan sát kỹ. Biết đâu chúng ta lại chẳng vớ được ở ngay trong làng hoặc quanh làng chính cái thằng Pôlốptxép ấy, không thì cũng là một kẻ lạ mặt khả nghi nào đó. Sói thường xuyên lượn ban đêm…
- Thế cậu bảo chúng mình là sói à? – Đavưđốp khẽ nhếch mép mỉm cười.
Nhưng Nagunốp không cười. Anh ta cau mày lại, nói:
- Sói là chúng nó, còn chúng mình là người săn sói. Phải luận ra mà hiểu chứ.
- Đừng cáu. Mình đồng ý với cậu, thực tế thế! Bây giờ ta triệu tập các đảng viên tới họp ngay đi.
- Không nên ngay, mà muộn tí, chờ cho mọi người ngủ đi đã.
- Ý kiến ấy cũng đúng. – Đavưđốp đồng ý. – Nhưng không nên đi tuần, vì sẽ làm động dân làng ngay. Nên ngồi phục thì hơn.
- Biết chỗ nào mà phục? Phục chỉ uổng công vô ích! Mình phục thằng Chimôphây thì dễ: nó chỉ mò đến nhà con Luska thôi, ngoài ra nó không còn đường nào khác. Còn bọn này thì bảo đợi chúng nó ở đâu? Trời đất thì rộng, trang trại trong làng thì nhiều, người đâu mà rải ra nhà nào cũng canh?
- Việc gì phải nhà nào cũng canh.
- Biết chọn nhà nào?
- Ta hãy điều tra xem hai đồng chí tiếp phẩm đã vào nhà nào mua gia súc, rồi cứ những nhà ấy ta theo dõi. Hai đồng chí ấy chỉ quanh quẩn phần lớn các nhà những người khả nghi và vào mua gia súc các nhà ấy… Bọn giặc cỏ kia sẽ lần mò đến nhà một tên nào đó trong đám ấy… Cậu hiểu chưa?
- Cậu quả là cao kiến! – Nagunốp chịu phục. – Đôi lúc cậu cũng nảy ra được những ý kiến khá ra phết!