PHẦN BA
HÀNH TRÌNH ĐI VÀO SA MẠC
Chín
Sửa soạn cho chuyến đi không có ngày về

    
iểm đặc trưng dễ phân biệt của chính quyền Việt Nam là họ không bao giờ cho người trong cuộc thanh trừng biết những biện pháp dành cho họ. Họ có nhiều cách để thực hiện ý muốn của mình. Mặt Trận không còn mời tôi dự những phiên họp của họ. Đại Học lấy lại chiếc xe đạp công vụ mà họ đã cấp cho tôi để đi đến lớp giảng. Các Toà Án gửi trả lại cho tôi những lá thư uỷ nhiệm luật sư. Tôi hiểu là tôi đã bị loại khỏi mọi chức việc, đã trở thành một thứ cùi hủi, một người hạ đẳng, một kẻ bị mất phép thông công! Vì thế, tôi đành phải tìm quên trong triết học để trám đầy những giờ khắc bị buộc phải nhàn cư rỗi rảnh, để tránh phải trùm kín đầu, đeo cái chuông lúc lắc kêu vang báo cho người trên đường phải tránh không đụng tôi.
Tôi bắt đầu suy niệm bằng một câu khá nổi tiếng “mens agitate molem” (Tinh thần làm chuyển động vật chất). Khi còn trẻ, tôi nghĩ ngược lại và cho rằng thành ngữ ấy là do một anh trí thức hoặc quá cuồng nhiệt kiêu căng tự đại cho rằng mình là trên hết mọi sự dù rằng hắn chẳng phải như thế, hoặc là hắn đang trải qua một cuộc khủng hoảng mất niềm tin và đang cố vượt qua một tự ti mặc cảm đang lớn dậy trong bản thân. Tư tưởng hay trí tuệ, vì bản chất là phi vật chất thì không thể tác động trực tiếp lên quần chúng vì quần chúng là một dạng vật chất với một sức mạnh toàn diện và nó chỉ có thể là đối tượng bị tác động và chịu ảnh hưởng từ một khối quần chúng khác. Trong mọi xung đột giữa tư tưởng và vật chất, sự đối kháng của bên này đối với bên kia sẽ được giải quyết bằng sự chiến thắng của vật chất. Chính trong nghĩa này mà chủ nghĩa Marx xác tín rằng quần chúng nhờ sức mạnh vật chất của mình là người làm nên lịch sử. Nhưng quần chúng không làm nên lịch sử nếu chỉ biết sử dụng những phương tiện bạo lực của vật chất. Trong chuyện tàn phá, hay ngay cả trong xây dựng, quần chúng luôn phải nhờ đến những khả năng của trí tuệ để hướng dẫn mình cho cả hai lúc: huỷ diệt và xây dựng. Từ đó tư tưởng xen vào ảnh hưởng lên sự vận động của quần chúng. Chỉ có lúc đó, tư tưởng mới thật sự làm chuyển động quần chúng.
Nhưng tư tưởng chỉ có thể làm chuyển động quần chúng khi nó tiến hành những động thái xuất phát từ những cái nhìn sâu sắc về thực tiễn để rút tỉa, suy diễn ra cái logic của quần chúng. Tốt hơn nữa, khi quần chúng được giáo dục tốt, tư tưởng sẽ tiếp tục nhiệm vụ của mình mà gìữ vững hướng đi đúng. Vì thế người ta thấy có những những kẻ gây kích đông và những chính trị viên tiến hành đấu tranh chống lại sự thất học chính trị, gia tăng cố gắng theo dõi những sai lệch đề nhằm đưa quần chúng trở về con đường tư tưởng chính thống thẳng tắp. Và người ta có thể thấy một cảnh tượng vĩ đại trong đó quần chúng đang bày tỏ niềm tin trước một thứ đạo giáo mang tên chủ nghĩa Cộng Sản, tạo nên một khối đồng nhất sau lưng Đảng, hoàn toàn tin tưởng vào những gì Đảng khẳng định, vào chính sách và đường lối của Đảng. Chưa bao giờ người ta thấy tư tưởng lại đạt được một chiến thắng trên vật chất như thế. Sự cuồng tín của quần chúng đã đạt được một mức hiểm ác, dù trên thực tế có những vụ việc thảm khốc đã xảy ra là những chứng cớ về mức độ trầm trọng của những sai lầm đã phạm, kinh tế bị xuống cấp, sự nghèo khó của nhân dân đã gia tăng, phần lớn nhân dân, kể cả những người cộng sản chân chính nhất, vẫn tiếp tục tin vào lời hứa của Đảng là sẽ phục hồi đất nước và sẽ nhanh chóng đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội mà thế giới không còn ai tin và chính ngay những nước cộng sản trước đây cũng đã dứt bỏ. Và đây là cái nguy bị rơi xuống vách đá của những người đang đứng bên bờ vực. Từ đó, vấn đề nêu ra là chuyện nhồi sọ chính trị cho quần chúng biến họ thành cận thị hay làm cho trí thông minh của họ trở nên mù mụ, là biểu hiện của thứ con người lành mạnh hay không lành mạnh?
Cái gì đã sản sinh ra những vụ kinh hoàng và đầy tai tiếng, những điều quái gở bệnh hoạn của một tư tưởng chính trị? Đó là sự biến dạng của con người, của một thứ thói quen trí não chỉ biết thấy một phần của thực tiễn, thui chột trong khả năng đánh giá phán đoán, tinh thần phê phán bị bóp chết, và những sinh hoạt tâm linh bị giới hạn với sự phê chuẩn vô điều kiện của lãnh đạo và dưới sự kết án không thương tiếc của những kẻ gièm pha, và hoàn toàn bất chấp công lý và nhân đạo.
Kinh nghiệm xã hội và lịch sử đã cho thấy chừng nào tư tưởng trở nên điên loạn, dù bắt nguồn từ chính trị, chủng tộc hay tôn giáo áp đặt trên quần chúng, thì ngay tức khắc chuyện thả lỏng cho những hành động dã man sẽ đưa nhân loại trở về thời quá khứ nhục nhã đầy máu và chết chóc.
Cái giáo lý cơ bản mà chúng ta phải không bao giờ quên và nó phải bao trùm lên tất cả những nhận thức về cuộc sống là mỗi người phải tự nhắc mình là tất cả những cá nhân con người ai cũng có phần sự thật của riêng mình, chúng ta phải biết tôn trọng sự thực của người khác, và pháp luật, công lý, đạo đức, loài người không bao giờ cho phép một ông hay bà được quyền áp đặt cáí sự thật của mình lên người khác. Chính những người theo tà giáo từ chối không chấp nhận sự thật của Jesus mà đã đóng đinh người này trên Thập Tự Giá. Chính vì những kẻ đứng đầu trong Nhà Thờ thời Trung Cổ đã từ chối sự thật của một kẻ không tín ngưỡng hay kẻ có suy nghĩ tự do mà họ đã thiêu sống những người này trên giàn hoả. Tự do tư tưởng có thể là cái chinh phục lớn nhất của thế giới hiện đại. Nó là tiêu chí duy nhất để đánh giá mức độ của văn minh.
Khi một người nắm giữ một sự thật và tin tưởng đó là điều hay tốt, vì nhiều động cơ khác nhau, có người muốn thông đạt nó, truyền bá nó đến người khác. Không có gì cấm một người muốn truyền bá sự thật của mình đến nhiều người khác.
Nhưng những gì phải bị cấm tuyệt đối là dùng sức mạnh, bạo lực, hành động hung ác khủng bố để ngăn cấm niềm tin của những người khác. Vì lẽ, nhà cầm quyền cộng sản đã phạm một lỗi lầm không cứu vãn được là đã gắn nhãn tên cho những khác biệt về quan điểm bằng những tội lỗi không thể tha thứ được để mà trừng phạt họ một cách nặng nề. Rốt cuộc, vì lo lắng cho an nguy của mình, không ai muốn mở mồm bảo cho lãnh đạo biết những hậu quả xấu gây ra bởi thái độ của chính lãnh đạo. Nhà nước, thiếu vắng sự ủng hộ và giúp đỡ của quần chúng như con tàu đâm vào vùng san hô và chìm đi trước sự thờ ơ toàn diện. Ngoại trừ khi, với sức mạnh của mình, nhân dân vùng lên lật đổ độc tài và thay vào đó một chế độ dân chủ đa nguyên, thì cái lợi ích lớn nhất là cho phép tự do ngôn luận; dù có nhiều khác biệt, bất đồng nhưng ý kiến được tự do phát biểu trong lợi ích chung của mọi người. Giữa nhà nước và nhân dân sẽ không còn cái-không-thể-sống-chung nào nữa. Một đảng phải loại trừ đảng kia.
Vì thế, tôi biết là tôi đang phải chịu nhiều rủi ro. Nhưng hình phạt trực tiếp và tức khắc dường như chậm đến: có thể cái vòng khoá để còng tay tôi chưa được chế tạo. Chuyện phải tiêu diệt tôi đã được quyết định nhưng việc tiến hành nó phải được tổ chức tinh vi hơn. Bất kể như thế nào, tôi vẫn lo trám đầy cái khoản thời gian chờ đợi bằng cách chào từ biệt cái cách sống mà mai đây sẽ bị chôn biệt vào quá khứ.
Sau đó tôi đã qua những ngày và cả những đêm chong mắt nhoà đi với những cay đắng và thường là nước mắt, lang thang trong cái thế giới nhỏ bé mà tôi đang sống, ngày đêm đắm mình trong nỗi buồn và cái trời-ơi-đừng-bao-giờ-xảy-ra-cho-tôi. Và đây là những đồ đạc bàn ghế mà tôi thừa hưởng của cha mẹ tổ tiên: những cái bàn bằng đá cẩm thạch, những chiếc ghế bành bằng gỗ khối, những chiếc ghế ngồi, những chiếc bàn ngủ, những chiếc sofa, tất cả toàn bằng gỗ quí và chạm trổ tinh xảo bởi bàn tay vàng của một lớp người thợ thủ công nay không còn nữa. Thời gian đã làm những lớp gỗ lên nước bóng loáng. Đây là bàn thờ tổ tiên sơn son thếp vàng, bát nhang đầy tro tàn và chân nhang cắm đầy với đốm nhang đang thắp đỏ, bình hoa bằng sứ Tàu được để những chậu hoa lan vào mùa đông và những chậu hoa sen vào mùa hạ, hai chiếc tủ kiếng treo trên tường với những con rồng đang uốn lượn trên cánh cửa chứa những đồ cổ và bộ ấm trà. Tất cả những vật bất động kia chứa bao nhiêu là hơi thở của cha mẹ tổ tiên ông bà, trải qua bao nhiêu năm tháng dài để lên nước bóng loáng.
Tôi hay thích đứng hàng giờ trước cái tủ sách có bộ sách Guillaume của những tác giả người Hy Lạp và La Tinh đặt phía trên dãy sách của những tác giả người Pháp của bộ Pleiades. Tôi không hề thấy mệt khi đứng vuốt ve những cái bìa sách bằng da nâu của những cuốn sách mà tôi có dịp mua ở những tiệm sách cũ ở Paris hay từ những kẻ bán sách đã qua tay bày bán dọc sông Seine. Trên kệ sách dành cho những tác giả thời cận đại đang mang niềm hãnh diện của những tác phẩm của Valéry, Claudel, Gide, Montherlant, Mauriac, Maurois, Maurand, Giraudoux… Trên kệ chót, tôi để cái máy thâu băng hiệu Columbia và hàng trăm cuộn băng mà tôi mang về từ Pháp và nghe chúng mỗi buổi tối, thay nhạc tuỳ theo tâm trạng mình lúc ấy, một vài bản của Mozart nếu gặp lúc đang vui, bản Pavane In a Dead Infant của Ravel khi gặp lúc ưu tư sầu muộn, bản Dance Macabre của St-Saens nếu gặp lúc đang gặp những chuyện đời làm tôi kinh hãi, nhưng đặc biệt là bản Giao hưởng số 5 của Beethoven đưa tôi vào những trầm tư mặc tưởng và bản Passionnata gặp lúc hừng chí và muốn sáng tạo.
Tôi giết phần lớn thì giờ trong cái “thư viện” của tôi nơi mà mùi thơm đầy kích thích của quá khứ làm tôi vui thích và say đắm. Tôi không phải là ngưởi chỉ biết tán dương quá khứ, tôi cũng biết nhận diện và quý trọng những điều tuyệt vời của hiện tại. Trong lịch sử, trong mỗi thời kỳ, nhận loại đều qua những lúc vinh quang và lúc nô lệ khốn khổ. Sự nô lệ đượm trùm những tội ác mà nhân loại không phải là kẻ trực tiếp chịu trách nhiệm, nhưng nó đã làm hoen ố một vài giai đoạn hiện hửu của nó. Những vinh quang xảy ra cùng với những tiến bộ mang lại những điều tốt và hạnh phúc cho các dân tộc. Thời gian là yếu tố sàng lọc của lịch sử: sự nô lệ sẽ được chôn sâu trong sự lãng quên, ngoại trừ những tội ác kinh hoàng làm nổi loạn lương tâm, và chỉ có những vinh quang huy hoàng kia sẽ mãi mãi chói sáng qua thời gian và là nguồn động viên cho những tâm hồn biết suy nghĩ. Hiện tại mang những cảm xúc lộn xộn: con người có đủ thời gian để ngạc nhiên thán phục với những tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy con người tiến rất xa về phía trước của tương lai, họ phải khóc vì điên giận khi đối diện với những hành động của một vài tầng lớp chính quyền đã và đang giết những kẻ phản lại hay chống đối họ, những tầng lớp người mà hành động đã đưa con người về những thời kỳ man rợ xa xưa đầy xấu hổ. Cái hiện tại mà tôi đang sống và cái tương lai đang chờ tôi, vì thế, đẩy tôi trốn chạy về với quá khứ huy hoàng của con người, thoả mãn những khát khao hạnh phúc qua những gì mà những con người tuyệt vời nhất đã làm ra để tránh cho tôi những thống khổ hôm nay và ngày mai bởi những kẻ tệ hại nhất trong những người lãnh đạo. Nhưng trong hoàn cảnh mà tôi đang chào biệt những vật bất động nhưng chất chứa bao nhiêu tâm trí của tôi kia, tôi cảm thấy mình bị tràn ngập bởi nỗi buồn là không biết bao giờ có thể gặp lại chúng.
Nhưng nhiều ngày trôi qua. Không có bọn cai tù mang xe đến kiếm bắt tôi, với hai cổ tay trong cùm. Tôi bắt đầu ngạc nhiên. Nhưng cuối cùng tôi cũng hiểu là chuyện tiêu diệt tôi không xảy ra bằng con đường tù nhốt ở một nhà lao nào đó. Nó sẽ tiến hành trong dài hạn bằng nỗi đau quằn quại của những cơn đói. Sự tra tấn trở nên tinh vi, nó sẽ xảy ra trong một thời gian dài, không biết lúc nào dứt, giống y như một cuộc hành trình trong sa mạc, trong nghĩa trần tục nhất của vấn đề. Giống người lữ hành bị bỏ rơi trong sa mạc mênh mông, không thức ăn nước uống, không một chỗ trốn cái nắng thiêu đốt ban ngày, không một mảnh chăn chống cái lạnh cóng người ban đêm, tôi phải lê những bước chân cho đến khi tấm thân khô nước, cạn máu như một bộ xương biết đi kiệt sức bởi đói, khát, dưới cái nóng thiêu đốt của mặt trời, cái lạnh tê người về đêm, tôi sẽ té ngã trên một đồi cát nào đó và buông hơi thở cuối cùng. Bao nhiêu đau khổ đó, tất cả đều giấu mặt sau tấm mặt nạ của Thần Chết, đang bao quanh tôi, nhảy múa nhạo báng, đang chuyển mình trong một điệu múa ghê rợn chung quanh và trong chính tôi, hành hạ tôi bằng những trận cười châm biếm mĩa mai, những cú đòn giáng xuống để cho cái mong muốn được chuộc lại cái lỗi lầm là đã dám suy nghĩ khác với Đảng trở thành cái đau đớn tột cùng trước khi Thần Chết đến ca khúc khải hoàn trên đống xương trắng của tôi trong sa mạc. Chỉ có những kẻ đao phủ với những suy tưởng của quỷ dữ mới có thể sáng tạo ra thứ tra tấn bằng cái đói ở giữa một thủ đô của một nước văn minh, ngay giữa thế kỷ thứ hai mươi, giữa những kẻ thừa mứa đang tiêu phí hàng đống tiền vào những buổi chiêu đãi. Để quấy thêm nỗi đau khổ của kẻ “phạm tội” người ta còn bắt nó phải làm chứng nhân trước cảnh đói của vợ con mình mà người ta cũng buộc phải chịu dù vợ con hắn là những người vô tội.
Và Đảng phủi tay dễ dàng. Họ hợp lý vấn đề một cách thâm hiểm. “Tôi có một nhân viên, nay tôi không thích nó, tôi cho nó nghỉ việc. Có gì không đúng?”. Có một câu trả lời từ hắn: “Đây không phải đơn giản là một chuyện cho nghỉ việc, khi có một hệ thống cửa hàng nhà nước và tem phiếu, một người bị đuổi việc thì không thể mua gạo bất cứ ở đâu, cho hắn và cho gia đình, khi mà hắn không có tiền và tem phiếu chỉ dành cho công nhân viên nhà nước! Hơn nữa, các ông đã căn cứ trên điều Luật Hình Sự nào để trừng phạt một tội bất đồng ý kiến và được Thế Giới công nhận về nhân quyền? Các ông có biết được cái đặc biệt nghiêm trọng của cái án phạt mà các ông tuyên phán trong nhà nước công sản của mấy ông khi các ông lẫn lộn giữa hành chánh và luật pháp? Các ông đã kết tội tôi phải chết, một cái chết chậm và lâu cho cả một gia đình chỉ vì các ông bị mất vui? Một chuyện giả dối như thế có xứng đáng là một Nhà Nước tự cho mình là văn minh không? Nhưng con cừu thì không thể lý luận với một con sói.
Con sói có thể hùng hồn tuyên bố là nó đã tử tế cho phép con cừu được tự do hạnh phúc, nhưng rốt cuộc nó cũng không thể thuyết phục những con cừu với những lý lẽ để biện minh cho tội lỗi của mình, cũng chẳng chứng minh được gì ngoại trừ sự tàn ác và dối trá của nó. Những văn kiện linh thiêng nhất, những lời hứa trang trọng nhất luôn ẩn chứa những ảo tưởng cũng chỉ với mục đích gìn giữ cái dáng vẻ bề ngoài trong khi sự thực là đang chà đạp lên thực tế. Chủ nghĩa hình thức chỉ là một trò ảo thuật, nhưng là một trò ảo thuật tệ hại xấu xa nhất vì nó không nhằm làm vui mọi người nhưng nhằm cắt cổ họ.
Trong suốt một thời, nhân dân đã bị kinh hoàng vì tội ác của chế độ phong kiến, họ luôn luôn mơ ước một nền công lý, mong có kẻ công minh phân biệt thiện ác như Bao Công để bảo vệ những người dân chân chất chống lại những kẻ bạo quyền. Nhưng niềm mơ ước sâu thẳm nhất của người dân chưa bao giờ thành sự thật. Những kẻ to đầu vẫn cứ tiếp tục áp bức, khủng bố, bắt nạt người yếu kém vô tội. Khi mà Nhà Nước không còn bảo đảm công lý, niềm tin vào chính nghĩa cũng mất đi, những người mờ mắt vì ích kỷ tham lam, hư hỏng vì mê muội và chẳng cần “lo cho mọi người” và chằng cần lo cho có sự công bằng thì dân chúng quay ra cầu xin sự can thiệp của những quyền lực siêu nhiên, tin vào chuyện nhân quả “ác giả, ác báo”, gây gió sẽ gặp bảo, gây ác sẽ gặp chuyện ác.
Những con người tích cực thì không muốn chờ công lý của toà án “quả báo” vì nó đến quá chậm, quá lâu. Họ muốn thay một nền công lý chậm chạp và chưa bao giờ được hiện hữu một cách vững bền bằng một chế độ hoàn toàn gồm những nguyên tắc và tổ chức nhằm mang lại những gì mà nhân dân khát vọng. Luật Pháp là đoá hoa tinh khiết nhất của văn minh, toà án áp dụng luật và phổ biến Công Lý, như bản Tuyên Bố Quốc Tế Về Nhân Quyền đã mở đầu cho kỷ nguyên Dân Chủ, là những thành quả quý báu của nhân loại. Bất hạnh thay, bộ máy tuyệt vời đó chỉ chứng tỏ một thứ chủ nghĩa duy tâm, một bộ óc khéo léo ranh ma vận hành một cách chu đáo khi quyền lực đưa ra để thực hiện những ý định mong muốn. Nếu theo chế độ dân chủ đại nghị tư sản thì người dân, thông qua tiếng nói của những người đại diện và qua trò chơi bầu cử, sẽ có trong tay một phương tiện luật định để ngăn chận sự quá đà của giời cầm quyền và những lạm dụng của họ; trái lại, trong những nước cộng sản, thứ quyền lực độc tài, độc đoán sẽ khiến cho nhà lãnh đạo khuynh đảo luật pháp, chỉ áp dụng nó để bảo vệ quyền lợi của mình, xếp đặt, cơ cấu những tổ chức quần chúng và những cơ quan luật pháp sao cho những nơi này biến thành những người đầy tớ trung thành ngoan ngoãn cho họ. Luật Pháp lúc ấy mất hết cả quyền lực của mình, chỉ còn là một thứ đồ chơi nằm trong tay giới chức quyền, chỉ còn biết thú nhận cho nỗi bất lực của mình. Trong khi chờ những ngày phúc phần, ngày mà nền công lý được vận hành hết công xuất, sự tàn ác phải chịu trừng phạt, ngày mà quần chúng quá kinh tởm với những bất công của giới lãnh đạo, mất kiên nhẫn và nỗi lên làm nên Lịch Sử, nhân dân dưới chế độ cộng sản đối mặt với những kẻ độc quyền có con tim đóng kín, câm lặng sau cửa Thiên Đường không còn nghe đến lời cầu xin và ước vọng của con người, chẳng còn một giải pháp nào khác hơn là thu mình trong cam chịu và tuyệt vọng.
Chính trong một tâm trạng như thế mà tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng. Chìm trong vùng cát sa mạc của tuyệt vọng làm cạn khô giòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn, với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn của chua cay và vị đắng của mật. Không một tia sáng của niềm vui trong đêm đen của địa ngục trần gian mà tôi đang bị quét đi trong nỗi cô đơn, nhưng tôi cố gắng tự cứu mình, vượt qua cảnh địa ngục tối tăm, những cơn sóng dữ, để một ngày nào đó có thể kêu lên chuyện đoạ đày của tôi.

3. Cái đói thê thảm

Lãnh đạo thật phúc đức. Họ đã tránh cho tôi phải chịu một chế độ tù giam mà ở đó tôi có khi thành đứa hầu lo quét dọn cho các đại ca đầu gấu, cho những tay trùm phòng giam, thành nạn nhân bị bóc lột bởi bọn cai tù, bởi bọn du côn tham lam tàn bạo tước đoạt đi chút lương thực dự trữ và phải chịu những hành hạ tàn khốc của chúng. Tôi cũng không bị đưa vào những trại cải tạo nơi mà từng hàng tù nhân phải thi hành những công việc lao động đất đai dưới sự điều khiển của những ông quản giáo. Tôi được tha khỏi bị những ngày tháng dài, rất dài trong trong tù, có khi đền tận ngày lìa đời, giữa những chấn song của một căn phòng chật hẹp của công an ở một nơi nào đó mà không ai biết là ở đâu, bao trùm bởi một màn đen bí mật và huyền bí, hay bị nhốt kín ngày đêm không thấy ánh sáng mặt trời, không hít thở được không khí bên ngoài dù chỉ một phút giây, hình phạt buộc phạm nhân không được chút sinh hoạt nào trong một đêm dài vô tận ngập tràn trong tiếng inh ỏi khua vang của soong chảo và nồi đồng mà những cánh tay lực lưỡng của mấy tên cai ngục thay phiên mà đập để tra tấn cho đến khi nạn nhân biến thành kẻ khùng điên. Và, trong khi đầu óc và đôi tai bị tra tấn vì những tiếng khua đập vào thành của kim loại như muốn xuyên thủng các màng nhĩ, thì bao tử của người tù phải chịu những cơn đau thắt vì bị viêm do những thức ăn hư thối cho tù nhân ăn. Những kẻ bợ đỡ cộng sản kêu gào là những người cộng sản đã phải chịu tra tấn trong những “chuồng cọp” ở nhà tù Côn Đảo và ra sức lên tiếng tố cáo những việc làm vô nhân đạo của thực dân. Người ta có thể tự hỏi: thế thì ở mức độ hùng biện và nhiệt thành nào họ sẽ lên tiếng khi họ biết những gì đang xảy ra trong chế đô cải tạo để bành trướng chủ nghĩa công sản hiện nay?
Phúc đức thay cho những lãnh đạo nào đã tha cho tôi khỏi phải chịu những khổ đau như thế. Những kẻ đã trừng phạt tôi, cho dù là do chính ý muốn của họ, hay vô tình không hay biết vẫn là những kẻ muôn phần hiền lành so với những con người kia, những con người còn hơn quỷ dữ. Nhân dân sẽ phán xét.
Thảm cảnh đầu tiên mà tôi và gia đình phải chịu: đó là cái đói.
Cả mấy tháng qua, buộc phải mua thực phẩm và những thứ nhu yếu trên chợ đen vì tôi không còn được phát tem phiếu kể từ khi tôi bị loại, mặc dù với tất cả dành dụm có được, số tiền dự trữ ngày càng thu hẹp. Ngay từ lúc đầu, với viễn tượng những ngày khó khăn trước mắt, với dự trữ ít oi, chúng tôi bắt đầu một giai đoạn hạn chế, tiết kiệm. Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen xa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tối. Khẩu phần cơm và rau mỗi ngày một ít đi. Và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói. Họ tự hỏi tại làm sao mà các bà tự nhịn ăn để có một thân hình thon thả?
Nghĩ đến chuyện vay mượn bạn bè là điều vô ích vì chính bản thân họ cũng đang cùng số phận, đang trong cảnh chỉ đủ cầm hơi khỏi bị chết đói. Vợ tôi đã nghĩ đến chuyện bán thuốc lá bên lề đường để kiếm sống, nhưng làm sao có được mớ vốn ban đầu và có chút tiền để bôi trơn móng vuốt làm khó của những tên công an hay cán bộ thuế, để chúng để yên cho chúng tôi khó khăn kiếm sống? Tìm ở đâu những nguồn hàng mà chỉ qua con đường buôn lậu mới có được? Món duy nhất mà vợ tôi không phải bán là cái máy may để mua gạo cho gia đình, mà dùng nó để may đồ mang ra chợ bán. Nếu bà còn trẻ bà có thể đạp xe về nhà quê mua rau cải lên bán ở những nơi đông người qua lại. Nhưng tất cả những dự tính dễ thương nhỏ nhoi đó đều không thể thực hiện đã làm cho vợ tôi khóc trong sầu khổ vì không thể làm một chút gì đề mua gạo cho gia đình.
Con gái tôi dạy Toán và phải dạy ở một nơi cách xa Hà Nội 40 cây số, trong suốt bảy năm liền, đơn giản chỉ vì nó không có cha mẹ nằm trong Đảng. Nó bị ép phải từ nhiệm để có thể về dự một cuộc thi tuyển ở trường Cao Đẳng (Đại Học Sư Phạm) và đã chọn ngành Văn và ngôn ngữ Pháp. Nhưng sau 5 năm học xuất sắc và tốt nghiệp, nó chờ đợi một chân giáo viên ở một trường Trung Học ở Hà Nội. Vô ích! Cho đến một ngày có một chỗ ở Trường Chu Văn An. Cũng có một cô gái khác mong làm chỗ ấy. Hai thí sinh được đưa ra trước hội đồng giáo sư để tranh tài. Con gái tôi được hội đồng giáo sư chấm. Nhưng đứa con gái kia lại được nhận, vì cha của cô ta là một đảng viên. Trong khi chờ kiếm việc, con gái tôi phải đạp xe đi về mỗi bận 20 cây số để đi học nghề làm gốm trong một hợp tác xã ở ngoại ô Hà Nội. Nhưng đến lúc học xong, thay vì được hưởng một tí tiền bồi dưỡng người ta lại buôc nó phải trả tiền học phí. Nó muốn đóng góp được một chút gì cho ngân sách gia đình nhưng vô vọng vì không thể làm được gì.
Tôi muốn dạy tiếng Pháp tại nhà. Nhưng vừa mới bắt đầu là đã có một đám công an, chắc chắn là đã được bọn gián điệp và điềm chỉ quanh tôi báo động cho họ, xuất hiện và bảo cho tôi là dưới chế độ cộng sản không có gì là tư nhân mà được cho phép, dù chỉ là việc dạy học của những ông thầy tận tuỵ. Phải làm gì đây? Tôi không thể ra đạp cyclo như một số đồng nghiệp trẻ đang làm, không phải vì chuyện “thiên hạ xầm xì” mà chỉ vì tôi đã không còn ở tuổi để làm chuyện đó: hoặc người ta không dám gọi tôi, hoặc nếu có, số tiền công còm cõi của một hai chuyến đi không đủ để mua thuốc cho tôi lại sức với cái thân thể đã tiều tuỵ lắm rồi. Tự nhủ là không có nghề gì là đáng khinh, tôi xoay ra sửa chữa xe đạp bên vệ đường như những sĩ quan cao cấp già của bộ đội về hưu đang làm. Những kiến thức về văn chương và ngôn ngữ trở nên vô dụng trước những chiếc xe đạp hư cần sửa chữa như một quan hoạn đứng trước người đàn bà không mảnh vải che thân.
Trong thời gian đầu khó khăn, người bõ già vào làm việc ở nhà tôi từ những năm kháng chiến, hơn mười năm về trước, thông hiểu tình trạng tài chánh kiệt quệ bất khả cứu vãn của tôi, đành xin phép nghỉ việc về quê. Chúng tôi đã xem bà như một thành viên của gia đình, và chưa bao giờ nghĩ đến việc cho bà ra đi, đã quyết tâm chia sẻ ngọt bùi sướng khổ với bà. Nhưng chính bà lại khéo léo đề nghị chia tay, chúng tôi không còn cách nào hơn là đồng ý. Cuộc chia tay thật cảm động, không bên nào kềm được dòng nước mắt.
Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng. Trong số gia súc chúng tôi chỉ còn con gà mái mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên. Chúng tôi không thể giết thịt vì nó đã đáp lời kêu cứu của chúng tôi và ngày nào cũng đẻ cho một trứng. Không như trứng vịt, có thể luộc dầm nước mắm để chấm rau cải luộc, trứng gà chỉ dành cho một người, thay phiên nhau mỗi ngày một người ăn. Đó là thức ăn dinh dưỡng duy nhất mà chúng tôi còn có. Tới lúc chúng tôi không còn gì để nuôi con gà, bắp cũng không, lúa cũng không, mỗi ngày vào lúc hoàng hôn khi mà chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để kẻ qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó.
Sống trong một tình trạng như thế, con người luôn luôn đói. Vợ và con gái tôi làn da càng ngày càng tái, thân hình càng ngày càng tiều tuỵ ốm tong. Họ không dám mở mồm nói một điều gì vì sợ làm cho tôi phiền não, chỉ dám giấu những dòng nước mắt trong đêm khi một mình trên giường ngủ. Tôi biết nhưng giả tảng như không biết. Về phần tôi, chưa hơn một lần, phải khóc. Bị đói và hơn thế là phải chứng kiến những kẻ mình yêu thương phải chịu đựng cái đói hành hạ vì bao tử trống rỗng. Tôi nhường bát cơm duy nhất cho họ cáo lỗi rằng tôi không thấy thèm ăn, và có khi đặc biệt hơn với lý do là đã dùng cơm với một người bạn mà tôi vừa viếng thăm. Một sự dối trá không thể kéo dài và thuyết phục được ai, nhưng trước cái chối từ cứng đầu của tôi, hai mẹ con đành phải chia chén cơm để khỏi phí.
Vì thế tôi phải liên miên chịu đói. Sự chán nản đến cùng cực, không còn sức chịu đựng, tràn ngập toàn thân tôi như con nước tràn đê bao trùm lên mọi vùng chỉ chừa những đầu ngọn cây và đỉnh núi. Tôi có cảm tưởng như đang lịm đi trong một trạng thái mê muội với cái minh mẫn của ý thức bị đục khoét đó đây bởi những ngọn lửa. Tôi cố gượng mình đứng dậy làm một vài động tác cho giãn gân cốt thì bất chợt đổ sầm xuống trên chỗ nằm, tất cả những sức còn lại của gân cốt đã hoàn toàn biến mất. Cùng lúc đó, cái bao từ co thắt từng chặp làm cho tôi vô cùng đau đớn. Cơn đau thắt buộc tôi phải chọn cách luân phiên vừa chịu đựng vừa nghỉ ngơi trước khi bị cơn sóng dữ nhấn chìm trong sự vô thức, bất tỉnh không còn biết suy nghĩ hay cảm giác gì nữa. Rồi tôi cũng thoát được cơn đói đau thắt với cái lưng đau và một tâm hồn bầm dập quá đỗi. Tôi vừa xong bài học nhập môn về sự đói.
Trong hoàn cảnh như thế, cuộc đời tiếp tục trôi như một vòng quay tự động, cứ quay và quay đều trên một dây chuyền sản xuất, quay vô tận, trong khoảng không. Một vòng quay thay vì như thông thường là môt sự kết nối cân đối, một sự ăn khớp nhuần nhuyễn của ba trục máy để hướng đến một mục tiêu đầy sinh động: chuyển động nhờ chân tay, suy nghĩ của bộ óc và rung động của con tim để cảm xúc và yêu thương. Giờ đây thì không còn bất cứ thứ mục tiêu gì, mọi thứ đều biến mất: ngọn lửa hy vọng, giận dỗi, hận thù, cay đắng cũng chết đi, những suy nghĩ cuồng nộ như trong cơn giông bão, như điệu vũ điên cuồng ghê gớm rồi yếu dần, kéo lê, bung ra rồi biến mất như những bóng ma tan biến trước ánh sáng ban ngày. Thân phận con người bị vỡ nát trôi lạc loài vô định, như một chiếc bè trên biển cả mênh mông, phó mặc cho sóng cao, bão tố. Nó không còn là người sống, chỉ để cuộc sống trôi đi, cứ để cái u mê nó bao trùm từ đầu đến chân, như cây độc cần, chẳng cần một cú hich làm giật mình, mà cũng chẳng cần nó phản ứng cục cựa. Một sự chán ngắt mênh mông, mệt mỏi và yếu sức tràn ngập đến tận từng tế bào của cơ thể, tận từng sợi dây của linh hồn, báo hiệu cho một cái chết đang tới gần trên những bước đi không nghe tiếng.