CHƯƠNG 29

    
GƯƠI BIẾT MÌNH ĐANG ĐI ĐÂU ĐẤY CHỨ?
Tôi thức tỉnh giữa bóng tối. Tôi tỉnh ngay lập tức, hai mắt mở thao láo, nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì cả. Tôi có thể cảm nhận được nhờ các đặc điểm của thành phần không khí nơi đây (độ ẩm, độ đặc loãng) rằng mình đang ở trong một không gian kín. Không khí nặng nề đến nỗi gần như không thể thở nổi, với mùi gỗ mục, và tôi đang nằm ngửa. Một cảm giác ngột ngạt đáng sợ bao trùm lên tôi.
TA Ở ĐÂY RỒI.
Tôi có thể nghe được - không, cảm nhận được - sự sung sướng trong giọng nói của con rắn; mụ ta đang hạnh phúc với việc ký sinh trong xương sống của tôi hơn bao giờ hết. Morphine đã giúp kiềm chế mụ ta nhưng giờ đây, tại nơi này, cái rào chắn đó đã bị dỡ bỏ. Con rắn cuồng loạn ăn mừng.
NGƯƠI CHẲNG THỂ CẢN ĐƯỢC ĐÂU.
Tôi cố vươn hai cánh tay ra nhưng tay tôi chạm vào những rào chắn ở mọi phía, chỉ cách có độ chục phân. Gỗ phẳng và nhẵn. Gần một mét chiều rộng, gần hai mét chiều dài; kích thước cơ thể tôi. Đối với con người, chỉ có duy nhất một cái hộp có kích cỡ thế này.
NGƯƠI ĐANG NẰM TRONG QUAN TÀI.
Điều này không có thật. Tôi cố nhớ lại mọi thứ. Tôi đã biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu ngưng dùng morphine, vì thực sự tôi cũng đang trong tình trạng đó, không phải trong cái mộ tưởng tượng này. Tôi đã nghiên cứu, như một sinh viên khẩn khoản cầu nguyện bài kiểm tra sẽ bị hoãn lại, về việc cai nghiện. Đột ngột bỏ morphine không phải chuyện gì nguy hiểm đến tính mạng, như chuyện hay xảy ra với những loại thuốc gây nghiện khác, nhưng nó có thể gây ra những ảo giác kỳ lạ. Rõ ràng đây là một trong số những ảo giác ấy.
Có quá nhiều lý do để không tin vào chuyện này. Làm sao tôi có thể bị lôi ra từ phòng ngủ rồi bị chôn mà không hề hay biết? Nếu gỗ quan tài đã mục ruỗng đến mức này, làm sao tôi có thể ở dưới đất lâu đến thế? Làm sao trong đây vẫn còn có ôxy? Tất cả những chuyện này đều không thể xảy ra; vì thế, tôi chỉ đang bị ảo giác thôi.
Nhưng liệu những người bị ảo giác có đủ tỉnh táo để nhận ra điều đó không? Không phải tất cả mọi ảo giác đều được mặc định, theo nghĩa thông thường, là rất vô lý sao? Tôi không hề có cảm giác mình đã bị tách rời khỏi hiện thực; thực sự, chuyện này quá giống thực tế. Những người đang bị ảo giác có thể phân biệt chất lượng không khí không? Họ có nghĩ được là gỗ đóng quan tài mất bao lâu để mủn ra không, hay họ có nghĩ được bọn sâu bọ cần bao lâu để chui vào quan tài không? Nếu tôi thực sự đang chịu tác dụng của việc ngừng dùng thuốc đột ngột, tại sao tôi lại không lên cơn thèm thuốc? Vì thế dù tôi biết rằng chuyện này không thể có thật, tôi vẫn phải băn khoăn vì sao tôi lại hỏi cái câu logic đến thế?
Tôi liền nhận ra ngay những con nghiện cố bỏ thuốc sẽ mất tỉnh táo y như kiểu những triệu phú vô lo vô nghĩ mất tiền của: dần dần, rồi độp một cái. Sau khi xem xét mọi thứ cẩn thận, tôi ngay lập tức mất luôn khả năng kiểm soát xem cái gì mới được coi là đối lập hoàn toàn với một khám phá bất ngờ: thay vì tất cả những suy nghĩ của tôi cùng xuất hiện rõ ràng, chúng cùng nhau bật khỏi trí óc tôi như những nạn nhân cố gắng thoát khỏi tâm chấn động đất vậy.
Dù rõ ràng không có chỗ để nạy nắp quan tài lên, tôi vẫn điên cuồng tung những cú đấm của mình ra xung quanh, đập vào miếng gỗ bị đè nặng dưới ba tấc đất. Tôi cào xé cho đến lúc móng tay của mình tứa ra và kêu gào cho tới khi không còn chút hy vọng nào trong cổ họng. Khi còn nằm viện, tôi tin rằng mình đã biết thế nào là sợ hãi khi chờ tới đợt cắt lọc tiếp theo. Nhưng đó chỉ là trò vớ vẩn; tôi chả biết gì cả. Tỉnh dậy trong một cái quan tài và biết rằng mình chỉ còn cách chờ chết? Đó mới là sợ hãi.
Sự chống trả quá khích chẳng thấm vào đâu của tôi đã tỏ ra rất vô dụng, dĩ nhiên. Vì thế tôi ngừng lại. Dù có thể phá được lớp gỗ này ra thì tôi vẫn cứ phải chết thôi, chỉ khác mỗi phương thức: thay vì chết do thiếu ôxy, tôi sẽ bị ngạt thở trong đống đất đang bao kín quan tài. Thiếu không khí còn hơn là bị đất đè cho chết ngạt. Và thế là, yên lặng bao trùm lên cái hộp của tôi như chiếc chăn đắp trên một thây ma. Không có gì để làm ngoài việc chờ đợi, tôi quyết định sẽ làm gì cho ra dáng một chút.
Tiếng thở của tôi vọng lại, như thể cỗ quan tài là một căn phòng tồi tàn nhỏ bé bằng bê tông. Tôi sẽ nghe cho tới khi không còn nghe được nữa, rồi hơi thở yếu ớt cuối cùng của tôi sẽ tan vào bóng tối. Tôi sẽ ra đi thật nhẹ nhàng, tôi hứa với bản thân mình như vậy, bởi vì tôi - sau tai nạn thảm khốc này - đã sống lâu hơn khả năng của mình rất nhiều.
Rồi tôi nhận ra rằng chuyện này ngu ngốc đến thế nào, nghĩ về cái chết khi đang bị ảo giác. Không vấn đề gì. Bình tĩnh tự tin. Tôi đã dạy cho Marianne Engel hồi ở Đức thế nào nhỉ? Mọi bí quyết đều nằm ở cách thở. Hãy giữ chắc vũ khí bằng cách thở chậm lại. Hít vào, thở ra, hít vào, thở ra. Từ tốn. Tôi là vũ khí, tôi tự nhủ; một vũ khí sống, được tôi luyện trong lửa, và không gì có thể cản lại được.
Và rồi. Tôi đã cảm thấy. Một cái gì đó. Và cái gì đó chỉ có thể diễn tả bằng một từ tôi không muốn dùng chút nào: kỳ-bí, một từ ngu ngốc tôi bắt buộc phải đem ra sử dụng vì, rất không may mắn, đó là từ duy nhất chính xác. Tôi cảm thấy một cái gì đó đang hiện hữu. Và nó đang ở ngay bên cạnh tôi. Một người phụ nữ. Tôi không hiểu tại sao mình lại biết đó là một phụ nữ, nhưng sự thật là thế. Không phải là Marianne Engel, vì tiếng thở không giống. Mãi đến lúc ấy tôi mới biết mình có thể nhận ra cô bằng nhịp thở, nhưng tôi đã làm được và đây không phải cô. Tôi đột nhiên nghĩ tiếng thở đó có thể xuất phát từ con rắn. Có lẽ mụ già đã trườn khỏi xương sống của tôi để trực diện đối đầu với tôi. Rốt cuộc thì, chẳng ai có thể cứ nói sau lưng người khác mãi được.
Nhưng không, đây là một cơ thể người đang bình thản nằm cạnh tôi. Thật nực cười, vì quan tài - cái quan tài tưởng tượng - chẳng còn chỗ cho thêm một ai nữa. Tuy nhiên, để chắc chắn, tôi hích nhẹ vào lớp gỗ bên cạnh mình. Hơi thở của cô rất nhịp nhàng, không hiểu sao làm cho tôi cảm thấy rùng rợn.
Một bàn tay chạm vào tôi. Tôi hẩy ngay ra. Tôi ngạc nhiên thấy mình có thể cảm nhận được da thịt cô; tôi đã nghĩ thực thể này là một thứ gì đó phi vật chất. Những ngón tay của cô rất nhỏ nhắn nhưng cô vẫn đủ sức nắm lấy tay tôi.
Tôi cố tỏ ra can đảm trong khi đòi cô nói cho mình biết cô là ai, nhưng giọng tôi đã bị khản đặc. Không có câu trả lời. Chỉ có tiếng thở đều đều của cô. Tôi hỏi lại lần nữa: “Cô là ai?”
Ngón tay cô nắm chặt hơn một chút, đan vào ngón tay tôi. Tôi hỏi một câu khác. “Cô đang làm gì ở đây?”
Vẫn chỉ có tiếng thở nhẹ nhàng, đều đặn của cô. Với những câu hỏi không lời đáp, tôi đã cảm thấy bớt sợ hơn. Cách cô nắm tay tôi không còn đe dọa nữa, mà như đang trấn an tôi, rồi tôi nhanh chóng thấy mình đang bay lên, gần như thế - không, không phải gần như thế, mà chắc chắn là - đang bay lên. Lưng tôi bắt đầu nhấc khỏi đáy quan tài nơi tôi vừa nằm.
Tôi cảm thấy mình là một diễn viên trong trò ảo thuật bay với hai tay được giữ bởi một nhà ảo thuật. Tôi cảm thấy chúng tôi đang xuyên qua nắp quan tài, rồi xuyên qua lớp đất đá. Một quầng sáng màu cam lướt qua mí mắt tôi khi chúng tôi đến gần mặt đất, và tôi thậm chí còn không chắc mình còn thở không nữa.
Đất vỡ ra xung quanh khi tôi nhìn thấy ánh mặt trời, và màu cam đó rừng rực trước mắt. Tôi được nâng lên cao, cách vài phân so với mặt đất. Đất rớt khỏi ngực tôi và tôi có thể cảm thấy nó trượt xuống những dẻ xương sườn, rơi khỏi hông. Tôi đang trôi trong không trung mà không có chỗ nào để bấu víu; người phụ nữ đã không phá huyệt ra cùng tôi. Chỉ có một cánh tay của cô là trồi lên, kết nối tôi với mặt đất như sợi dây gắn với quả bóng bay. Tay cô giữ tôi trong thoáng chốc rồi thả ra và bị kéo lại vào trong mộ. Đó là lúc tôi nhận ra rằng cô không thể rời khỏi đó được: cô không phải là khách đến thăm quan tài của tôi, tôi mới là khách của cô.
Cơ thể tôi nằm trên một đống đất đá. Mắt tôi đã quen dần với ánh sáng. Tôi đang ở trên một ngọn núi và tôi có thể nghe thấy tiếng sông chảy róc rách gần đó. Thật thanh bình, chỉ trong giây lát, cho đến khi mặt đất dưới chân tôi lại bắt đầu rung chuyển. Trong giây phút hoảng loạn, tôi lo rằng người phụ nữ câm lặng đó đã quyết định kéo tôi lại xuống đất, nhưng chuyện xảy ra khác hẳn. Từ tứ phía, đất đá khẽ rung chuyển từng đợt, như những con chuột chũi dùng móng vuốt cào cấu để cố trồi lên mặt đất vậy.
Lúc đầu, chúng chỉ là những tia sáng lóe lên trong nắng. Nhưng rồi hình dạng thật của chúng bắt đầu hiện ra: những bông hoa, với những cánh hoa không màu. Khi nhìn gần hơn, tôi nhận ra rằng chúng được làm từ thủy tinh. Hoa loa kèn. Cả ngàn bông loa kèn thủy tinh nở khắp mọi nơi, với ánh sáng rực rỡ dường như tỏa ra từ chính chúng vậy.
Tôi rướn người bẻ một bông. Ngay khi tôi chạm vào, bông hoa đóng băng lại dưới ngón tay tôi. Biến từ thủy tinh thành băng, cả một nghìn bông hoa - như thể đều được gắn kết với nhau bởi một linh hồn - bắt đầu nổ tung ra thành từng mảnh nhỏ. Mỗi tiếng nổ là một từ được thoát ra, trong giọng thì thầm của một người phụ nữ, và tất cả hợp với nhau thành một bản giao hưởng nghe như tiếng của tình yêu thuần khiết. Aishiteru, aishiteru, aishiteru.
Những bông hoa loa kèn nổ tung rơi xuống núi như những quân cờ domino đổ ập về phía chân trời. Trong niềm hân hoan của câu hát Aishiteru vang vọng khắp bầu trời, ngọn núi rung lên dữ dội rồi sụp đổ, thành những bình nguyên trải ra mọi hướng. Chỉ vài giây sau khi chuyện này xảy ra, khắp xung quanh tôi những bông hoa vụn vỡ đã trở thành một cánh đồng băng trải dài ngút tầm mắt.
Tôi chăm chú nhìn cánh đồng băng hoang dại này và nó cũng tàn nhẫn nhìn thẳng vào tôi. Gió rét buốt như đến từ Nam Cực cứ quật liên hồi vào thân thể đang run bần bật của tôi. Giờ tôi mới nhận ra mình hoàn toàn trần trụi, không có gì trên người ngoài sợi dây chuyền mặt khắc hình thiên thần không bao giờ rời khỏi cổ tôi.
Ngôi mộ đã biến mất - dĩ nhiên, khi giờ đây cả ngọn núi cũng đã biến mất - nhưng có một chiếc áo nhà sư tuềnh toàng đang nằm tại nơi từng là ngôi mộ. Khi tôi nhặt nó lên ướm thử vào người mình, vài hạt đất nhỏ rơi ra rồi bị điệu vũ ba lê mạnh mẽ của gió thổi đi mất. Chiếc áo nhà sư quá nhỏ so với người tôi nhưng vì nó là tất cả những gì tôi hiện có, tôi đã mặc nó vào. Bạn có thể tưởng tượng một người bị bỏng như tôi mặc chiếc áo ni cô bé xíu thì trông lố bịch đến thế nào nhưng khi bạn đang chết rét thì lo lắng về thẩm mỹ chẳng có ích lợi gì đâu.
Chiếc áo giống hệt cái tôi đã thấy người phụ nữ Nhật Bản mặc hôm lễ hội Halloween. Không nghi ngờ gì nữa, cái áo và ngôi mộ này, thuộc về Sei.
Sự trống trải lạnh lẽo của thế giới mới này như nuốt chửng tôi. Địa điểm tồn tại của tôi thay đổi đến chóng mặt: từ cái nơi bé và tối nhất tôi có thể tưởng tượng ra, đến nơi rộng lớn và sáng sủa nhất. Trong hàng dặm quanh đấy, tôi là vật thể cao nhất, trông thật hoành tráng chỉ vì có hai chân để đứng được, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy mình thật bé nhỏ giữa bầu trời bao la. Đứng trên một bình nguyên bằng phẳng làm bạn cảm thấy vừa vĩ đại lại vừa nhỏ bé.
Chiếc áo mỏng manh chẳng chống rét được mấy, gió lạnh thấu xương. Tôi nhìn thấy gì đó, tôi đã bắt đầu bị mù tuyết, nhưng vẫn cố nheo mắt để xác định cho rõ vật kia: một sinh vật nặng nề bước đi giữa không gian trống trải ghê hồn. Hình thù đó có vẻ đang đi thẳng về phía tôi, nhưng rất khó nói chắc được giữa một nơi bằng phẳng thế này. Tôi tiến về phía nó. Nó có là gì đi nữa thì cũng không thể tệ hơn việc cứ đứng thế này, đợi đông thành đá được.
Một lúc sau tôi nhận ra cái vật thể đang tiến về phía mình ấy là một người đàn ông. Anh ta hẳn đến cứu tôi, vì nếu không đến cứu tôi thì chắc chỉ để giết tôi mà thôi. Chi tiết đầu tiên tôi nhìn ra là những lọn tóc đỏ và dày của anh ta, nổi bật trên nền tuyết trắng như vết máu đọng trên tấm khăn trải giường. Thứ tôi thấy tiếp theo là anh ta choàng áo lông thú dày cộp và đi đôi ủng cũng dày không kém. Quần anh ta làm bằng da thuộc dày dặn và áo khoác cũng được làm từ da thú. Hình như anh ta mang một chiếc túi da trên vai. Anh ta thở ra khói liên tục. Râu anh ta đọng đầy những hạt tuyết nhỏ li ti. Anh ta ở gần tôi lắm rồi. Khóe mắt anh ta hằn những nếp nhăn và tôi tin anh ta trông già hơn tuổi thật rất nhiều.
Khi đến trước mặt tôi, anh ta giơ cái túi đeo trên vai ra và nói, “Farðu í petta.” Tôi hiểu câu đó có nghĩa là gì: Anh mặc những cái này vào.
Tôi mở chiếc túi ra và thấy một bộ quần áo đầy đủ làm bằng da dày phủ lông để bảo vệ tôi. Tôi hối hả mặc quần áo vào, và nhanh chóng cảm thấy người mình ấm lên hẳn. “Hvað heitir pú?” Tên anh là gì? Tôi bất ngờ khi thấy miệng mình cũng phát ra tiếng Iceland.
“Tôi là Sigurðr Sigurðsson, và anh sẽ đi cùng tôi.” Câu trả lời đã giúp tôi khẳng định chắc chắn nhân dạng của anh ta mà khi nãy tôi đã đoán ra; nhưng không chắc lắm, bởi vì ở đây - bất kể đây là đâu đi nữa - Sigurðr cũng không bị thiêu cháy dù đó là cách chấm dứt cuộc đời anh. Điều đó làm tôi băn khoăn tại sao thân thể tôi vẫn đầy thương tổn.
“Chúng ta đang đi đâu vậy?” tôi hỏi.
“Tôi không biết.”
“Khi nào chúng ta sẽ đến đó?”
“Tôi không biết,” anh ta liếc mắt nhìn về phía đường chân trời. “Tôi đã đi được khá lâu, tôi nghĩ chắc cũng gần tới rồi.”
Sigurðr đeo một cái vỏ kiếm ở thắt lưng, thứ đã lắc qua lắc lại trên hông Sei khi họ khiêu vũ. Anh ta rút thanh Sigurðrsnautr chuôi chạm hình mãng xà ra, rồi đưa thắt lưng và bao kiếm cho tôi. “Đeo cái này vào, anh sẽ cần đến nó đấy.”
Tôi hỏi tại sao. Anh ta trả lời là mình cũng không biết.
Tôi ném áo nhà sư của Sei đi, nghĩ nó đã vô dụng khi giờ đây tôi đã có bộ quần áo bằng da. Sigurðr nhặt nó lên và đưa lại cho tôi. “Dưới Địa ngục, anh sẽ phải dùng đến tất cả mọi thứ mình có.”
Tôi buộc chiếc áo lại quanh eo, làm thành chiếc thắt lưng thứ hai cùng với chiếc mà Sigurðr vừa mới tặng cho tôi. Tôi hỏi anh ta tại sao lại biết chúng tôi phải đi theo hướng nào.
“Tôi không biết,” anh ta trả lời. Sigurðr là người khá kiệm lời. Anh ta dùng thanh kiếm của mình làm gậy đi đường, mặt băng bị cắt ra dưới mỗi nhát kiếm. Đối với một người không biết mình đang đi về đâu, những bước chân của anh ta thật quyết đoán làm sao.
“Đây có phải chỉ là ảo giác không?” Tôi cảm thấy mình cực kỳ ngớ ngẩn khi đang ở trong một ảo giác mà hỏi xem liệu đó có phải là ảo giác không bằng một ngôn ngữ tôi không hề biết. (Trên thực tế, có bao nhiêu người trên cả thế giới này biết từ “ảo giác” trong tiếng Iceland là ofskynjun?) Sigurðr trả lời rằng anh ta không nghĩ đây lại là một ofskynjun, nhưng cũng không chắc lắm.
Chúng tôi cứ đi. Đi mãi. Hằng ngày trời, nhưng mặt trời không bao giờ lặn. Có lẽ bạn nghĩ đây là một kiểu nói quá, rằng tôi thực sự chỉ muốn nói là hàng giờ, và thời gian ấy dài lê thê như thể bao ngày đã trôi qua mà thôi. Nhưng không, tôi muốn nói là hằng ngày trời. Chúng tôi cứ đi trong trạng thái cực kỳ mệt mỏi nhưng chúng tôi lại không bao giờ cảm thấy cần ngủ, và dù đầu gối tôi chẳng tử tế gì, tôi vẫn cảm thấy mình có thể đi mãi không thôi. Tôi nghĩ về những nơi ở vùng cực Bắc của thế giới, nơi mặt trời mọc liên tục trong suốt sáu tháng liền. Liệu chúng tôi có phải đi xa đến thế không?
Sigurðr vẫn tiếp tục đóng vai người nói ít, và nói tối nghĩa; hầu như trong suốt cuộc hành trình, âm thanh duy nhất phát ra từ người anh ta là tiếng nhạc nhẹ nhàng từ dưới chiếc áo da, quanh vùng cổ. Được một lúc thì tôi dừng nói chuyện với anh ta, trừ việc cố làm anh ta cười. Tôi chưa bao giờ thành công cả. Thỉnh thoảng tôi không đi tiếp chỉ để phá vỡ sự đơn điệu. Tôi nài nỉ Sigurðr chờ chỉ một phút thôi nhưng anh ta luôn nói rằng chẳng có thời gian nghỉ ngơi đâu. Khi tôi hỏi tại sao, anh ta trả lời, “Vì chúng ta cần phải đến đó.”
Khi tôi hỏi Sigurðr “đó” là ở đâu, anh ta không biết. Vì thế tôi nói với anh ta rằng, khi anh ta không biết nơi đó là ở đâu, tôi chẳng thấy có lý do gì phải tiếp tục đi theo anh ta cả. Anh ta khịt mũi, nói tôi được phép chọn làm cái việc ngu ngốc ấy, và cứ tiếp tục đi mà không cần có tôi. Ngay trước khi anh ta khuất khỏi tầm nhìn, tôi lại hộc tốc chạy đuổi theo. Vì dĩ nhiên là tôi cần anh ta - một mình tôi thì làm được gì ở cái chỗ này chứ? Và thế là chúng tôi lại nặng nhọc tiến về phía trước, tiến về cái nơi anh ta không thể định nghĩa được còn tôi thì không thể tưởng tượng nổi.
Ảo giác lẽ ra phải đẹp hơn thế này, tôi nghĩ vậy. Đi dọc bình nguyên băng giá trong hằng ngày trời thật là một việc buồn tẻ và tôi phải ngạc nhiên khi thấy mình có thể tưởng tượng ra một thứ vớ vẩn như thế, trong thời gian lâu đến thế. Lạnh cắt da cắt thịt; tuyết cuộn xoáy bay tứ tung; và sự mệt mỏi làm tôi đau đớn đến nỗi nghĩ rằng đây chẳng phải tưởng tượng. Điều duy nhất có vẻ thiếu thực tế ở đây là khả năng đi liên tục mà không cần nghỉ ngơi hay ăn uống gì của tôi.
Dĩ nhiên đây chỉ là ảo giác. Một ảo giác quá thật, quá lạnh lẽo, quá dai dẳng. Việc ngừng dùng thuốc kích thích lẽ ra không gây ra hậu quả thế này. Trừ phi…
“Sigurðr, tôi đã chết chưa?”
Anh ta cuối cùng cũng cười, “Anh chỉ là khách ở đây thôi.”
Nếu nơi đây thuộc về Sigurðr, cũng như cỗ quan tài là của Sei, tôi muốn biết nhiều hơn về nó. Về tất cả mọi thứ. Tôi quyết định loại hết tế nhị qua một bên. “Âm thanh phát ra từ cổ anh - có phải là của chiếc vòng cổ đính đá quý từng thuộc về Svanhildr không?”
Anh ta ngừng bước, có lẽ đang quyết định có nên xác nhận hay không. Anh ta chọn có. “Ừ.”
“Anh cũng có cả sợi dây gắn đầu mũi tên chứ?”
“Cái đó đã được trao cho Friðleifr rồi.”
“Tên cậu ấy đã được đổi thành Sigurðr, anh biết mà.”
Anh ta không nói gì một lúc lâu, cho tới khi trả lời với giọng nhẹ nhàng nhất tôi từng được nghe từ miệng anh. “Ừ, tôi biết. Đó là một niềm vinh hạnh lớn.”
“Anh có thể kể cho tôi nghe về Einarr chứ?”
Câu hỏi làm anh ta bước tiếp. “Câu chuyện đó không dành cho anh.”
“Tôi đã được nghe kể về nó rồi.”
Sigurðr quay lại nhìn thẳng vào mắt tôi. “Không. Anh chỉ được nghe phiên bản của Marianne Engel về câu chuyện của tôi thôi. Làm sao anh lại dám nghĩ mình hiểu được trái tim tôi, trong khi anh thậm chí còn không hiểu được trái tim của chính bản thân mình?”
Hãy để một người Viking dạy bạn nghệ thuật nói năng khi bạn ít ngờ đến nhất. Tôi ngậm miệng lại và đi tiếp.
Tôi cứ nghĩ có gì đó ở ngay phía trước, nhưng mãi vẫn chẳng thấy gì, tôi cứ nghĩ là chúng tôi sẽ đi đến một ngọn đồi nhìn xuống một thung lũng, hoặc một thảm rêu mọc trên những mỏm đá granite, nhưng mỗi “đỉnh đồi” chúng tôi gặp đều chỉ là đường chân trời hiện tại được thay thế bằng một đường chân trời mới. Tôi cầu mong sự đơn điệu này được phá vỡ, bởi cái gì cũng được. Một hòn đá tảng. Một vết móng guốc nai sừng tấm Bắc Mỹ. Một con chó kéo xe bị đông cứng. Tên một người được khắc vào băng tuyết với những chữ cái vàng rực trong nắng. Nhưng chúng tôi chỉ gặp thêm nhiều băng, nhiều tuyết. Vào ngày thứ tư (tôi nghĩ đó là ngày thứ tư), tôi dừng lại. Bỏ cuộc.
“Chẳng có gì ở đây cả. Bất cứ cái gì anh nghĩ mình có thể tìm thấy…” Giọng tôi lạc đi. “Sigurðr, anh đã đến ‘nơi đó’ hơn một nghìn năm rồi, vậy mà anh thậm chí còn chẳng biết đó là nơi nào.”
“Anh đi cho tới khi nào đến nơi thì thôi,” anh ta nói, “và giờ anh đi được đủ xa rồi.”
Nơi này chẳng khác bất cứ chỗ nào trên cái bình nguyên này cả. Tôi xoay đủ mọi hướng, vung hai cánh tay lên để nhấn mạnh điểm này. “Anh nói về cái gì vậy?”
“Nhìn lên trời đi.”
Tôi ngước mắt lên. Dù sự thật là chẳng có ai trong hàng dặm xung quanh, vẫn có một mũi tên từ đâu phóng thẳng về phía tôi.
Tôi muốn di chuyển nhưng người cứ đông cứng lại, phản ứng duy nhất của tôi là lấy hai tay che đầu. (Mặc dù, sau khi nghe tất cả những câu chuyện của Marianne Engel, quyết định có vẻ logic hơn phải là lấy tay che ngực mới phải.) Mũi tên hụt khỏi tôi độ vài phân, cắm thẳng xuống đất, và mặt đất nứt toác ra như một con quái vật bạch tạng bị gãy móng vuốt. Hàng tảng băng khổng lồ văng lên rồi nứt vỡ, điên cuồng lao vào chúng tôi. Một tảng lớn đập trúng vào vai phải của tôi, hất tôi vào một tảng xù xì khác. Trong giây phút tôi ngộ ra, chuyện này giống y như lúc tôi lái xe lao xuống vực, tất cả mọi thứ chuyển động chậm lại khi tôi nhìn sự cố xảy ra. Nước chậm chạp phun ra từ một vết nứt trên mặt đất, và cuối cùng tôi đã hiểu được tại sao chẳng có điểm gì nổi bật để chúng tôi có thể phân biệt cảnh này với cảnh kia trong suốt quãng đường chúng tôi đi. Chúng tôi có ở trên mặt đất đâu, chúng tôi đang ở trên một khối băng khổng lồ. Những tảng băng nhọn hoắt xoay tròn xung quanh tôi và chẳng mấy chốc tôi đã thấy mình bị trọng lực kéo sụp xuống lòng biển mới vừa được phát hiện.
Tôi cảm thấy lạnh thấu xương. Lớp áo da của tôi đã trở nên vô dụng; vô dụng không để đâu cho hết, thực sự là thế, vì chúng ngấm nước và làm tôi chìm xuống sâu hơn. Lúc đầu tôi còn cố quờ quạng bám vào những tảng băng trôi phía trên, bấu tay vào bất cứ chỗ nào tôi có thể bám được. Tôi cảm thấy hơi ấm nơi bụng mình, nhưng rồi nó cũng nhanh chóng tan đi. Tôi thấy những cử động của mình chậm dần, và tiếng răng tôi va lập cập vào nhau mạnh đến nỗi át cả tiếng băng nứt xung quanh; tôi băn khoăn liệu những cái sẹo lồi trên người tôi có tím tái không.
Chẳng thấy Sigurðr đâu cả. Anh ta hẳn đã bị nuốt chửng giữa những tảng băng nhấp nhô rồi. Một tảng băng quét qua sườn trái tôi và một tảng khác đập bốp vào lưng tôi. Chúng lượn lờ xung quanh tôi, khép chặt vòng vây lại và dìm tôi xuống. Bất cứ nhà khoa học nào cũng sẽ giải thích các tảng băng vỡ sẽ tụ lại trên mặt nước, và đây chính là cách chúng đang làm để lấp lại cái hố mà mũi tên gây ra. Thế là thậm chí cả trong một đại dương ảo giác thì dường như các định luật vật lý cơ bản cũng vẫn được áp dụng; điều này, không nghi ngờ gì nữa, sẽ làm Galileo nở nụ cười hạnh phúc.
Tôi không thể ngẩng mặt lên khỏi mặt nước được nữa, băng đập vào hai cái tai như hai bông súp lơ của tôi, và tôi nhắm mắt lại vì đây là điều mà một người sắp chết chìm phải làm. Tôi cảm thấy thân thể mình đã ngưng hoạt động. Vậy đây là cách mọi thứ kết thúc. Trong nước. Tôi trượt xuống dưới, và thực sự cảm thấy có chút thanh thản. Cách này có vẻ dễ chịu hơn.
Tôi không gặp vấn đề gì với việc nín thở trong hàng chục phút, suốt thời gian đó tôi lịm đi, cho tới khi tôi phát chán với việc chờ phổi mình hết hơi. Tôi mở mắt ra, nghĩ rằng mình sẽ không thể bơi xa được vài phân. Trên mặt băng đã khó xác định khoảng cách rồi, dưới cũng vậy: lại một lần nữa không có gì có thể dùng làm hệ quy chiếu. Không cá, không sinh vật nào khác, không tảo biển, chỉ có làn nước trong veo. Bong bóng nổi lên từ những nếp gấp trên quần áo của tôi và cuộn dọc theo người tôi cho tới khi chúng tụ lại ở góc mí mắt. Thật buồn cười. Trong thế giới thực, tôi không thể tiết ra nước mắt, nhưng trong một thế giới dưới nước thì tôi lại tạo ra nước mắt nhờ không khí.
Một quầng sáng hiện lên, xa xa phía trên đầu tôi. Nó phản chiếu vào trong những giọt nước mắt bong bóng của tôi và khiến tôi băn khoăn, Đây có phải là hành lang ánh sáng dẫn người chết lên Thiên đường không? Chẳng giống chút nào. Cách mọi việc diễn ra giống như một con cá răng nhọn khoe những nếp da phủ lân tinh, dụ con mồi lại để ăn thịt. Tuy nhiên, hóa ra quầng sáng đó chẳng phải con đường dẫn lên Thiên đường mà cũng chẳng phải một con cá ăn thịt. Đó là ánh sáng phát ra từ mũi tên lửa đã đâm vào băng, giờ đang nằm trong bàn tay nắm chặt của Sigurðr khi anh ta trồi lên từ dưới biển và bơi thẳng về phía tôi.
Luồng sáng (lửa không bị tắt trong nước: các định luật vật lý tự nhiên không còn chính xác trong một nơi siêu nhiên như thế này nữa) xuyên qua bộ râu của Sigurðr và hất lên những nếp nhăn quanh mắt anh ta. Mái tóc dài màu đỏ xõa trên đầu anh ta như một vầng hào quang làm từ tảo bẹ, và anh ta đang mỉm cười thanh thản, như thể đã có một chuyện gì đó rất tuyệt vời xảy ra vậy. Anh ta giơ mũi tên ra như một vận động viên Olympic truyền đuốc và, cùng lúc, chúng tôi tiếp tục chìm dần xuống nước. Ngón tay tôi nắm chặt lấy mũi tên, tôi cảm thấy cảm giác ấm áp đầy vinh quang đang truyền khắp người mình, và Sigurðr mỉm cười như một người đàn ông đã hoàn thành nhiệm vụ. Như một người đàn ông sẽ còn được nhớ đến trong ký ức mọi người. Anh ta gật đầu đồng thuận và lặn xuống sâu hơn, để tôi tiếp tục chìm một mình.
Tôi chìm xuyên qua đáy đại dương.
Chỉ còn cách mặt đất vài phân thì tôi rơi xuống. Khi tôi nhìn lên, đáy đại dương - dòng nước lẽ ra là cái trần nhà trên đầu tôi - đã biến mất. Chân tôi đang đặt trên nền đất cứng và ánh sáng đã đổi từ màu xanh ngọc của đại dương sang màu xám xịt chết chóc.
Giờ tôi đang ở giữa một cánh rừng tối tăm đầy những thân cây dị dạng xấu xí.
Tôi nghe thấy tiếng chân chạy vội qua thảm rừng, tới từ ít nhất ba hướng. Tiếng cành cây gãy, tiếng bụi rậm sột soạt. Tôi giơ mũi tên lên làm đuốc. Bóng một động vật bốn chân phóng qua giữa những thân cây, rồi một sinh vật khác thoáng lướt qua. Có bao nhiêu chứ? Hai - không, lại thêm một sinh vật nữa! Ba, ít nhất là thế! Chúng là những thứ gì? Đầu tôi loạn lên với những hình ảnh dã thú: một con sư tử, một con báo, có lẽ một con sói. Nếu chúng tấn công tôi, tôi sẽ tự bảo vệ mình bằng cái gì? Tôi có bao đoản kiếm, nhưng không có thanh kiếm; tôi có chiếc áo nhà sư, nhưng tôi không có đức tin.
Ngay trước mặt là một con đường đi xuyên qua rừng, qua một ngọn đồi nhỏ, và tôi nghe thấy tiếng một con vật nữa, bạo dạn hơn. Kia, hình ảnh nó thoáng hiện giữa những thân cây. Hình như nó đi bằng hai chân, vì thế có lẽ là một loài vượn người thần thoại nào đấy sống trong rừng chăng? Rõ ràng là không. Khi cái bóng đi ra khỏi góc khuất, tôi có thể thấy đó là một người đàn ông ăn vận giản dị, với một cái bụng bự và hàm râu lởm chởm. Khi nhìn thấy tôi, anh ta cười ngoác miệng và dang rộng hai tay như chuẩn bị ôm chầm một người bạn cũ sau bao năm xa cách. “Ciao!”
Tu devi essere Francesco.” Anh hẳn phải là Francesco. Với Sigurðr, tôi biết tiếng Iceland, với người này, tôi hiểu tiếng Ý.
“Sì,” anh ta xác nhận, nắm lấy tay tôi. “Il piacere è mio.”
“Không, vinh hạnh ấy là của tôi mới phải. Một người bạn chung của chúng ta đã cho tôi xem vài tác phẩm của anh. Chúng thật tuyệt.”
“A, Marianna!” Mắt Francesco sáng bừng lên. “Nhưng tôi chỉ là một người thợ thủ công bình thường. Tôi thấy anh có mang theo mũi tên. Tốt. Anh có thể phải cần đến nó.”
“Chúng ta làm gì bây giờ? Xin đừng nói với tôi rằng anh không biết nhé.”
Francesco cười cho tới khi cái bụng bự rung lên bần bật. “Sigurðr lúc nào cũng hơi bối rối, nhưng tôi biết chắc là chúng ta đang đi đâu.” Anh ta dừng lại một chút để gây hồi hộp. “Thẳng xuống Địa ngục.”
Bạn phải cảm phục một người đàn ông có thể nói một điều như thế với khuôn mặt nghiêm nghị đến thế, và tôi không thể nhịn được cười. “Vâng, dù sao tôi cũng nghĩ mình đang quen dần với ý tưởng đó rồi.”
“Địa ngục này hơi phức tạp hơn một chút, vì thế tốt hơn là anh không nên cười nhiều đến thế.” Nhưng, để trấn an tôi sau khi đã cảnh báo, anh ta nói thêm, “Tôi đã được cử đến đây để dẫn đường cho anh, Marianne đã nhờ. Cô ấy luôn cầu nguyện cho anh.”
“Tôi nghĩ đó là hiệu lệnh bắt đầu nhỉ.” Thế là chúng tôi bắt đầu chuyến hành trình vào Địa ngục của mình. Tôi có vũ khí phòng thân là một mũi tên lửa, một chiếc áo cà sa quấn quanh thắt lưng, một bộ quần áo chống tuyết của người Viking, một bao kiếm rỗng, và tôi có người dẫn đường là một thợ rèn thế kỷ mười bốn. Tôi không thể được trang bị tốt hơn.
Chúng tôi đi qua một loạt cánh cổng, và chẳng mấy chốc đã đứng trước một dòng sông tôi có thể nhận ra qua những câu chuyện kể trước lúc đi ngủ của Marianne Engel. “Acheron.”
Dòng sông thật khủng khiếp, với những tảng băng nhấp nhô giữa rác và những con ác quỷ hình thù quái dị. Những tảng thịt thối lềnh bềnh khắp mặt sông, như thể những cỗ quan tài ngàn năm đã được dốc thẳng xuống dòng sông máu đông này. Mùi hôi thối của xác chết phân hủy nồng nặc. Những sinh vật gần như là người, chỉ giống người ở đặc điểm hình dáng nào đó, vùng vẫy vô vọng giữa dòng nước kinh khủng ấy. Những tiếng hét cầu xin được tha thứ thốt ra từ những cái miệng van nài cầu khẩn; tôi biết những sinh vật này sẽ tiếp tục chìm xuống như thế, không được cứu vớt, mãi mãi.
Một màn sương mù hiện lên từ dưới lòng sông. Trôi bồng bềnh, bình lặng như thể đang bay trên dòng sông, là chiếc đò của Charon, người lái đò bến Mê. Nó/ông ta là một sinh vật nửa người nửa thú hình thù tối đen, cao ít nhất hơn hai mét, mặc một chiếc áo rách như tổ đỉa. Râu ông ta như được làm từ những sợi tảo biển đan lại với nhau và mũi chỉ còn một nửa, với vết sẹo nơi phần còn lại có lẽ đã bị gãy rời trong một trận chiến. Trong cái miệng méo xệch nhô ra hàm răng khấp khểnh, nhọn hoắt, đen xỉn và gãy nát. Da ông ta xám xịt, ướt sượt và thô ráp như da của một con rùa biển bị bệnh, còn bàn tay viêm khớp đang nắm lấy một cái mái chèo bằng gồ sần sùi. Hai hốc mắt của ông ta trống rỗng trừ ánh lửa rực lên bên trong: mỗi con mắt là một bánh xe lửa cháy hừng hực. Vừa lái thuyền vào bờ, ông ta vừa phun ra những từ như sấm rền hơn là tiếng nói. “TÊN NÀY VẪN CHƯA CHẾT.”
Dù chẳng phải nhỏ bé gì, Francesco vẫn trông như người tí hon khi đứng trước Charon. Tuy thế, anh ta không chịu cúi đầu chào mà đứng thẳng người lên để trả lời, “Đây là trường hợp vô cùng đặc biệt.”
Charon, giờ đã bước lên bờ, lau móng vuốt với vẻ bất hợp tác. “TÊN NÀY KHÔNG QUA ĐƯỢC.”
“Anh ấy đã đến tận đây rồi, vì thế hãy nghe chúng tôi nói. Hãy cho chúng tôi ân huệ này, chúng tôi chỉ là những người quá tầm thường so với ngài. Bao lâu rồi ông mới được người sống viếng thăm?”
“ĐỪNG CÓ HÒNG MÀ PHỈNH TA. HẮN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP QUA. NGƯƠI CHƯA ĐỦ MƯU MẸO ĐÂU.”
“Charon, đừng từ chối nhanh thế chứ. Những thế lực hùng mạnh hơn chúng tôi rất nhiều đã lên kế hoạch chuyến đi này đấy.”
Mắt Charon xoáy vào tôi như đang tìm cớ buộc tội, như thể ông ta đang nhìn vào góc tâm hồn xấu xa nhất của tôi vậy. Tôi thu mũi tên lửa lại gần người mình đến nỗi tôi sợ rằng quần áo mình sẽ cháy bùng lên mất, nhưng tôi cần hơi ấm để chống lại cái nhìn lạnh lẽo của ông ta.
Charon chuyển sự chú ý sang Francesco. “NGƯƠI CÓ THỂ NÓI TIẾP.”
“Chúng tôi yêu cầu ngài cho chúng tôi qua. Chúng tôi có mang lệ phí theo đây.” Francesco hơi cúi đầu và lấy một đồng tiền vàng ra.
“ĐÂY LÀ LỆ PHÍ CHO MỘT NGƯỜI.”
“Dĩ nhiên, ngài nói đúng rồi.” Khi Francesco ra hiệu cho tôi tiến lên phía trước, tôi liền lắc đầu. Ai mang tiền vào trong ảo giác chứ? Thế là Francesco đập nhẹ tay lên ngực, để nhắc tôi nhớ cái gì đang treo trên cổ tôi.
Tôi gỡ đồng xu khắc hình thiên thần ra khỏi chiếc dây chuyền và đặt nó vào bàn tay đầy móng vuốt của Charon. Ông ta đặc biệt chú ý đến mặt vẽ cảnh đại thiên thần Michael giết rồng. Một biểu hiện kỳ lạ thoáng hiện trên khuôn mặt người lái đò: tôi có cảm giác đó là một nụ cười mà cái miệng xấu xí của ông ta đang cố nặn ra. Ông ta đứng sang một bên và vung tay lên ra dấu bảo chúng tôi lên thuyền. Francesco gật đầu. “Chúng tôi thực sự rất biết ơn lòng hào hiệp của ngài.”
Người lái đò nhúng mái chèo xuống dòng nước bẩn thỉu và đưa chúng tôi ra giữa sông Acheron. Con thuyền, trang trí sọ và dây thừng làm từ tóc người, làm từ gỗ mục, nhưng không một giọt nước nào thấm được qua những lỗ thủng trên thuyền. Những xoáy nước nhỏ cuộn lên ở khắp mọi nơi, kéo những kẻ tội đồ sâu xuống đáy. Thỉnh thoảng, Charon dùng mái chèo của mình để đập vào một kẻ tội đồ nào đó.
Hai bóng hình ở đằng xa cố gắng bơi gần về phía chiếc thuyền trông quen thuộc đến lạ lùng. Một người đàn ông và một phụ nữ, nhưng mọi sự chú ý của tôi đều dồn về phía một người đàn ông đang gào thét, chỉ cách thuyền chúng tôi chưa đầy một mét. Ông ta uống phải một ngụm nước của dòng sông thối rữa ấy khi những kẻ tội đồ khác kéo ông xuống dưới. Ông ta quơ cào lấy mọi thứ trong tầm với và lôi một cái chân gãy rời xuống theo mình.
Nhìn vẻ mặt kinh hãi của tôi, Francesco nói, “Không ai ngẫu nhiên bị rơi vào đây cả. Địa ngục chỉ là lựa chọn vì sự cứu rỗi dành cho tất cả những ai đi tìm nó. Những kẻ bị nguyền rủa đã tự chọn số phận của mình, bằng cách cố tình trở nên nhẫn tâm.”
Tôi không thể chấp nhận điều đó. “Chẳng ai lại chọn bị nguyền rủa cả.”
Francesco lắc đầu. “Nhưng để bị nguyền rủa thì lại quá dễ dàng.”
Hai người đó giờ đã đủ gần để tôi có thể chắc chắn (hết mức có thể, rằng đó, cứ nhìn cái thân thể đang phân hủy của họ mà xem) là Debi và Dwayne Michael Grace. Họ đang cầu xin sự giúp đỡ của tôi, giơ những ngón tay - toàn những ngón tay gãy nát - về phía tôi. Những đám tội đồ còn lại cứ bám lấy họ không chịu nhả ra. Debi lẽ ra đã có thể đến được chỗ chiếc đò, nếu Dwayne không điên loạn bấu chặt lấy dì để tránh bị kéo xuống. Dì cũng ăn miếng trả miếng; cả hai đều cố biến kẻ kia thành đòn bẩy để tránh xa khỏi đám đông. Cuộc vật lộn của họ chỉ tổ đảm bảo rằng cả hai sẽ cùng chìm xuống mà thôi.
Chẳng mấy chốc Charon đã thả chúng tôi xuống bờ bên kia và lái đò trở lại nơi xung đột giữa sông. “Tôi nghĩ mình đã làm khá tốt,” tôi nói, cố mỉm cười nhưng không được. “Không phải Dante đã ngất xỉu khi ông ta nhìn thấy Charon à?”
Một ngọn núi đứng sừng sững trước mặt chúng tôi, nổi lên bên bờ sông Acheron, và Francesco lại dẫn đường.
Sườn núi lúc đầu thoai thoải nhưng chẳng mấy chốc đã dần dựng đứng lên. Chúng tôi bắt đầu phải bám vào mọi mỏm đá tìm được. Chẳng dễ dàng gì với bàn tay thiếu ngón của tôi, và tôi phải chuyển mũi tên hết từ tay nọ sang tay kia mỗi lần tôi thay đổi tư thế. Càng lên cao, cơn gió ẩm ướt thổi càng dữ dội.
Francesco khuyên tôi cất mũi tên vào trong cái bao kiếm của Sigurðr. Tôi không thấy đây là một ý tưởng hay cho lắm; tôi khá chắc rằng mấy tấm da động vật của mình không thể chống lửa. Tuy thế, tôi vẫn làm theo những gì được bảo. Hông tôi hơi nhột vì vũ điệu của lửa, nhưng quần áo không hề cháy.
Cơn gió thổi quanh chúng tôi mang theo những hình người giật đùng đùng như cá quẫy trong lưới. Tôi biết họ là ai: linh hồn của những kẻ dâm đãng, bị cuốn theo những đam mê tội lỗi trên trần gian để rồi cuối cùng bị tra tấn trong Địa ngục. Tôi nghĩ về nghề sản xuất phim khiêu dâm của mình, chẳng phải chuyện đáng tự hào gì. Tôi hỏi Francesco xem liệu nơi đây có phải điểm đến của tôi không.
“Anh chưa bao giờ biết đam mê là gì,” Francesco thét lại, “cho tới khi anh gặp cô ấy.”
Anh ta không cần phải nói tên cô; chúng tôi đều biết anh đang nói đến ai.
Tôi cố lờ đi những tiếng rú rít, của cả gió lẫn người, và rồi chúng tôi đã qua được chỗ tệ nhất. Khi cuối cùng tôi cũng thả được tay ra khỏi vách đá, những ngón tay của tôi cụp lại như càng một con tôm hùm đang hoảng sợ.
Con đường dẫn ra khỏi ngọn núi và chúng tôi tiến vào một nơi có vẻ nóng hơn. Tôi khum tay quanh ngọn lửa của mũi tên và những ngón tay của tôi cuối cùng cũng bắt đầu duỗi ra được; ngay khi có thể, tôi vội tháo lớp áo Viking của mình ra. Nhớ lời dặn của Sigurðr, tôi không vứt chúng đi.
Khi gói đống lông thú lại để mang đi cho gọn, tôi nhận ra những ngón tay cụt ngủn của mình dài ra một chút và vài sợi lông mọc trên cẳng tay tôi nơi những nang lông đã bị phá hủy. Tôi sờ lên đầu mình và thấy tóc cũng đang lún phún mọc ra. Sẹo trên người tôi có lẽ đã bớt dày đi một chút, bớt đỏ đi một chút. Tôi đã lướt những ngón tay lên người mình hàng triệu lần, như một người mù đang cố học thuộc một câu chuyện bằng chữ nổi Braille, nhưng giờ đây tôi đang đọc một câu chuyện có cốt truyện khác.
Hãy cố tưởng tượng, nếu bạn có thể, cảm giác của một người bị bỏng khi nhận ra các bộ phận trên cơ thể anh ta đang tái sinh, hay cảm giác của một người đang mọc tóc sau khi đã chấp nhận sống chung với cái đầu hói nhẵn như thịt bò nướng cả đời. Tôi phấn khích thông báo cho Francesco biết về những phát hiện của mình.
“Hãy nhớ anh đang ở đâu,” anh ta cảnh báo, “và nhớ rằng anh là ai.”
Chúng tôi đến một bìa rừng nơi những thân cây gào thét mọc ra từ những bãi cát cháy rực. Một luồng hơi nóng dữ dội phả lên, làm biến dạng mọi thứ, và những cành cây trông như đang chuyển động vậy. Lũ chim bay xung quanh, mổ vào những cành cây. “Cánh rừng của những kẻ tự sát,” Francesco nói.
Tôi nhanh chóng nhận ra đám cây cối ấy thực ra không phải là cây. Những cành cây là chân tay người, đang điên loạn vùng vẫy, máu ứa ra như nhựa cây. Những giọng nói đau đớn thoát ra từ những lỗ thủng bị chim rỉa nát - giờ thì tôi đã thấy thực ra đấy cũng không phải là chim mà là những quái nhân có cánh giống kền kền với khuôn mặt đàn bà nhợt nhạt và móng vuốt sắc nhọn như dao. Cứ mỗi lần có con nào bay gần chúng tôi thì mùi hôi thối lại xông lên.
“Giọng nói từ những cái cây,” Francesco nói, “chỉ có thể thoát ra sau khi những con ác điểu rỉa thịt họ và máu họ đã chảy. Những kẻ tự sát chỉ có thể bày tỏ bản thân qua thứ đã hủy diệt mình.”
Quod me nutrit, me destruit.” Tôi thầm thì nhỏ đến nỗi Francesco chẳng thể nghe thấy.
Khi đó tôi nhớ ra anh ta đã chủ động hít mầm bệnh của vợ trước khi yêu cầu anh trai bắn mũi tên qua ngực. “Đây có phải Địa ngục của anh không?”
“Quyết định tìm đến cái chết của tôi là tất yếu, và đó là một quyết định vì tình yêu, chứ không phải hèn nhát. Đó là một điểm quan trọng cần phải nhớ.” Anh ta ngưng lại một chút, rồi nói thêm, “Dù thế giới bên kia của tôi không phải nơi đây, nhưng cũng có một lý do khiến tôi đưa anh đến đây.”
Tôi nghĩ anh ta còn định nói thêm gì nữa, nhưng anh ta chỉ nói với tôi là chúng tôi vẫn còn cả một quãng đường dài phía trước.
Giờ tôi đang cởi trần. Da tôi thực sự đang hồi sinh. Chúng tôi tiếp tục đi qua khu rừng và tôi nghe thấy một tiếng động mà ban đầu có vẻ là tiếng vo ve của một tổ ong sôi động. Khi chúng tôi tiến lại gần hơn, tôi nhận ra đó là tiếng róc rách của thác nước gần bìa rừng. Gió thổi tóc chúng tôi bay ngược ra sau, tóc tôi vẫn tiếp tục mọc.
Thác nước này chẳng đổ xuống từ bất cứ một vách đá nào; nó cứ thế đổ thẳng từ trên trời xuống và cắt xuyên qua nền sa mạc trước mặt chúng tôi. Francesco nói tôi cần phải ném bao kiếm của Sigurðr xuống thác nước, vì nó hẳn là một món quà thích hợp. Tại sao? Và cho ai?
Sau khi tháo mũi tên lửa ra, tôi liền làm theo lời chỉ dẫn. Tôi nhìn cái móc thắt lưng lộn xuống, nẩy lên trong bọt nước, trước khi bị nuốt chửng vào cái miệng giận dữ đang ngoác ra dưới lòng thác.
Gần như ngay lập tức, một hình thù đen ngòm trồi lên và bắt đầu trèo về phía chúng tôi.
Sinh vật này có ba cơ thể cùng chụm lại trên một thân mình duy nhất. Nó có sáu cánh tay dài nhẳng, với sáu bàn tay lông lá thò vào thác nước để tìm chỗ bám, và nó di chuyển như một con nhện bò trên mạng nhện vậy. Lúc đầu tôi nghĩ hẳn phải có một vách đá đằng sau thác nước nhưng khi nó tới gần hơn, tôi có thể thấy thứ trong tay nó chỉ là nước, nó đã xoắn nước lại để làm thành một thứ thay thế sợi thừng. Con quái vật có một cái đuôi nhọn hoắt đâm thẳng vào thác nước, và dù nó vẫn còn ở xa, mùi của nó làm tôi liên tưởng ngay đến hàng đống phù du thối rữa trên bãi biển.
“Greyon,” Francesco nói, “từng là một vị vua Tây Ban Nha nhưng giờ chỉ là con quái vật chuyên đi lừa đảo. Nó là kẻ bảo vệ thác nước này, và là kẻ phải đưa chúng ta xuống Địa ngục.”
Khi Greyon trèo gần lên mặt đất, sáu cái chân của nó đẩy nước và nó nhảy thẳng về phía chúng tôi, làm một cú hạ cánh hoàn hảo với số điểm tuyệt đối.
Đó là một sinh vật khổng lồ (như hầu hết các sinh vật khác trong Địa ngục), bụng nó sáng lên với những chiếc vảy lấp lánh. Ba cái đầu của nó cao hơn cái đầu duy nhất của tôi tới gần hai mét. Các khuôn mặt đều có những nét giống nhau: tất cả đều lổn nhổn những cục bướu hằn đỏ, những cặp môi to dày che hàm răng rữa nát, và những con mắt như những viên ngọc trai đen trú trong những vỏ sò hé mở. Tuy thế, bất chấp sự xấu xí, những khuôn mặt đó lại không có vẻ lừa đảo. Cả ba cái đầu đồng loạt nói một lúc.
“CÁC NGƯƠI…”
“TẠI SAO CÁC NGƯƠI…”
“SAO CÁC NGƯƠI DÁM…”
“… MUỐN GÌ?”
“… Ở ĐÂY?”
“… QUẤY RẦY TA?”
“Chúng tôi muốn tới tầng Địa ngục tiếp theo,” Francesco trả lời.
“KHÔNG, ĐIỀU NÀY KHÔNG THỂ…”
“CHÚNG TA SẼ KHÔNG…”
“TÊN NÀY…”
“… THỰC HIỆN ĐƯỢC!”
“… GIÚP NGƯƠI!”
“… CHƯA CHẾT!”
“Đúng là chúng tôi đã đòi hỏi quá nhiều, và đúng là người này chưa chết,” Francesco thừa nhận. “Nhưng anh ấy là một người bạn của Marianne Engel.”
Cái tên dường như có ý nghĩa gì đó với Greyon và ba cái đầu lẩm bẩm với nhau. Cuối cùng, chúng quyết định bỏ phiếu - “ĐƯỢC. KHÔNG. ĐƯỢC” - trước khi đồng ý dẫn chúng tôi đi. (Ai có thể nghĩ rằng quái vật chuyên đi lừa lại là một kẻ dân chủ chứ?) Nó quay thân lại để chúng tôi có thể trèo lên cái lưng rộng bản của mình. Francesco giục tôi lên trước, thì thầm, “Tôi sẽ ngồi giữa anh và cái đuôi. Nó có độc đấy.”
Khi chúng tôi đã yên vị, con dã thú nhảy vút một cái từ vách đá về phía thác nước. Khi chúng tôi chạm vào mặt nước, tôi thấy tay của Greyon nhúng sâu xuống và nắm lấy dòng nước chảy qua tay nó như nắm lấy những con rắn trong suốt. Trong khi cố xoay xở để bám chắc vào lưng Greyon, tôi nhận thấy tay mình đã khỏe hơn rất nhiều so với lúc mới bị tai nạn. Có lúc ba cái đầu của Greyon đã phải nói là, “BÁM… CHẶT… QUÁ.”
Khi chúng tôi gần đến đáy, Francesco hét át cả tiếng rú của dòng nước, cảnh báo tôi chuẩn bị sẵn sàng cho tầng tiếp theo. Khó chịu vô cùng đấy, anh ta nói với giọng buộc tôi phải chú ý.
° ° °
Chúng tôi nhảy xuống đất và Greyon lại biến mất vào dòng thác. Tôi kiểm tra xem chính xác những thương tổn của mình đã được chữa lành đến đâu. Da tôi hầu như đã mềm mại trở lại, và vết sẹo mổ lấy tụy trên bụng tôi đã biến mất. Tóc tôi gần như đã mọc lại hết. Môi tôi một lần nữa lại trở nên đầy đặn. Những ngón tay cụt ngủn của tôi đã hồi phục được hơn một nửa và tôi dùng chúng để cọ vào mẩu ớt đang từ từ nhú lên giữa hai chân tôi.
“Giờ chúng ta đang ở Maleboge, nhà của những kẻ trụy lạc. Ở tầng Địa ngục này,” Francesco dặn dò, “tôi không thể bảo vệ anh được.”
Tôi có thể nghe thấy âm thanh như tiếng súng và tiếng khóc lóc, đến càng lúc càng gần hơn. Chẳng mấy chốc chúng đã ở trước mặt chúng tôi: một hàng dài vô tận đàn ông và đàn bà bị những con quỷ có sừng lùa đi. Thứ tôi nghĩ là tiếng súng thực ra là tiếng roi lửa của những con quỷ, quất xuống chính xác đến nhẫn tâm. Những kẻ trụy lạc sợ hãi còng lưng xuống, cuộn người lại để tránh cú đòn roi dù chỉ trong nửa giây. Tay của họ buông sõng sượt, chỉ giật nẩy lên, phản chiếu vào trong hốc mắt họ khi cái roi hạ xuống. Có lẽ những kẻ trụy lạc đã từng rất đẹp, nhưng không bao giờ còn được thế nữa; giờ đây, họ chỉ như những đống thịt bị quật tả tơi.
Người phụ nữ đứng gần tôi nhất bị đánh đến nỗi miệng phọt ra máu. Khi tôi thở hắt ra, cô đã nhận ra sự có mặt của chúng tôi. Cô nhìn lên và tôi thấy khuôn mặt cô đã bị dòi bọ ăn gần hết. Mắt phải của cô trông như một quả trứng lồi ra, còn mắt trái thì treo lủng lẳng trên dây thần kinh thị giác, cách hốc mắt đến hơn hai centimet. Cô nhìn tôi đầy lẳng lơ với con mắt trứng lồi, và liếm môi. Vì hành vi này cô đã bị cả một đoàn quân quỷ quật tơi bời tới tận khi cô quằn quại đau đớn vẫn không thôi. Da cô cứ toác ra như bị rạch bằng kéo cho tới khi cô gần như bị lột sống. Rắn lúc nhúc trồi lên từ những cái hố trên mặt đất, quấn lấy cô như những sợi xích buộc vào một chuyên gia thoát hiểm.
Sau khi cô bị lũ rắn siết chặt, lại thêm những con nữa xuất hiện - những con rắn đủ loại, với đống răng nanh quá khổ đẫm nọc độc - hiện ra từ những cái hố và sung sướng bò lên người cô. Rồi một con rắn hổ mang bò lên mặt người đàn bà lẳng lơ đó, bất động trong đúng một giây trước khi nó bổ xuống tấn công cái cổ của cô. Máu bắn vọt lên không trung trước khi rơi xuống người cô, mỗi giọt máu nổ tung thành một đốm lửa nhỏ. Ngọn lửa nhanh chóng nuốt chửng cô, và con mắt lồi của cô cứ nở ra cho tới khi nổ tung như một quả bong bóng bị bơm quá căng. Cô gào thét cho tới khi dây thanh quản cháy thành tro; cùng lúc ấy, những con mãng xà vẫn tiếp tục quấn chặt lấy người cô. Da thịt cô rời ra, như những miếng thịt mềm, lộ ra phần xương bên trong. Những chiếc xương của cô vàng rực lên, rồi đỏ, rồi đen, trước khi tan vào trong đất. Theo cách này cô đã biến vào hư không - chỉ còn lại thứ đã từng là xương sống của cô.
Xương sống của cô thực sự cũng không phải xương sống; xương sống của cô là một con rắn nhìn thẳng vào tôi từ trong cái tổ tro của nó. VÀ NGƯƠI KHÔNG THỂ CẢN ĐƯỢC ĐÂU.
Con rắn cứ hả hê nhìn chòng chọc vào tôi dù nó đã bắt đầu run lên và những dải xương sườn mới đột ngột tung ra từ hai bên thân nó như những ngón tay phá tung miếng nhựa căng cứng để thoát ra. Tiếp theo, xương tay và xương chân trồi ra. Tàn tro của con người tội lỗi vừa bị thiêu cháy ấy bắt đầu tái tạo thành các mô trên cơ thể người, đầu tiên là tạo hệ bài tiết, rồi đan thành hệ tuần hoàn. Những dòng chất lỏng màu đỏ chảy ra khỏi mặt đất rồi thấm vào người cô để làm thành các mạch máu mới. Các cơ cuộn lại quanh xương như những dây trường xuân mọc trên hàng rào, và da trồi lên khỏi đất như một tấm chăn căng ra trên cái hình hài xương xẩu. Tóc mọc lên và hai con mắt mới nhô ra từ hốc mắt. Người đàn bà lẳng lơ đã được tái tạo, không phải trong hình dạng bị đánh thê thảm như khi tôi thấy lúc đầu, mà trong hình dạng hẳn phải là của cô khi cô còn sống trên trần gian. Cô có vẻ đẹp hình thể tuyệt vời như bất cứ người phụ nữ nào tôi từng thấy.
Cô bước khỏi mặt đất và tiến một bước về phía tôi, hai tay cô dang ra để ôm lấy tôi. Cô trông mới quyến rũ làm sao, làn da mềm mại và cặp hông hấp dẫn. Những con quỷ, từ nãy giờ vẫn đang canh những kẻ trụy lạc khác, giờ mới nhận ra sự tái sinh hoàn thiện của cô, liền xông tới quất roi vào người cô trước khi cô có thể chạm được vào tôi. Cô bị lùa lại vào hàng tội đồ và vòng tròn luẩn quẩn giờ đã rõ ràng: cô sẽ lại bị đánh tới lui giật lùi, cô sẽ lại bị lũ rắn trói, và cô lại một lần nữa bị lửa thiêu thành tro. Chuyện này sẽ lặp đi lặp lại, vĩnh viễn, với cô cũng như với tất cả những kẻ tội đồ khác trong tầng giam những kẻ lẳng lơ này.
Tôi giờ đã hiểu vì sao Francesco lại cảnh báo tôi phải cẩn thận với tầng Địa ngục này, bởi trong quá trình ả đàn bà lăng loàn được tái sinh thì quá trình hồi phục của cơ thể tôi cũng hoàn thành. Dòng nham thạch từng là da của tôi đã hoàn toàn bị đẩy lùi và chẳng còn bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ tôi đã bị bỏng. Cơ thể của tôi lại hoàn hảo như cái thời hoàng kim của nó trước vụ tai nạn; vết tích duy nhất còn sót lại là vết sẹo bẩm sinh trên ngực. Tôi, cũng giống như ả lẳng lơ kia, được hồi sinh thành một con người trọn vẹn, đẹp đẽ.
Dù không hề muốn, tôi vẫn quỳ sụp xuống đất và bắt đầu khóc. Và khi đã khóc thì tôi không thể dừng lại được.
Cho tới tận ngày hôm nay, tôi vẫn chưa hiểu được lý do thật sự vì sao tôi khóc. Có phải tôi khóc vì số phận ả quá giống với số phận của chính bản thân tôi không? Có phải bởi tôi đã có lại hình hài mà tôi không bao giờ nghĩ mình có thể lấy lại không? Hay bởi khi ở trong thế giới thực, cơ thể của tôi đang chìm trong ảo giác gây ra bởi đột ngột ngừng dùng morphine?
Tôi không biết câu trả lời là gì. Nhưng rốt cuộc tôi cứ tiếp tục khóc, đơn giản vì tôi sung sướng khi tuyến lệ của tôi đã hoạt động trở lại.
Francesco nhẹ nhàng chạm vào vai tôi. “Styx đang ở phía trước rồi.”
Dù đang mất phương hướng, tôi vẫn biết được có cái gì đó không ổn. Xét cho cùng, tôi cũng được nghe Địa ngục trong hai kiếp khác nhau rồi; tôi biết chúng tôi lẽ ra phải đụng độ Styx sớm hơn thế này nhiều. Lau khô nước mắt, tôi nói thế với Francesco.
“Nhưng đây là hành trình của anh,” Francesco nói, “chứ không phải của Dante.”
Chúng tôi đi về phía bờ sông, nơi một con thuyền đang vun vút lướt tới, như thể nó biết chúng tôi đang đến vậy. “Người lái đò là Phlegyas, con trai của thần chiến tranh Ares. Khi con gái Coronis của ông ta bị Apollo cưỡng hiếp, Phlegyas đã châm lửa đốt ngôi đền của vị thần. Apollo đã bắn tên giết chết ông ta và bắt ông ta phải chịu hình phạt này.”
Điểm nổi bật nhất ở Phlegyas là một tảng đá lớn, góc cạnh, bay lững lờ trên cái đầu nhỏ bé của ông, như chực đâm bổ xuống đất bất cứ lúc nào. Vì thế, ông luôn phải ngước đôi mắt khốn khổ của mình lên để xem xét tình hình. Từng mái chèo ngập xuống nước đưa ông tiến lại gần chúng tôi hơn và tảng đá cứ tiếp tục đi theo, không bao giờ rời khỏi vị trí buồn tẻ của nó. Da của Phlegyas đã trở nên vàng vọt vì thiếu ánh nắng; những mạch máu trên mặt ông nổi lên như lưới nhện màu tím và mái tóc ông cứ rụng ra từng búi một. Hai cánh tay dài khẳng khiu thòi ra từ cái áo choàng từ lâu đã đổi màu vì mồ hôi đọng lâu ngày.
“Kẻ này là ai mà dám mang mũi tên đến bờ sông ta cai quản?”
Nỗ lực hăm dọa của Phlegyas không thành do ông còn mải tập trung chú ý vào hòn đá trên đầu. Dù ông đã cố trợn trừng mắt lên, mắt ông vẫn liếc nhìn những cử động nhỏ nhất của hòn đá.
“Ngài hãy tha thứ cho người bạn ngốc nghếch của chúng ta,” Francesco nói, “vì anh ấy còn trẻ và vẫn chưa chết.”
“Giải thích được khá nhiều đấy.” Phlegyas phấp phỏng ngoẹo đầu sang trái một chút, trước khi cho phép nó quay lại vị trí ban đầu ở chính giữa hai vai ông.
“Ngài sẽ đưa chúng tôi qua sông để anh ấy có thể hoàn thành cuộc hành trình của mình chứ?”
“Sao ta phải làm thế chứ? Kẻ này đã chết đâu.”
Francesco bắt đầu nói. “Anh ấy là bạn của…”
“Marianne Engel,” Phlegyas cắt ngang. “Chẳng liên quan gì đến ta.”
Người lái thuyền chống mái chèo xuống đất để xoay thuyền lại, nhưng Francesco đã gọi với theo, “Chúng tôi rất cần sự giúp đỡ của ngài, Phlegyas.”
Vì tò mò, có lẽ vậy, Phlegyas đã quay mặt lại đối diện với chúng tôi. “Sao lại thế?”
“Nếu ngài biết Marianne, thì ngài cũng biết đây là một cuộc hành trình vì tình yêu.”
“Ta quan tâm gì đến tình yêu?”
“Không phải chính tình yêu dành cho con gái đã đưa ngài đến đây sao? Chẳng lẽ ngài lại muốn để một người nữa bị mắc kẹt mãi mãi trong Địa ngục, nơi không dành cho anh ta sao?”
Lần đầu tiên, Phlegyas có vẻ quan tâm tới tôi hơn hòn đá. “Nói cho ta nghe về tình yêu ngươi dành cho người đàn bà này.”
Tôi trả lời thành thật hết mức. “Tôi không thể nói được.”
Phlegyas nhíu mày. “Thế thì việc gì ta phải chấp nhận thỉnh cầu của ngươi chứ?”
“Bất cứ người nào nghĩ rằng mình có thể diễn tả được tình yêu,” tôi trả lời, “cũng đều chẳng hiểu gì về tình yêu cả.”
Câu trả lời này có vẻ đã làm Phlegyas thỏa mãn và ông đã vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi lên thuyền mà không đòi lệ phí gì cả. Khi chúng tôi vượt sông Styx, mắt tôi cứ dán chặt vào ba ngọn tháp đỏ cháy rực ở đằng xa.
“Dis,” Francesco nói. “Trung tâm của Địa ngục.”
Chúng tôi được thả xuống một nơi có cánh cổng sắt khổng lồ. Cánh cổng này được các thiên thần nổi loạn canh giữ, với đôi mắt thăm thẳm không chút thương xót cứ nhìn chúng tôi như đang phán xét mọi thứ. Họ trần truồng và vô giới tính, với làn da trắng sáng lấp lánh chi chít những cái nhọt lớn; từ lưng họ mọc ra đôi cánh đang tan chảy, và thay vì vòng hào quang, họ có mái tóc rực lửa.
Chỉ huy của những Thiên thần Nổi loạn tiến lên phía trước. “NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC QUA. TÊN NÀY CHƯA CHẾT.”
“Tôi nghe thế nhiều rồi,” tôi nói.
Francesco ném một cái nhìn khó chịu về phía tôi trước khi chuyển sự chú ý sang người thủ lĩnh. “Anh ấy còn sống hay đã chết cũng không phải việc ngài phải lo. Những luật lệ đó không được áp dụng tại cánh cổng này, vì định mệnh của anh ấy là phải bước qua nơi đây.”
“VẬY HẮN LÀ AI?”
“Người được chọn,” Francesco trả lời, “người đến Diêm phủ khi còn sống.”
Tuy nhiên, dù anh ta có xác định danh tính của tôi thì với họ cũng chẳng có ý nghĩa cả. Với giọng nói như sấm rền và những hành động dữ dội, những thiên thần từ chối tất cả những gì anh ta đề nghị. Rõ ràng người dẫn đường của tôi cuối cùng cũng gặp phải một rào cản mà anh ta không thể dùng lời ngon ngọt để đưa chúng tôi qua được.
Chúng tôi đi ra xa khỏi mấy thiên thần để bàn tính với nhau. Tôi hỏi bây giờ chúng ta có thể làm được gì, và Francesco nhìn tôi cứ như câu hỏi của tôi cực kỳ ngu ngốc ấy.
“Chúng ta sẽ cầu nguyện,” anh ta nói.
Khi tôi đáp lại rằng tôi sẽ không cầu nguyện, anh ta đã mắng tôi một trận. “Anh đang ở trong Địa ngục đấy. Anh nên bắt đầu đi là vừa.”
Francesco lấy mũi tên lửa ra khỏi tay tôi và cắm mũi nhọn của nó xuống đất, rồi trải bộ áo da thú của người Viking ra để chúng tôi quỳ lên. Tiếp theo, anh ta cởi áo ni cô của Sei ra khỏi thắt lưng của tôi và nhanh chóng xé toạc nó ra. Anh ta buộc một mảnh vải mỏng dài quanh đầu tôi cho tới khi tầm nhìn của tôi hoàn toàn bị che khuất. Khi nghe tiếng vải thắt thắt buộc buộc, tôi đoán chắc là anh ta đang che mặt chính mình.
Đây là lần đầu tiên tôi cầu nguyện trong đời và tôi cảm thấy không tự nhiên lắm, nhưng sau tất cả những gì Francesco đã làm cho tôi, ít nhất tôi cũng phải tôn trọng đề nghị của anh ta một lần. Tôi có thể nghe thấy giọng của Francesco, thì thầm bằng tiếng Latin, khi anh ta đang ca ngợi Chúa và xin Người chỉ dẫn. Về phần mình, tôi cầu nguyện cho ảo giác của mình mau kết thúc. Và cho Marianne Engel được an toàn, dù cô đang ở đâu.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân đang đến gần và tiếng lách tách trong không trung. Tiếng ấy đến gần hơn, gần hơn…
“Đừng nhìn,” Francesco ra lệnh. “Họ gọi Medusa đến đấy.”
Và rồi tôi nhận ra tiếng lách tách phát ra từ đâu: chúng được tạo nên bởi những cái lưỡi của lũ rắn là tóc mụ ta. Chúng đang thò ra để ngửi tôi, sinh vật sống đầu tiên đến thăm Địa ngục trong hàng thế kỷ, và một con rắn dè dặt lấy lưỡi liếm vào má tôi. Rồi một con khác, một con khác, và một con khác nữa. Da tôi, giờ đã lành hẳn, đã hoàn toàn lấy lại cảm giác, và oái oăm thay, tôi lại phải cảm nhận nụ hôn của một trăm con rắn. Chúng cố đẩy cái đầu tam giác của mình luồn xuống dưới cái khăn bịt mắt của tôi, để kéo nó lên, để bắt tôi nhìn vào quái vật đầu rắn, nhưng tôi giữ chắc cái khăn ở nguyên vị trí.
Medusa, gí mặt mình cách mặt tôi chỉ độ vài phân, bắt đầu cất tiếng suỵt suỵt. Hơi thở đầy xú uế của mụ phả ra trước mặt tôi và tôi có thể hình dung ra cái lưỡi rắn của mụ. “Nhìn. Nhìn vào ta. Ngươi biết mình muốn thế mà. Đâyy chỉ làà một ảoo giácc. Ngươi định bỏ đi mà không tận hưởng hết những gì mà giấc mơ của ngươi đem lại sao? Ta chỉ giúpp thỏaa mããn lòng hiếu kỳỳ của ngươi thôii.”
Tôi biết quá rõ. Nếu phải biến thành một bức tượng, tôi thà bị biến dưới tay Marianne Engel còn hơn dưới cái nhìn của con quái vật đầu rắn này.
Mặt đất dưới chân tôi bắt đầu rung chuyển như một cơn động đất nhỏ. Tôi có thể cảm nhận được những con rắn trên đầu Medusa đã tản ra khỏi mặt tôi. Cơn chấn động tiếp tục mạnh dần lên và chẳng mấy chốc cả không khí cũng rung chuyển, như thể nó đang tách ra để lấy chỗ cho một cái gì đó được sinh ra vậy. Những cánh cổng sắt bao xung quanh Dis kêu răng rắc như một con quái vật dữ tợn đang vật lộn để thoát ra, và những Thiên thần Nổi loạn rộ lên tràng cười hân hoan sung sướng. Tôi cảm thấy Medusa giật bắn ra, và nghe thấy tiếng chân thoái lui của mụ ta. Tôi nghĩ đây là một trò bịp và hỏi Francesco rằng liệu có thật mụ ta đã đi rồi không.
“Tôi nghĩ vậy, nhưng vẫn phải cẩn trọng. Tốt nhất là cứ giữ nguyên khăn bịt mắt như cũ.”
Tôi có thể nghe thấy tiếng cành cây lìa khỏi những thân cây chết, và bụi đất cuộn lên mù mịt làm tôi phát ho. “Chuyện gì đang xảy ra vậy?”
“Tôi đã cầu nguyện xin một Sứ giả của Thần thánh tới đây,” Francesco trả lời, “nhưng tôi e rằng lời cầu xin của một người tầm thường như tôi sẽ không được đáp lại.”
Dù có thể Medusa vẫn đang ẩn nấp đâu đó, tôi không thể không tháo khăn bịt mắt ra được. Xét cho cùng, mấy khi người ta có cơ hội nhìn một Sứ giả Thần thánh? Bầu trời, kể từ khi chúng tôi bước vào đã luôn rặt một màu đen ngòm, giờ trông như thể Chúa vừa nhỡ tay đánh rơi bảng màu của Thiên đường và tất cả những nét đẹp tuyệt trần của Sự sống đang ào xuống từ trời cao. Trên đỉnh sắc màu ấy, với những dải sáng vàng óng ánh trải dài sau lưng, là Thực thể đẹp nhất tôi từng thấy.
Rõ ràng, bất chấp lời khuyên của chính mình, cả Francesco cũng không để cơ hội trôi qua uổng phí. Anh ta tháo băng ra và cố không nhìn thẳng vào vị Sứ giả, như thể muốn thể hiện lòng thành kính, nhưng không thể không nhìn. Với giọng nói tràn ngập niềm ngưỡng mộ tôn kính, anh ta nói, “Ngài thực linh thiêng.”
Tôi choáng ngợp đến nỗi không làm được gì ngoài việc lặp lại lời anh ta nói. “Linh thiêng.”
“Michael,” Francesco thì thầm. “Đại Thiên thần.”
Michael có lẽ cao tới hơn hai mét và mái tóc của thần thả xuống sau lưng như một dòng sông hoang dại vàng óng ả trong nắng. Hai đôi cánh không chút tì vết với sải cánh dài ít nhất bốn mét rưỡi mọc ra từ lưng thần, và thần lướt đi như thể gió tồn tại chỉ để mang thân thể hoàn mỹ của thần đi vậy. Làn da thần tỏa sáng như những tia nắng mặt trời rực rỡ nhất và thần có một đôi mắt to rực lửa. Dù thần có chung đặc điểm này với Charon, nhưng cảm giác mang lại thì hoàn toàn trái ngược: trong khi đôi mắt của người lái đò khiến ông ta trông gian giảo, đôi mắt sáng chói của Michael lại khiến người ta không thể nhìn thẳng vào.
Vị Đại Thiên thần nhẹ nhàng đáp xuống trước cánh cổng dẫn vào Dis. Những Thiên thần Nổi loạn, không dại gì đứng ngáng đường, đã đồng loạt dạt sang hai bên. Những luồng không khí lấp lánh nhảy múa khắp xung quanh Michael, lung linh run rẩy như thể cả chúng cũng không dám chạm vào thần. Tôi có thể miêu tả những màu sắc đó nhưng chẳng thể gọi tên chúng; chúng không tồn tại trong bảng quang phổ của mắt người. Lần đầu tiên tôi nhận ra những người bị mù màu đã nhìn thế giới như thế nào, vì những màu sắc đó làm tôi cảm thấy như thể mình đã luôn luôn nhìn mọi thứ, cho tới tận giây phút ấy, chỉ với một góc nhỏ nhất trong khả năng tiềm tàng của mình.
Vùng đất nơi Michael đang đứng không còn là đống tro bùn của Địa ngục nữa, mà giờ đã xanh tươi mướt mát. Những thân cây cháy rụi phủ bóng lên chúng tôi với những cành cây khẳng khiu trơ trụi giờ đã sum suê tươi tốt. Michael giơ tay lên với một vẻ duyên dáng khó tả và những vệt gỉ sét xấu xí bám trên cánh cổng bị thổi bay ngay lập tức. Ngón tay của thần chỉ lướt nhẹ trên cánh cổng, nó liền bật mở.
Đại Thiên thần quay về phía chúng tôi. Francesco cúi đầu làm dấu thánh. Tôi cứ ngẩng cao đầu, hai mắt tập trung nhìn thẳng. Không giống Francesco, vì tôi chưa bao giờ trông mong được nhìn thấy thần thánh, tôi chẳng phải lo ngại về điều sẽ xảy ra nếu tôi nhìn thấy cả.
Michael mỉm cười.
Trong giây phút ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra mình không bị ảo giác. Tôi thực sự đang ở dưới Địa ngục, và tôi thực sự đang đứng trước mặt Thánh thần. Không nghi ngờ gì nữa: tôi quá người để có thể tưởng tượng ra thứ gì như nụ cười ấy. Đó là một nụ hôn lướt lên tất cả những bí mật tồi tệ nhất của tôi, làm chúng tan biến ngay lập tức.
Với một cái đập cánh nhẹ nhàng, Michael lại bay vút lên, như một cơn lốc xoáy quét qua mặt đất. Phía sau thần là những dải sắc màu thần mang đến, vụt bay biến lên theo thần. Màu xanh mướt của cỏ một lần nữa lại bị thay thế bởi màu xám ảm đạm của bùn. Vẻ tốt tươi của những thân cây giờ đã cạn kiệt. Những cánh cổng lại bám đầy gỉ sét, nhưng vẫn đang mở. Những màu sắc biến đi như nước tắm trong bồn chảy xuống lỗ thoát nước, chỉ có điều cái lỗ thoát nước ấy ở tít trên trời. Nơi Michael biến mất, những dải màu sắc cuối cùng đã đi theo thần qua cái lỗ nhỏ tí trên vòm Địa ngục.
Khi Francesco cuối cùng cũng thốt lên được, sau vài phút đông cứng như tượng, anh ta nói, “Anh phải đi qua cánh cổng này một mình thôi.”
Tôi bắt tay Francesco. Cảm thấy hành động ấy chưa đủ thể hiện tình cảm, tôi nói với anh ta rằng tôi không biết phải cảm ơn anh ta như thế nào.
“Chính tôi,” Francesco nói, “mới là người phải cảm ơn anh. Tôi không chỉ làm chuyện này vì Marianna; tôi còn làm để trả ơn nữa.”
“Vì cái gì?”
“Cha tôi là một cung thủ tên Niccolò, ông đã bị giết khi còn trong đội quân condotta của Đức. Nhưng bạn ông là Benedetto đã trốn thoát với sự giúp đỡ của hai cung thủ người Đức, và ông ấy đã mang cây cung của cha tôi tới Firenze.” Francesco, khi nói đến đây, đã siết chặt tay tôi. “Cây cung đó là tất cả những gì tôi biết về cha mình.”
“Bản Địa ngục của tôi từng là của cha anh sao?”
“Phải. Ông ấy muốn anh giữ nó.” Francesco cúi đầu thật thấp. “Grazie.”
Những Thiên thần Nổi loạn không dám cản đường khi tôi đi qua cổng. Tôi biết thứ tôi sẽ thấy tiếp theo là gì: tầng Địa ngục thứ sáu, ngôi nhà của những kẻ dị giáo, đầy những nấm mộ và bia đá rực lửa. Nhưng giây phút bước qua cổng, tôi thấy mình không còn ở trong Địa ngục của Francesco nữa. Thay vào đó, tôi thấy mình đang đứng trên một vách đá trông xuống biển. Khi tôi quay người lại để nhìn về phía sau, cánh cổng của Dis đã biến mất.
Chim hải âu cắt mặt nước với những tiếng kêu quác quác đầy hân hoan. Thảm cỏ ướt đẫm sương mát lạnh và tôi có thể cảm nhận được từng ngọn cỏ cù vào da chân mình. Thân thể tôi lúc này hoàn toàn trần trụi, da tôi đã lành lại hẳn; y phục mặc trên người giờ đã biến mất, và tôi cũng không còn sợi dây chuyền có xâu đồng xu nữa. Đang là bình minh, làn gió nhẹ thổi mát lạnh, và tôi cảm thấy mình thực sự đang sống.
Cách tôi khoảng bảy mét về phía bờ vực, một bóng hình đơn độc đang đứng bất động, dõi về phía biển. Dĩ nhiên tôi biết đó là ai. Khi tiến lại gần hơn, tôi thấy cô có vẻ hơn bốn mươi tuổi nhưng có nét gì đó rất già dặn trên vẻ mặt cô, khi cô phóng tầm mắt ra hàng dặm nước phía xa. Mái tóc cô buộc gọn sau gáy, chiếc khăn choàng phủ ngay ngắn trên vai, buộc chặt lại nơi ngực. Gấu váy của cô có những vết sờn nhỏ và đất bám đầy trên ủng cô. Tôi gọi tên cô: “Vicky.”
“Vâng.” Mắt cô không rời đường ranh nối biển và trời.
“Cô có nhìn thấy anh ấy không?”
“Tôi thấy anh ấy ở khắp mọi nơi.”
Tôi nhìn ra phía đường chân trời. Chẳng có con thuyền nào trên khắp đại dương cả. Chỉ có sóng nước đơn độc trải dài vô tận.
Tôi dịu dàng hỏi. “Cô có nghĩ là Tom sẽ quay trở về không?”
“Anh nghĩ đó là lý do tôi đứng ở đây à?”
“Tôi không biết.”
Một lọn tóc tuột khỏi búi tóc quấn sau đầu Vicky. Cô buộc nó lại. “Dĩ nhiên rồi.”
Ngọn gió quất vạt váy vào chân cô. Sóng đánh vào những tảng đá phía dưới chúng tôi. Suốt một lúc lâu, chúng tôi không nói gì cả. Tôi nghĩ mình đã đi đến cùng chuyến hành trình Địa ngục này rồi. Đây là hồn ma cuối cùng. Chúng tôi đứng đó, cai quản cái góc nhỏ cô đơn ở nơi tận cùng thế giới, mỗi người đợi một thứ mà mình biết rõ là không có quyền hạn gì với nó cả.
“Anh không mang theo mũi tên lửa,” cuối cùng Vicky cũng nói. Cô nói đúng. Tôi đã để nó lại ở chỗ những cánh cổng dẫn vào Dis, cắm sâu xuống mặt đất thay cho bệ thờ của tôi. Có lẽ nó vẫn còn đang cháy, một minh chứng cho việc tôi đã đến đó. “Không sao cả. Ở đây anh không cần đến nó.”
“Tôi sẽ phải làm gì tiếp theo bây giờ?”
“Có lẽ cũng đến lúc anh phải chờ.” Cô giẫm mạnh gót ủng vào lòng đất và chỉnh cho hai vai mình thêm cứng cỏi trước làn gió biển. “Tình yêu là một hành động chúng ta phải lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ.”
Trong giây phút đó, tôi đã được phép nhìn vào cái hư không bao la trong sự tồn tại của cô: cô thực sự sẽ mãi mãi đứng đó, đợi Tom trở về. Theo như những gì tôi biết, cô vẫn chưa nhận ra sự trần trụi của tôi. Tôi ngờ rằng cô không để ý đến bất kỳ cái gì ngoài lời hứa của dòng nước đang trải dài trước mặt mình.
“Đây không phải nơi dành cho tôi,” tôi nói.
“Anh có chắc không?”
“Tôi nghĩ mình sẽ đi vào đất liền.”
Cô không hề rời mắt khỏi biển. “Chúc may mắn.”
Có gì đó tôi không sao hiểu được trong cái cách cô chúc may mắn - cho tới khi tôi bước những bước đầu tiên. Tôi có cảm giác đất đang rung chuyển như thể chuyện gì đang xảy ra phía sau tôi, phía dưới tôi, xung quanh tôi. Trong giây lát tôi băn khoăn không biết có phải đó là Michael đang trở lại không, cho tới khi tôi nhìn thấy bờ vực đang dịch chuyển. Sợ nó sẽ sụp dưới chân mình, tôi nhảy bật lên. Tiếng đất nứt toác phía sau lưng, và tôi tung chân lên nhanh hết mức. Khi ngoái nhìn lại phía sau, tôi đã nghĩ mình sẽ thấy vách đá đổ sụp sau lưng.
Nhưng vách đá không sụp đổ. Bờ vực đang đuổi theo tôi, luôn luôn giữ một khoảng cách nhất định dù thực tế là tôi đang chạy bán sống bán chết. Tôi cảm thấy tiếng suỵt quen thuộc lại hiện lên trong xương sống của mình. TA Ở ĐÂY RỒI.
Ý nghĩ đầu tiên của tôi là tôi đang chạy theo quán tính, trên một cái cối xay, nhưng không phải thế. Khi tôi nói bờ vực đang đuổi theo tôi, là tôi nói theo nghĩa đen đấy. Những tảng đá liên tục thay đổi hình dạng để bám theo tôi, giữ tốc độ sao cho tôi không thể nào đi xa khỏi vực thẳm được. Khi tôi chạy dạt sang một bên, vách đá xoay tròn như một con chó chăn cừu lão luyện. NGƯƠI CHẲNG THỂ CẢN ĐƯỢC ĐÂU.
Tôi chạy ra xa nhất có thể, vụt sang bên này rồi né sang bên nọ, nhưng vách đá vẫn không chịu buông tha. Tôi đã nhận ra một điều là dù bạn có chạy nhanh đến đâu chăng nữa thì cũng chẳng tích sự gì nếu bạn cứ chạy quanh một chỗ. NGƯƠI KHÔNG THỂ RỜI KHỎI ĐÂY ĐƯỢC. Tôi nhanh chóng nhận ra tình trạng của mình không quá nguy hiểm. Nếu vách đá muốn nuốt chửng tôi, nó đã làm thế từ lâu rồi. Tôi quay trở lại nơi Vicky đang đứng.
“Tôi cũng đã thử rời khỏi đây một lần,” cô nói, “và vách đá đã rượt theo tôi.”
“Đó là lý do cô cứ đứng ở đây phải không?”
“Không.”
“Nếu anh nhảy xuống,” Vicky thì thầm, như thể sợ rằng cái tảng đá ở ngay dưới chân chúng tôi sẽ có thể nghe lỏm được, “anh sẽ mất làn da vừa được hồi phục của mình và sẽ về lại với cơ thể chi chít vết bỏng.”
“Nhưng đây chỉ là ảo giác thôi. Chẳng có cái gì ở đây là thật cả.”
Cô nhún vai. “Đó là điều anh đã học được từ nụ cười của Đại Thiên thần ư?”
NGƯƠI NÊN NHẢY ĐI.
Sao con rắn lại bảo tôi nhảy? Để gây đau đớn cho tôi. Con rắn muốn thế mà, nó luôn sung sướng trước nỗi đau của tôi. Tôi chạm vào làn da mình nơi những đầu dây thần kinh từng bị thiêu rụi.
Nếu mình nhảy xuống, tôi nghĩ, mình sẽ mất thứ này. Mình sẽ mất đi các dây thần kinh, tóc, sức khỏe và vẻ đẹp. Những ngón tay và dương vật của mình sẽ lại thui chột đi. Mặt mình sẽ lại trở thành tảng đá granite bị sương gió vùi dập. Môi mình sẽ lại khô héo đi, và giọng mình sẽ vỡ vụn như những mẩu đá xấu xí. Mình sẽ lại trở thành con quái vật gargoyle, nhưng lần này là sự lựa chọn của chính mình.
NGƯƠI LUÔN LÀ MỘT GARGOYLE. BỊ ĐÓNG DẤU TRONG LỬA ĐỊA NGỤC TỪ TRƯỚC KHI SINH RA.
Tôi hỏi Vicky chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi cứ tiếp tục đứng trên vách đá.
TA KHÔNG ĐƯỢC NHÉT VÀO TRONG XƯƠNG SỐNG CỦA NGƯƠI TỪ SAU VỤ TAI NẠN. TA ĐÃ LUÔN LUÔN Ở ĐÓ TỪ TRƯỚC RỒI.
“Tôi nghĩ là Marianne Engel sẽ đến đón anh,” Vicky trả lời.
CÔ TA SẼ KHÔNG ĐẾN ĐÓN NGƯƠI ĐÂU.
“Sao cô lại nghĩ thế?”
Vicky đáp, “Có những lúc tình yêu còn tồn tại lâu hơn cả cái chết.”
SAO CÔ TA CÓ THỂ YÊU ĐƯỢC KẺ NHƯ NGƯƠI CƠ CHỨ?
Tôi nhìn vào những con sóng triều dữ dội trước mặt chúng tôi, cứ đập không thương tiếc vào những tảng đá. NGƯƠI NÊN NHẢY ĐI. Có lẽ Vicky nói đúng. Có lẽ đây là cuộc thử thách lòng kiên nhẫn của mình. NGƯƠI NÊN KẾT THÚC MỌI CHUYỆN ĐI. Marianne Engel đã đến với mình trong bệnh viện khi mình cần cô ấy nhất, và cô ấy giờ sẽ lại đến đón mình. Phải không?
NHƯNG ĐÂY THẬM CHÍ CÒN CHƯA PHẢI ĐỊA NGỤC CỦA NGƯƠI. VẪN CHƯA TỚI ĐỊA NGỤC CỦA NGƯƠI ĐÂU.
Địa ngục là một lựa chọn.
TA TƯỞNG NGƯƠI KHÔNG TIN LÀ CÓ ĐỊA NGỤC CHỨ.
“Vicky,” tôi hỏi, “tôi đã chết chưa?”
“Tôi không biết.”
“Cô đã chết chưa?”
“Chưa, chừng nào tôi còn đợi Tom.”
TA LÀ KẺ DUY NHẤT BIẾT RÕ NGƯƠI.
Ánh mặt trời lấp lánh trên những ngọn sóng. Cả đại dương trải dài ra trước mặt tôi.
NGƯƠI LUÔN MUỐN TIN RẰNG CHÚNG TA KHÁC NHAU…
Tôi nhìn xuống và - dù tôi không hiểu tại sao mình lại có cái cảm giác mạnh mẽ đến thế - tôi đã biết chắc tiếp theo mình phải làm gì.
… NHƯNG NGƯƠI KHÔNG THỂ TỒN TẠI MÀ KHÔNG CÓ TA ĐƯỢC.
Một cảm giác thanh thản bao trùm lấy tôi. Khi nỗi sợ rời bỏ tôi, nó quấn lấy con rắn. Vì con mãng xà biết tôi đã quyết định làm một điều tốt cho tôi, hại cho nó.
NGƯƠI LÀ TA.
Tôi quay sang Vicky hỏi, “Tôi sẽ gửi lời hỏi thăm của cô đến cho Marianne Engel nhé?”
“Rất hân hạnh.”
ĐÂY LÀ MỘT SAI LẦM.
Tôi tung mình lên không trung. Khi tôi nhảy về phía mặt trời, tôi cảm thấy con rắn đã trượt xuống khỏi người tôi. Trong khi tôi có thể tiến về phía trước, con rắn không thể làm thế. Nó rơi ra từ hậu môn của tôi, rất vừa vặn, bắn ra như một cái mỏ neo bị giật khỏi con tàu.
Một cảm giác không trọng lượng thoáng qua; một điểm thăng bằng giữa khoảng không và mặt nước đang chực chờ phía dưới. Thật kỳ lạ, tôi nghĩ, vì nó giống biết bao giây phút thiêm thiếp chìm vào giấc ngủ khi tất cả đều đẹp một cách phi thực, không chút trần thế. Giống biết bao cảm giác trôi về với sự hoàn thiện. Có một khoảnh khắc lơ lửng vô trọng lượng đến hoàn hảo ở đỉnh đường vòng cung của cú nhảy. Trong giây phút đẹp đẽ này, tôi đã tưởng tượng rằng mình mãi mãi trôi về phía bầu trời.
Nhưng, luôn luôn là thế, trọng lực vẫn luôn chiến thắng. Tôi bị hút thẳng xuống dưới và xuyên qua không khí như một con dao bị quăng xuống đất, nước chồm lên đón lấy tôi. Cả lúc đang rơi, tôi vẫn luôn biết rằng mình đã làm một điều đúng đắn. Tôi nhắm mắt lại và nghĩ về Marianne Engel.
Chìm, làn nước phẳng lặng ôm lấy tôi. Khi tôi rơi xuống nước, tôi có cảm giác như mình đã trở về nhà và tôi…