CHƯƠNG 31

    
hở ra. Hít vào. Tôi tập trung vào nhịp thở của mình. Thật điềm tĩnh. Thật tập trung. Nhắm. Trấn tĩnh nào. Tôi gọi tên mục tiêu. “Tim.”
Tôi không biết mình đã tưởng tượng mũi tên trông như thế nào khi nó bay khỏi tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy mắt mình thực sự tập trung vào mục tiêu ở phía cuối mũi tên chứ không phải vào bản thân mũi tên.
Xuyên qua cơn bão, mũi tên của tôi bay vút đi như thể nó được một sợi dây thép dẫn đường, không một chút xao động. Tất cả mọi người đều biết câu chuyện một cung thủ bậc thầy có thể chẻ đôi mũi tên đang cắm giữa hồng tâm. Đó là cách mũi tên của tôi xuyên vào ngực anh, chính cái điểm anh bị tên bắn trước đây. Lần đầu tiên khi anh bị bắn, cuốn sách của Dante đã làm chậm tốc độ của mũi tên để cứu mạng anh và anh đã được mang đến với tôi. Lần thứ hai này mũi tên chẳng gặp phải vật cản gì, và anh bị mang đi khỏi tôi.
Đầu anh ngật ra sau vì áp lực của mũi tên và miệng anh thở hắt ra hơi thở cuối cùng với sự ngạc nhiên tột độ. Cằm anh nẩy lên ngực hai lần trước khi đầu anh rủ xuống thân thể không còn sức sống. Anh gục xuống khỏi hai bàn tay bị đóng đinh, và bức tường nhà huynh trưởng Heinrich cứ tiếp tục bốc cháy xung quanh anh. Mũi tên của tôi đã giúp anh không phải chịu thêm bất cứ đau đớn nào nữa, và vì điều này, qua làn nước mắt, tôi thầm cảm tạ Chúa.
Bọn lính đánh thuê gào rú lên không hiểu vì sao và Kuonrat đòi được biết kẻ nào đã cẩu thả đến mức, hoặc ngu đến mức, bắn mũi tên chết người trái với nghiêm lệnh của hắn. Mặt hắn tím ngoét đến nỗi một trong những tên lính của hắn đã tỏ lòng thương hại.
Lẽ ra tôi nên cảm tạ Chúa vào lúc khác và dành thời gian để chạy trốn. Khi xem xét mũi tên, chúng nhanh chóng nhận ra nó không đến từ bất cứ cây cung của tên lính nào, và góc tên cho thấy nó được bắn ra từ đỉnh đồi. Một đội được cử lên, và bọn lính ngay lập tức tiến dần đến chỗ núp của tôi. Chúng vẫn chưa nhìn thấy tôi, nhưng chúng biết tôi đang ở đâu.
Tôi vứt cung tên đi, vì tôi biết mình sẽ không bao giờ bắn thêm một lần nào nữa. Ngựa của tôi ở gần kề, sườn đồi rất trơn và những cành cây thì đủ rậm rạp để làm chậm bước chân người. Khi bọn lính đang lồm còm bò lên đỉnh đồi, tôi đã có thể tháo dây buộc ngựa và biến đi ngay trước khi chúng có thể vươn tay ra bắt. Tôi không có nhiều lợi thế thời gian so với bọn chúng, nhưng chúng cũng phải mất vài phút mới có thể tụt xuống dốc và trèo lại lên ngựa được. Tôi cũng có một lợi thế khác nữa. Tôi đã quen địa thế vùng này từ khi còn nhỏ, còn bọn lính lại không. Với cơn bão tuyết vẫn tiếp tục gầm rú, tôi nghĩ mình sẽ có cơ hội.
Lẽ ra tôi phải nghĩ chín hơn. Khả năng cưỡi ngựa của bọn chúng thảy đều giỏi hơn tôi rất nhiều, và những con ngựa được cho ăn tốt hơn cũng như được nghỉ dưỡng nhiều hơn. Tôi chưa đi được quá vài phút thì bọn chúng đã đuổi theo gần sát nút. Tôi biết rằng nếu mình cứ tiếp tục chạy như thế, bọn chúng sẽ tóm được tôi chỉ trong phút chốc. Con đường dẫn đến một ngã ba, với một hướng đi theo một ngả an toàn, và hướng còn lại chạy thẳng đến một vách đá dựng đứng nhìn xuống sông Pegnitz. Khi còn nhỏ thi thoảng tôi vẫn đi dọc theo gờ đá này, nhưng chỉ là những khi tôi cảm thấy đặc biệt liều lĩnh hoặc muốn kiểm tra cái ý tưởng là Chúa thực sự có một kế hoạch dành cho tôi.
Thời điểm tuyệt vọng cần đến giải pháp liều lĩnh, vì thế, dù biết con đường quá hẹp cho ngựa của mình có thể lách qua, tôi vẫn chọn lộ trình bất trắc đó. Con vật cảm nhận được mối nguy hiểm và tôi đã phải thúc gót chân vào sườn nó để bắt nó đi từng bước một, lẩm nhẩm bài kinh cầu quen thuộc tôi vẫn đọc khi còn nhỏ. Khi con ngựa bắt đầu lồng lên, tôi lại quát nó để nó tiến lên vài bước. Chẳng được bao lâu thì chân nó húc phải một gốc cây cụt đóng băng và cả tôi lẫn nó cùng loạng choạng ngã sang một bên.
Khi chúng tôi trượt xuống dốc, con ngựa cố bám những móng guốc tuyệt vọng vào đá, nhưng chẳng ăn thua gì. Nó chới với ngã sang một bên, hoảng sợ và không biết phải làm gì, quăng tôi xuống đất. Khi tôi đầu hàng cú ngã không thể tránh khỏi đó, tôi cảm thấy mình hoàn toàn không trọng lượng trong giây phút ngắn ngủi. Thật tuyệt vời, như thể tôi đang trôi trong sự cân bằng hoàn hảo giữa tuyết và Thiên đường vậy, và tôi thấy mình đang nhìn thẳng vào mặt con ngựa. Mắt của ngựa thường rất đen và bình lặng - khi tôi còn nhỏ, các nữ tu đã từng đùa rằng ngựa là loài có thể nhìn thấu được mọi bí mật của Chúa, thậm chí cả khi nữ tu viện trưởng không thể - nhưng giờ đây mắt nó đang trắng dã vì sợ hãi. Khoảnh khắc đó lướt qua thật nhanh, và được thay thế bởi vòng xoáy của tuyết và bụi cây khi chúng tôi tiếp tục rơi xuống sâu hơn.
Khi chúng tôi cuối cùng cũng dừng lăn, phải mất một lúc đầu óc tôi mới đủ tỉnh táo để xem xét chúng tôi đã trượt xuống tuyết như thế nào và tôi bắt đầu hốt hoảng với ý nghĩ không biết cú rơi đã ảnh hưởng gì đến con chúng ta. Khi đứa trẻ đạp vào bụng tôi gần như ngay lập tức, có lẽ đang tức giận trước tất cả những chuyện vừa xảy ra, tôi đã coi đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng con vẫn còn khỏe và chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc hơn trong cả quãng thời gian gian khổ ấy.
Bọn lính đã không đuổi theo chúng tôi đến bên bờ vực, chúng đủ khôn ngoan để dừng lại nơi đường còn an toàn. Ít nhất một tên trong bọn cũng đã rút cung ra, trước khi nhận định rằng khoảng cách và cơn bão tuyết không thể khiến hắn bắn trúng. Không như tôi, rõ ràng hắn thiếu niềm tin vào Chúa.
Những tên lính đánh thuê sẽ tìm ra một lối đi khác xuống núi, nhưng tôi biết để làm được thế thì chúng cũng phải mất đến mười lăm phút. Có lẽ, tôi nghĩ, cú rơi của mình là cú rơi may mắn giúp cuộc đào thoát của tôi được thành công. Sự phấn khích nhất thời của tôi xẹp xuống khi tôi cố nâng con ngựa lên chỉ để thấy một cái chân của nó đã bị bẻ quặt hẳn sang một bên. Rõ ràng nó sẽ chẳng thể đi được thêm với tôi nữa. Tôi thậm chí còn chẳng có được lựa chọn là giải thoát cho nó bằng cách giết chết nó, vì tôi không còn cung tên nữa rồi. Nhưng dù sao tôi cũng không thể làm việc đó được. Một ngày giết chóc thế là quá đủ rồi.
Đi trước bọn lính mười lăm phút thì lợi lộc gì trong khi bọn chúng có ngựa còn tôi thì không? Một bên là vách đá nơi tôi vừa ngã xuống, và bên còn lại là dòng Pegnitz. Bình thường thì nước chẳng mấy khi đông hoàn toàn, nhưng thậm chí cả khi mặt sông đóng băng thì vẫn không an toàn với sức nặng của một người. Tôi chẳng có cách nào vượt sông, và trèo lại lên vách đá cũng chẳng giúp ích gì. Tất cả những gì tôi có thể làm là chạy dọc theo bờ sông và hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất. Nhưng điều này cũng rất lố bịch, bởi vì cuối cùng bọn lính cũng đuổi kịp tôi từ đằng sau. Việc bắt được tôi giờ chỉ còn là vấn đề thời gian.
Kuonrat đã cắt đầu Brandeis khỏi người anh ấy mà không thèm suy nghĩ, và đã vừa cười vừa ra lệnh giết anh. Tôi biết khi mình bị bắt, như anh đã nói từ trước, phải thật may mắn mới có thể chết nhanh chóng. Cưỡng hiếp có vẻ là khả năng dễ xảy ra hơn.
Lớp băng mỏng trên mặt nước bắt đầu trông có vẻ cứng hơn. Khả năng vượt sông an toàn là rất nhỏ, nhưng tôi vẫn phải thử. Nếu tôi có thể vượt qua sông bằng cách nào đó, bọn lính sẽ không thể đuổi theo được. Chúng sẽ buộc phải để tôi đi, bởi vì thậm chí cả tên lính nhỏ nhất trong bọn chúng cũng có thể dễ dàng làm vỡ mặt băng. Tại sao bọn chúng lại phải mạo hiểm? Bọn lính đánh thuê không biết tôi là ai, có chăng chỉ là một ả lẳng lơ sống cùng một cựu lính, và tôi sống hay chết thì hại gì đến chúng? Kuonrat đã chứng minh được quan điểm của hắn, và cái chết của hai kẻ đào ngũ đã là quá sức tưởng tượng của hắn. Hắn hẳn cảm thấy sung sướng lắm rồi.
Cái túi chứa bức tượng Morgengabe và những cuốn sách của tôi sẽ trở thành gánh nặng không cần thiết khi vượt sông, nhưng tôi không thể chịu đựng được việc phải mất đi những đồ vật quý giá đến thế. Vì thế tôi giấu cái túi trong một hốc đá gần đó, tâm niệm rằng nếu còn sống thì tôi chắc chắn sẽ quay lại lấy nó.
Tôi bước bước đầu tiên lên mặt băng và nó có vẻ khá cứng, nhưng băng luôn cứng nhất khi ở gần bờ. Ngay phía cuối dòng sông, tôi có thể nhìn thấy những vùng nước mênh mông trông như những tấm chăn đen ngòm trải trên nền tuyết trắng. Thêm vài bước nữa, và tôi đã nghe thấy một tiếng rắc nhẹ. Tuyết điên cuồng thổi táp vào mặt tôi, giờ tôi đã ở cách bờ được khoảng năm mét rồi, liệu chân tôi có còn chạm đáy được nữa hay không?
Tôi tiếp tục với những bước nhỏ, lướt nhẹ chân nọ trước chân kia. Tôi đi với tốc độ nhanh nhất mà mình dám, nhưng thế vẫn chưa đủ. Tôi nghe tiếng vó ngựa của bọn lính đánh thuê càng lúc càng gần hơn, vì thế tôi đã bắt bản thân phải nhảy thật nhanh đến giữa dòng. Càng xa bờ càng an toàn, tôi tự nhủ, và điều quan trọng nhất và duy nhất lúc này là phải tránh thật xa tầm tên bắn.
Tôi cảm thấy băng đang dần nứt ra, từng chút một, nhiều hơn lúc trước, và hai cánh tay của tôi theo bản năng lập tức vòng quanh bụng. Tôi ngoái lại nhìn và thấy bọn lính đã chạy đến bên bờ sông, ở đó chúng tìm ra con ngựa què của tôi. Khi nhìn thấy tôi, bọn chúng giương cung ngắm về phía tôi và tôi nhận ra mình vẫn chưa đi đủ xa. Vài mũi tên bắn ra nhưng gió rất mạnh nên đều bay tản đi mất. Tôi biết bọn lính sẽ rút kinh nghiệm từ đợt bắn đầu tiên và chỉnh hướng ngắm cho lượt bắn thứ hai. Chẳng mấy nghi ngờ gì là tôi sẽ bị bắn trúng.
Lượt bắn thứ hai chẳng bao giờ tới. Kuonrat ra một hiệu lệnh và những tên cung thủ hạ cung xuống. Chuyện hắn lo lãng phí cung tên rất không hợp với tính cách hắn; hắn nghĩ tôi đáng được sống nếu có thể vượt sông ư, tôi cũng nghi ngờ điều đó. Khả năng hợp lý nhất, hắn chỉ khoái làm khán giả cho trò nhìn phụ nữ đi trên băng mỏng thôi.
Cái cách bọn lính đứng khiến tôi hiểu rõ rằng chúng sẽ đợi tôi đi cho tới khi không thể đi được nữa thì thôi. Biết mình không thể quay đầu lại, tôi bước thêm một bước về phía bờ xa kia. Băng dưới chân tôi lún xuống và tôi quỳ sụp, quăng cả hai tay ra phía trước để giữ thăng bằng, tôi tự nhủ rằng nếu tôi có thể vượt quá nửa sông, tôi sẽ sống, vì đó sẽ là nơi băng mỏng nhất. Tôi tự nhủ rằng nếu tôi có thể vượt qua lằn ranh tưởng tượng đó, đứa con chưa ra đời của tôi sẽ sống.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào thì tốt nhất. Tôi có nên nằm sấp bụng xuống rồi để người mình từ từ trôi đi không? Ý tưởng này, việc phân đều trọng lượng cơ thể, nghe rất hợp lý. Nhưng rồi tôi băn khoăn, nếu điều này chỉ làm tăng nguy cơ gặp phải một chỗ băng mỏng có thể làm toàn bộ băng ở gần đấy sụp xuống theo phản ứng dây chuyền và nuốt chửng lấy toàn bộ người tôi thì sao - và, dĩ nhiên là thế rồi, tôi cũng không dám mạo hiểm để bụng mình phải chịu thêm bất cứ áp lực nào nữa. Cơ thể tôi nói không, nhưng lòng tin của tôi tranh luận rằng tôi nên làm thế. Xét cho cùng, chính hơi thở của Chúa đã đưa mũi tên của tôi tới chính xác ngực anh. Liệu hơi thở đó có lướt trên lưng tôi, đưa tôi ra khỏi hiểm nguy không? Nếu có giây phút nào ta phải nép mình dưới sự che chở của Chúa thì chính là lúc này đây.
Tôi nhìn qua sông tới bờ bên kia, tưởng tượng mình là một mũi tên và con đường trước mặt tôi là đường tên bay. Tôi khẽ rướn người lên và cảm thấy băng tan ra dưới chân. Tôi căng chân ra, ấn gót chân xuống băng để tạo càng nhiều ma sát càng tốt. Tôi giơ một đầu gối lên và dồn vai về phía trước. Tôi đọc một bài kinh ngắn và nhìn về tự do nơi bờ bên kia, tập trung vào nó như mục tiêu của mình vậy. Và rồi tôi thả người ra, hoàn toàn phó mặc bản thân cho Chúa chở che.
Tôi chỉ tiến được vài bước thì băng nứt ra và tôi rơi về phía trước như đang phá cửa sổ xông ra ngoài. Dòng nước lạnh giá thấu tận xương tôi và sức nặng quần áo bị ngấm nước đã kéo tụt tôi xuống. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là đứa trẻ, và hai cánh tay tôi đập loạn xạ, cố bám lấy tất cả mọi thứ vớ được. Tôi nghĩ nếu bám được vào thành hố, tôi sẽ có thể trèo lên. Nhưng những tảng băng tôi bám vào cứ thế vỡ ra, và cái hố càng lúc càng rộng ra mỗi lần tôi cố bám lấy nó. Tôi có thể cảm nhận được hơi ấm đang dần rời xa tôi. Khỏi đứa con của tôi. Sau vài phút thì đầu óc tôi vẫn đang bấn loạn, nhưng cơ thể tôi đã ngừng phản kháng rồi.
Dòng chảy của sông kéo tôi trôi ra xa. Dù tôi biết mình mới là người di chuyển, nhưng cái hố dường như đang trôi đi trên đầu tôi cho tới khi chẳng còn mặt hố nào nữa, chỉ có một tảng băng cứng phía trên. Chắc nó không quá cứng, nhưng khi tôi lấy tay đẩy nó, chẳng có gì xảy ra cả. Chẳng có gì bên dưới để tôi đạp chân lấy đà, chỉ có nước. Hy vọng duy nhất của tôi là nín thở cầu nguyện cho dòng nước cuốn tôi đến chỗ khác.
Cảm giác khi cơ thể mình hoàn toàn ngừng hoạt động thật kỳ lạ. Huyết mạch đã nuôi dưỡng bạn, đã phục vụ bạn trung thành suốt cả cuộc đời, giờ không còn đáp lại mệnh lệnh của tâm hồn bạn nữa. Giống như có ai đó ấn nút ngắt điện đi vậy. Tôi nhanh chóng nhận ra dù dòng chảy có mở ra cho tôi một lối thoát, thì cũng đã quá muộn rồi. Tay tôi sẽ không còn đủ sức để bám vào đâu, và dù có bám vào được, tôi cũng không thể nhấc mình ra khỏi dòng nước lạnh giá này nữa rồi.
Điều đáng sợ nhất là tôi nhận ra mình không thể bảo vệ con chúng ta khỏi nguy hiểm nữa. Điều này làm tinh thần tôi hoàn toàn suy sụp. Tôi nhắm mắt lại, bởi vì đây là việc người ta luôn làm khi đang ở dưới nước và sắp chết. Thân thể tôi cứ thế rơi xuống, và mọi nỗi sợ của tôi đã đồng loạt biến mất. Khoảnh khắc khi ta chấp nhận từ bỏ mọi thứ thật đẹp đến nao lòng. Theo cách này thì sẽ dễ dàng hơn, tôi nghĩ vậy và cảm thấy được an ủi một chút, trong những giây cuối cùng trước khi tất cả mọi thứ đều chìm vào bóng tối.
Chuyện xảy ra tiếp theo - tôi có thể nói cho anh nghe, nhưng tôi không thể giải thích được. Không thể giải thích được một cách chuẩn xác, không phải theo cách anh có thể hiểu được. Bẩm sinh, tôi đã được ban cho khả năng ngôn ngữ đặc biệt và tôi đã hoàn thiện nó trong suốt bảy trăm năm, nhưng những từ ngữ có thể dùng để miêu tả chuyện xảy ra ngày hôm đó thì lại không hề tồn tại. Không tồn tại trong tiếng Anh, không tồn tại trong bất kỳ ngôn ngữ nào tôi biết.
Khi tôi tỉnh lại, không có vẻ gì là thức tỉnh cả, vì thực ra tôi có ngủ đâu. Dường như tôi đã rơi vào trạng thái vô thức, và giờ đây tôi đã tỉnh táo trở lại. Nhưng không phải sự tỉnh táo mà chúng ta dùng để hiểu thế giới xung quanh: nó là một thứ vĩ đại hơn, một thứ rộng vô biên và sâu vô độ. Tôi vẫn còn ở dưới mặt băng, vẫn bị dòng Pegnitz cuốn đi, nhưng cùng lúc ấy tôi cũng không ở trong làn nước của chính dòng sông ấy. Tôi đang ở trong dòng nước của cả thế giới, của cả vũ trụ, nhưng thậm chí nói tôi “ở” trong nước cũng không đúng bằng cách nói tôi là một phần của nó. Tôi đã tan vào dòng nước; tôi đã biến thành chất lỏng rồi.
Khi người ta chết đi và có thể quay trở lại bằng cách nào đó, họ luôn luôn nói về một tia sáng cuối đường hầm. Đây không phải chuyện tôi đã trải nghiệm. Có ánh sáng nhưng đó không phải là một đường hầm, ánh sáng ở khắp xung quanh người tôi. Những luồng sáng phản quang nâng đỡ tôi, giúp tôi nổi lên mặc dù chẳng hề có đáy biển để tôi phải thoát ra. Nó ở trong tôi và xuyên qua tôi; tôi là nước và tôi là ánh sáng. Tôi có cảm giác mình là một luồng sáng lỏng đang trôi đi, một quầng sáng bình thản không có sức nóng cũng chẳng lạnh lẽo. Tôi không còn chút cảm giác nào về cơ thể của chính mình nữa.
Thời gian không tồn tại khi cơ thể không còn tồn tại, bởi vì chỉ có cơ thể mới thực sự có ý niệm về thời gian. Chúng ta hiếm khi để ý đến cảm giác bẩm sinh của bản thân về thời gian cho tới khi nó bị lấy đi. Đó là lý do những người bị bệnh mất trí đã bấn loạn đến thế khi họ nhận ra tình trạng mình đang mắc phải. Không phải vì họ đã mất đi ký ức - tất cả chúng ta đều cùng mất đi ký ức; đó là bởi vì họ đã mất đi thời gian.
Tôi bắt đầu nhận thấy những sự hiện diện. Anh không thể gọi đó là những bóng ma hay linh hồn, bởi vì chúng thậm chí còn không có được hình dạng đó nữa. Chúng tồn tại chỉ bởi vì tôi cảm nhận được chúng. Nhưng cảm nhận một lần nữa lại không phải từ chính xác, bởi vì làm sao tôi có thể cảm nhận được thứ không có thực thể? Như ánh sáng và nước, chúng đều ở trong tôi. Tôi có thể cảm thấy chúng rõ rệt đến mức tôi biết rằng chúng không chỉ hiện đang ở trong tôi, mà chúng đã luôn ở đó từ trước rồi. Tôi đã luôn lờ chúng đi, trong cả cuộc đời mình, như một cách tự vệ. Việc đó giống như lắng nghe một cuộc nói chuyện - anh không thể tập trung vào từ ngữ được nói ra nếu anh cũng đang dỏng tai nghe tiếng đồng hồ tích tắc trong phòng và tiếng ô tô ngoài cửa, tiếng bước chân cuối hành lang cùng tiếng thở của người đàn ông ngồi bên cạnh người phụ nữ đang nhấp từng ngụm trà. Anh không thể làm tất cả những việc này cùng lúc, vì thế anh chỉ có thể tập trung vào lời của người đang nói thôi. Đó là cách con người giải quyết với tất cả những giọng nói vô tận họ có thể đón nhận. Anh nghe những suy nghĩ của chính mình, và anh đóng những suy nghĩ khác lại.
Nhưng giờ đây tôi có thể thấu hiểu được tất cả những giọng nói bên trong tôi. Tôi có thể nghe được mọi sự hiện diện đó, và chúng nghe như tiếng của những vòng tròn bằng vàng vậy. Tôi có thể nếm được chúng, và chúng có vị như sự an ủi. Chúng chạm vào tôi, và sự va chạm có cảm giác như âm nhạc.
Thấy không? Tôi ước gì mình có thể diễn tả được nó, nhưng tôi không thể. Nó không thể diễn tả được. Người nào nghĩ rằng có thể miêu tả được Chúa Vĩnh Hằng thì người đó chưa bao giờ thực sự trải nghiệm điều đó cả.
Ba sự vật tách khỏi ra khỏi vật chủ và tiến về phía trước. Dù họ không có hình thù thực sự, tôi vẫn có thể nhận ra họ đã từng là ai, dù trong đời thật tôi mới chỉ gặp một trong số họ, cha Sunder. Người thứ hai là Meister Eckhart và người thứ ba là Mechthild von Magdeburg.
Tôi biết đây không phải trò lừa bịp mà là một món quà đáng được trân trọng. Nó thật tự nhiên, thậm chí còn làm tôi cảm thấy rất thanh thản, khi cha Sunder nói rằng ông rất vui được gặp lại tôi. Không từ ngữ nào nói ra; dường như tôi có thể cảm nhận được những suy nghĩ của ông quyện vào tôi. Meister Eckhart và xơ Mechthild von Magdeburg cũng giao tiếp với tôi cùng bằng cách ấy. Cuộc “trò chuyện” của chúng tôi là một tấm kính vạn hoa với những rung động rực rỡ.
Họ không đến đó để mang tôi đi, họ giải thích như vậy, bởi vì tôi vẫn chưa sẵn sàng. Tôi chưa thực sự chết và vẫn còn nhiều việc phải làm. Họ sẽ giúp tôi đạt đến cái ngưỡng khi tôi sẵn sàng chết, và để thực hiện mục tiêu đó, họ đã được chỉ định làm những Chủ Nhân của tôi.
Tại sao con lại không bị đưa xuống Địa ngục? tôi giao tiếp với họ. Con đã giết người đàn ông con yêu nhất.
Mọi việc không diễn ra như vậy. Tội của Eve là đã ăn trái cấm, và vì điều này cô ấy đã bị trừng phạt bằng sự Sa ngã của Nhân loại. Với tội ác của đời con, phải cần đến sự chuộc tội nào?
Con không được phép quyết định điều này.
Nhưng đó là việc con phải làm. Con đường con chọn đã đưa con ra khỏi Cuộc đời của Chúa và đặt con vào bàn tay Thần Chết. Con có sám hối không?
Không. Thậm chí trước sự hiện diện của Chúa Vĩnh Hằng, tôi vẫn có thể nhớ được khoảng thời gian tôi sống với anh. Đúng là con đã phản lại lời thề nữ tu của mình, phản lại nữ tu viện trưởng và Chúa Tối cao khi làm chuyện đó, nhưng con chưa bao giờ phản bội bản thân. Con vẫn luôn trung thực với trái tim mình, và con sẽ không bao giờ hối cải vì tình yêu của mình. Đó là điều tuyệt vời nhất con từng làm.
Ba Vị Chủ Nhân của tôi hiểu rằng tôi vẫn sẽ giữ vững tình yêu mình dành cho anh, dù cận kề cái chết. Chắc chắn họ đã thấy điều này trước đây, và chắc chắn họ sẽ thấy điều này một lần nữa.
Trái tim của con luôn tự chủ, món quà tuyệt diệu nhất và cũng đáng nguyền rủa nhất của con. Vì vậy con sẽ phải sám hối bằng chính trái tim của mình.
Cứ để vậy đi.
Con đã học được cách trao trọn vẹn trái tim của mình cho người đặc biệt, nhưng con vẫn chưa học được cách chia sẻ trái tim vượt trên cái tôi của mình và người khác.
Con thừa nhận đây là sự thật.
Con sẽ quay trở lại thế giới của mình, và ngực của con sẽ ngập tràn hàng ngàn trái tim mới. Con sẽ phải trao chúng đi, cho tới khi chỉ còn lại một.
Làm sao con có thể làm được điều này?
Những trái tim này phải được lấy ra khỏi ngực con và chết thay con, trong khi đó chúng sẽ đi tìm sự sống ở những người khác. Làm thế con mới có thể vượt được bản ngã trần tục và sẵn sàng đến với Chúa.
Con không biết cách.
Con sẽ học.
Vậy khi nào con chỉ còn lại trái tim cuối cùng?
Trái tim đó con không thể tự trao đi được. Trái tim cuối cùng phải được trao cho người yêu của con. Anh ta phải nhận lấy nó, nhưng anh ta cũng không được giữ nó. Anh ta phải thả nó đi, để giải phóng cho con. Chỉ bằng cách này thì con mới có thể đến được bên Chúa.
Con không hiểu được tại sao người yêu của con lại liên quan đến chuyện này.
Người yêu của con sẽ hiểu được.
Đây là lúc mọi thứ kết thúc. Tôi bị kéo ra khỏi Chúa Thánh Thần, nước và ánh sáng ngừng chảy xuyên qua tôi, và tôi bị ném thẳng lại vào dòng nước lạnh giá tối đen của sông Pegnitz.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm ngửa và không thể mở nổi mắt ra được. Mắt tôi bị băng bao kín và phải mất năm phút nỗ lực hết mình thì tôi mới có thể chớp chớp mắt được. Khi đó là sáng sớm và cơn bão đã tan. Tôi cố cất tiếng nói nhưng không thể phát ra được âm thanh nào, vì toàn thân tôi đều bất động. Thân thể tôi lạnh chưa từng thấy.
Tôi bắt đầu rung lắc nhẹ các ngón chân và ngón tay, cho tới khi tôi có thể bắt toàn bộ các chi hoạt động. Tôi cố đứng dậy, loạng choạng. Tôi đang ở phía sau một cái lán nào đó, và cách tôi độ một trăm mét là một trang trại nhỏ. Tôi lật đật chạy về phía đó, loạng choạng không chỉ vì hai chân đông cứng mà còn vì quần áo cũng đang cứng hết vì băng. Khói cuộn lên từ ống khói và tôi không biết mình có thể đi được đến nơi nếu không có sự ấm áp đầy hứa hẹn kia không. Tôi gõ cửa vài lần cho tới khi một bà lão nông dân mở cửa và mắt ấy trợn trừng vì hoảng sợ khi nhìn thấy tôi. Đối với bà, tôi rõ ràng là thây ma đến nhà.
Khi nhận ra tôi vẫn chưa chết, bà gọi chồng mình và bắt đầu cởi chỗ quần áo đông cứng của tôi ra. Ông cho tôi ăn xúp, trong khi bà quấn tôi trong hàng đống chăn và xoa bóp chân tay tôi để giúp máu dễ tuần hoàn. Khi tôi đã hồi phục được kha khá, chúng tôi bắt đầu lắp ghép các mảnh sự kiện đã xảy ra. Tôi đã bị cuốn đi vài dặm trên sông và kẹt lại tại một vùng nước chưa bị đóng băng. Tình cờ một người nông dân già đi qua và kéo tôi lên. Hai mắt tôi mở trừng trừng, tóc tôi cứng đơ dựng ngược cả lên, và thân thể tôi thì không có lấy một dấu hiệu sự sống nào.
Người nông dân nghĩ rằng tất cả mọi người đều xứng đáng được an táng tử tế, và đó là lý do ông kéo tôi ra khỏi dòng sông. Mặt đất quá cứng để có thể xới ra làm mộ được, thế là với quá ít sự lựa chọn, ông đã quyết định để tôi lại phía sau cái lán nhà họ và chôn tôi chỗ gần suối. Ông không thể mang một xác chết vào nhà mình, dĩ nhiên rồi, nhưng vì lý do thực tế hơn là mê tín. Xác tôi rồi sẽ phân hủy và bốc mùi. Chúng tôi đoán, tất cả mọi người đều nghĩ vậy, chắc do nước quá lạnh nên tôi trông như đã chết rồi. Những chuyện như thế vẫn thường xảy ra; có rất nhiều câu chuyện kể về những người bị chìm trong nước và mãi sau khi ai cũng tưởng họ chết rồi thì họ đột ngột sống lại.
Tôi ở lại với họ vài ngày, nhưng không bao giờ nói cho họ biết tại sao tôi lại ngã xuống sông. Tôi chỉ nói với họ rằng tôi đang đi dạo thì băng vỡ ra dưới chân tôi. Chẳng việc gì phải kể lại câu chuyện về Engelthal, hay về những tên lính đánh thuê, hay về Ba Vị Chủ Nhân của tôi. Chỉ riêng việc tôi còn sống sót đã khó tin lắm rồi.
Khi tôi đã đủ khỏe để có thể đi tiếp, tôi trở lại bờ sông Pegnitz để lấy cái túi đã giấu kín của mình, và rồi đi đến Mainz. Tôi còn đi đâu được nữa chứ? Tôi chuyển vào sống trong khu nhà của người Beguine và sống đời mặc niệm và cầu nguyện. Tôi phần nào đã trở lại với cuộc sống trước khi gặp anh, nhưng tôi đã bị thay đổi bởi tình yêu của anh sâu đậm đến nỗi không thể trở lại làm con người cũ được. Tôi không làm sách nữa, dù vào thời điểm ấy tôi đã hoàn thành bản dịch cuốn Địa ngục. Lý do tôi làm việc đó rất ích kỷ - không phải vì tôi nghĩ mình đang sáng tạo một tác phẩm có thể trường tồn cùng thời gian, mà vì dịch nó làm tôi cảm thấy được gần anh hơn.
Đoạn kết câu chuyện của tôi không quan trọng. Những năm tháng cuộc đời tôi được dành để trao tặng những trái tim nhưng tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể ngừng sám hối cho tới gần đây, bởi vì tôi luôn biết rằng không thể trao trái tim cuối cùng của mình cho tới khi chúng ta lại gặp nhau.