Chương XV

     ây xin nhắc về Dương Ngạn Địch tha phương cầu thực nơi đất khách quê người tại vùng đất Mỹ Tho. Nơi đây đã có nhiều người Khmer sinh sống, họ gọi nơi đây là "Meso", ví như là cô gái đẹp như nàng tiên. Dương Ngạn Địch cho người nhà hòa mình chung với vài nhóm người Việt, ông cho xây dựng nhiều trường học (có đến chín trường là: Cảnh Dương, Duy Hóa, Bả cạnh, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Quy Ang, Tam Lạch, Tân Thạnh, Thiên Mụ). Nhiều người khai khẩn ruộng đất, thành lập làng xóm nằm cạnh kề nhau, chỉ dạy nhiều người hành nghề thủ công mỹ nghệ. Họ sang cả mảnh đất nằm giữa sông đang hình thành từ phù sa sông Tiền, đó là vùng đất sau này gọi là cù lao An Hóa- Bến Tre. Mọi người gọi nhóm người của Dương Ngạn Địch là Minh Hương, là một trong số những người Hoa sớm nhất trên đất Chăm pa. Phụ nữ biết nuôi tằm, dệt vải và nhất là biết dùng phục sức xa xỉ thơm lừng. Tất cả mọi người đều chung xóm ấp, không tách biệt và chuyên chú làm ăn và nộp thuế cho chúa Nguyễn, chứ không giao về vua Nặc nộn.
Không phân biệt chủng tộc nào, Dương Ngạn Địch chú trọng đến thương mãi, song song với những cách làm trang trại và mở rộng giao thương với bên ngoài, nhất là với chúa Nguyễn. Vì ở đó, vẫn luôn dùng chữ Hán và phần nào có trình tự thờ cúng tổ tiên giống nhau. Tuy khí hậu ở Mỹ Tho và cù lao An Hóa gió mưa thuận hòa phù sa màu mỡ, nhưng ở đấy còn là vùng rừng rậm đầy ác thú. Ông dẫn một nhóm người đi tìm một con cọp già thường vào làng bắt trẻ nhỏ, nhưng mấy lần đều không tìm thấy. Vợ ông cũng là người giỏi võ nghệ, nóng lòng đòi theo chồng. Dương Ngạn Địch không đồng tình, nhưng bà lén lút dẫn đầu một tốp trai tráng hướng sang bờ sông bên kia mang về con cọp đã chết. Ông giận run người, mang ra một khúc cây để phang vào bà. Mọi người né tránh, bà chụp cái cây hết sức tài tình rồi để xuống đất, đợi khi chồng nguôi giận. Bà giảng nghĩa cho ông nghe là vì muốn cho muôn dân yên ổn và muốn con cọp già ấy đừng hại đám trẻ nhỏ nữa.
Người Việt cùng với người Minh Hương sinh sống ở Mỹ Tho rất hòa thuận, làm cho nơi đây trở thành một trung tâm buôn bán khá là sầm uất. Nông sản thường gồm lúa gạo và cau thường dư giả nên trở thành thứ hàng hóa đặc sản cho cả miền Trong: "Nơi đây, có nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo". Nơi đây còn nằm ở ngả ba sông, Mỹ Tho nên ghe thuyền lan tỏ khắp nơi nơi: Miền tây bao gồm Cai Lậy, Sa đéc, rồi sang cả Nam vang ; hoặc ra cửa Tiểu theo đường biển ra tận Phú Xuân- Thuận Hóa. Hoặc tìm về Mang Khảm (Hà Tiên) nơi Mạc Cửu ( sang năm 1671) kiểm soát, rồi cùng nơi đây giao thương buôn bán với người Khmer.
Sau chín năm hòa nguyện vào vùng đất mới, Dương Ngạn Định bị phó tướng là Hoàng Tiến ganh ghét. Thế rồi, trong một đêm không trăng ông bị ám sát chết ở cửa biển Mỹ Tho.
Tiếm quyền xong, Hoàng Tiến tự xưng là " Phấn dũng oai tướng quân" cho quân mình đi cướp phá người Chân Lạp tứ tung. Người Chân Lạp hiền lành vô cùng khổ sở, tưởng rằng chúa Nguyễn Phúc Thái ngầm xui lấy cớ xâm chiếm, bèn không triều cống như trước nữa, rồi đắp lũy Bích Đôi và Nam Vang cố thủ. Còn ngăn sông cấm chợ không cho buôn bán với người của chúa Nguyễn nữa, làm chúa Nguyễn nổi giận và sai Mai Vạn Long tiến quân quân vào vùng đất Mỹ Tho.
Vua Nặc Nộn ở đất Sài Gòn nói để Mai Vạn Long hiểu rõ được sự tình, biết Hoàng Tiến gây ra cớ sự nhưng vẫn làm bộ hiệp quân để loại trừ hắn. Quả nhiên Hoàng Tiến xuống thuyền hội quân, liền cho quân phục kích, rồi vào lũy bắt được cả người nhà hắn, trấn an dân chúng.
Sau khi bình ổn ở vùng đất Mỹ Tho, Mai Vạn Long cùng Trần Thượng Xuyên ở Trấn Biên (Biên Hòa) quản lảnh ba quân làm tiên phong tìm đánh Nặc Thu đến khi thần phục.
Chiêm Thành vẫn triều cống hằng năm, Chân Lạp giờ đã thần phục. Nhưng chúa Nguyễn Phúc Thái vẫn trang bị cho lính tráng súng ống, y phục quần ngắn bằng thao trắng nón chóp lông trông rực rỡ và trả lương cho họ. Trong phủ có hơn bốn trăm người và ngựa, thao diễn hằng ngày, còn thuyền chiến thì to lớn neo đậu được cả dưới dòng sông Hương.
Thế nhưng, việc xây dựng dinh thự mới làm chúa Nguyễn Phúc Thái quá tổn hao sức lực, chúa thường hay trằn trọc với các bản vẽ thiết kế, không mấy tin theo phong thủy (có lẽ vì thế mà trả giá?).
Đến mùa xuân năm 1691, chúa đau nặng và biết mình khó qua. Ngài cho gọi Nguyễn Phúc Chu mà dặn dò:
- Ta nối nghiệp trước để lại, thường lấy làm lo, phải giữ thánh đức của tổ tông. Trong đời của ta trị vì, dân chúng được sống trong cảnh thanh bình, an cư lạc nghiệp. Bây giờ con nối theo, đó là hiếu...
Cuối cùng dinh lũy xây dựng xong, cũng là lúc chúa qua đời thọ chỉ bốn mươi ba tuổi.  Làm chúa chỉ được bốn năm, chúa Hiếu Nghĩa được suy tôn miếu hiệu là Đức Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế.