THỨ HAI
CHƯƠNG 17

     ó lẽ có tới mười ngàn con phố tên gọi Mission ở California và James Reynolds, công tố viên hưu trí, người tám năm trước đã buộc tội Daniel Pell sống ở một trong những con phố đẹp nhất.
Ông ta dùng mã bưu chính vùng Carmel, dù con phố này không phải nằm trong một khu đẹp của thành phố nơi có những tòa nhà với tiền sảnh lòe loẹt, cuối tuần tràn ngập khách du lịch (những kẻ mà dân địa phương vừa yêu vừa ghét). Reynolds sống ở khu vực làm việc của Carmel, nhưng chỗ này cũng không tệ. Ông ta có ba phần tư mẫu đất riêng cách Bamyard không xa, đó là nơi ta có thể mua đồ trang sức và nghệ thuật cũng như những đồ dùng rắc rối trong bếp, quà tặng và đồ lưu niệm.
Dance rẽ vào một con ngõ dài, nghĩ rằng những người có nhiều đất như thế có thể là những người mới giàu - bác sĩ phẫu thuật thần kinh hay những người vượt qua được cuộc khủng hoảng ở Thung lững Silicon - hoặc thổ dân lâu đời. Reynold, người sống bằng nghề công tố viên chắc phải là loại người thứ hai.
Một người đàn ông trên sáu mươi tuổi rám nắng, hói đầu đón cô ngoài cửa và đưa cô vào nhà.
"Vợ tôi đi làm. Tình nguvện viên. Tôi đang nấu bữa tối, cô vào bếp đi”.
Khi đi theo ông ta qua hành lang của một ngôi nhà được chiếu sáng rực rỡ, Dance có thể đọc được câu chuyện của người đàn ông này qua rất nhiều khung ảnh treo trên tường. Trường học vùng bờ Đông/ trường Luật Starford, đám cưới, nuôi lớn hai cậu con trai và cô con gái, lễ tốt nghiệp của bọn trẻ.
Những bức ảnh mới nhất vẫn chưa được đóng khung. Cô hất đầu về phía chồng ảnh, trên cùng là bức ảnh của một cô gái tóc vàng xinh đẹp mặc bộ đồ màu trắng được các cô phù dâu xúm xít xung quanh.
"Con gái ông à? Chúc mừng”.
"Con chim cuối cùng ra khỏi tổ”. Ông ta giơ ngón tay cái ra với cô và tươi cười. "Còn cô thì sao?"
"Đám cưới phải đợi thêm thời gian nữa. Bước tiếp theo của những đứa trẻ của tôi là trung học"
Cô cũng nhận thấy một số khung treo các trang báo, những vụ án mà ông ta thắng. Và cô cũng ngạc nhiên khi thấy cả những vụ ông ta thua. Ông ta nhận thấy cô đang nhìn một khung kính và tặc lưỡi
"Chiến thắng dành cho bản thân. Chiến bại để biết khiêm tốn. Tôi sẽ đứng trên cao quan sát và nói tôi đã học được điều gì từ những người vô tội. Nhưng thực sự là đôi khi bồi thẩm đoàn đến chỉ để đi ăn trưa”.
Cô biết rõ điều đó từ khi còn làm tư vấn bồi thẩm.
"Giống anh chàng Pell của chúng ta. Bồi thẩm đoàn cần đề nghị án tử hình. Nhưng họ lại không làm thế”.
"Sao vậy? Tình tiết giảm nhẹ?"
"Đúng thế, nếu đó là thứ mà cô gọi là nỗi sợ hãi. Họ sợ Gia đình sẽ đến trả thù họ”.
"Nhưng họ có thể dễ dàng kết tội hắn, đúng không?"
‘"Đúng vậy. Vụ này quá rõ ràng. Tôi đã theo vụ này rất chắc. Tôi đã đặt tên cho vụ này là 'Đứa con của Manson' và cũng là người đầu tiên gọi hắn như vậy. Tôi đã chỉ ra những sự tương đồng: Manson nói hắn có sức mạnh điều khiển con người. Một câu chuyện của những tên tội phạm đáng thương. Một giáo phái trong đó những người phụ nữ bị phụ thuộc. Hắn đứng sau những cái chết của một gia đình giàu có. Trong nhà hắn, nhân viên khám nghiệm hiện trường tìm thấy hàng chục cuốn sách về Manson, được gạch chân và có ghi chú”.
"Thực sự là Pell đã buộc tội chính mình", Reynolds nói thêm với một nụ cười. "Hắn đóng vai của mình. Hắn ngồi ờ tòa và chằm chằm nhìn bồi thẩm đoàn, tìm cách dọa nạt họ, làm họ sợ. Hắn cũng dọa tôi theo cách đó nhưng tôi đã cười vào mặt hắn, tôi nghĩ chẳng có cái gọi là sức mạnh tính thần nào có thể ảnh hưởng tới các luật gia. Bồi thẩm đoàn cũng cười. Điều đó đã phá vỡ câu thần chú của hắn”.
Ông ta lắc đầu. "Chưa bắt được hắn bị tiêm thuốc độc, nhưng tôi thỏa mãn với hai án chung thân liền nhau"
"Ông cũng truy tố cả những người phụ nữ trongGia đình"
"Tôi bào chữa cho họ. Đó chỉ là việc nhỏ thôi. Họ không liên quan gì tới vụ Croyton. Tôi chắc chắn về việc đó. Trước khi gặp Pell, không ai trong số họ mắc lỗi gì nặng hơn là uống say ở nơi công cộng hay hút hít tí chút, tôi nghĩ thế. Pell đã tẩy não họ... Jimmy Newberg thì khác. Anh ta đã có tiền sử bạo hành - một vài vụ buôn ma túy nghiêm trọng và gây hậu quả xấu”.
Trong căn bếp rộng rãi được trang trí toàn màu vàng và màu be, Reynolds đeo tạp dề vào. Chắc chắn là ông ta đã cởi nó ra để mở cửa. "Tôi bắt đầu nấu ăn sau khi nghỉ hưu. Có một nghịch lý thú vị. Không ai thích một công tố viên cả. Nhưng... ", ông ta hất đầu về phía cái chảo to màu cam đựng đầy hải sản đã nấu chín "món xúp hải sản tôi nấu... ai cũng thích".
Nhìn xung quanh với vẻ mặt nhăn nhó khoa trương, Dance nói: "Vậy bếp núc là như thế này đây".
"À, nữ hoàng đồ ăn sẵn. Giống tôi khi còn là một chàng độc thân đang đi làm”.
"Những đứa bé tội nghiệp của tôi. Tin tốt là chúng đang học nấu ăn. Vào Ngày của Mẹ gần đây nhất, chúng đã làm cho tôi bánh kếp dâu tây”.
"Và sau đó cô lại phải dọn dẹp. Đây, thử một bát xem".
Cô không thể cự tuyệt. "Được rồi, chỉ nếm chút thôi nhé”.
Ông ta lấy hẳn một suất. "Cần chút rượu vang đi kèm”.
"Tôi sẽ từ chối mục này”. Cô nếm thử món hầm.
"Tuyệt vời"
Reynolds đã liên lạc vói cảnh sát trưởng hạt Sandoval và Monterey và biết được những chi tiết mới nhất về cuộc săn đuổi, kể cả thông tin về việc Pell đang ở trong vùng. (Dance nhận thấy khi có việc với CBI, ông ta gọi cho cô chứ không phải Charles Overby.)
"Tôi sẽ làm mọi việc có thể để giúp cô tóm thằng khốn đó”. Người cựu công tố viên tỉ mỉ cắt một quả cà chua. "Chỉ cần nói tôi phải làm gì. Tôi đã gọi cho công ty lưu trữ địa phương. Họ đang đem đến cho tôi tất cả các ghi chép về vụ án. Có thể tới chín mươi phần trăm là vô ích nhưng có thể sẽ có được một, hai hạt vàng nguyên chất đây. Tôi sẽ xem kỹ lại từng trang một, nếu như cần thiết”.
Dance nhìn vào mắt ông ta, đôi mắt đen như hai hòn than chứa đầy quyết tâm, khác với những tia sáng trong mắt Morton Nagle. Cô chưa bao giờ làm vụ nào với Reynolds, nhưng cô biết ông ta là một công tố viên cương quyết và không khoan nhượng.
"Sẽ rất có ích đây, James ạ. Tôi rất biết ơn”. Dance ăn hết món hầm, rửa bát và cất lên giá. "Tôi còn không biết là ông ở đây. Tôi nghe nói ông về nghi ở Santa Barbara”.
"Chúng tôi có một chỗ nho nhỏ ở đó. Nhưng chúng tôi ở đây gần như cả năm”.
"À, khi ông gọi tôi đã liên lạc với MCSO. Tôi muốn có một cảnh sát gác bên ngoài”.
Reynolds bỏ qua ý đó. "Tôi có hệ thống cảnh báo tốt. Gần như không ai có thể theo dõi được tôi. Khi trở thành công tố viên chính, tôi đã bắt đầu nhận được những lời đe dọa từ những vụ tố tụng các băng đảng ở Salinas. Điện thoại của tôi không có trong danh bạ và sở hữu nhà đã được chuyển cho một quỹ. Chúng không có cách nào tìm được tôi. Tôi có giấy phép sở hữu súng ngắn”.
Dance không nghĩ là ông ta sẽ nói không. "Hắn đã giết chóc vài lần trong ngày hôm nay rồi”.
Nhún vai, "Chắc chắn rồi, có gì đâu. Tôi sẽ nhận bảo mẫu vậy. Không có gì hại cả - con trai út của tôi đang đến chơi. Sao phải liều mạng chứ nhỉ?".
Dance ngồi xuống, đôi giày Aldos màu tím sẫm đặt lên thanh ngang giữa các ghế. Sợi dây giày được trang trí những bông cúc sáng màu. Thậm chí, Maggies mười tuổi còn có thẩm mỹ bảo thủ hơn cô đối với giày dép, mà đó lại là một trong những đam mê của Dance.
"Giờ thì ông làm ơn kể cho tôi nghe về những vụ giết người tám năm trước được không? Điều đó có thế gợi ý cho tôi hắn định làm trò gì nữa”.
Reynolds ngồi ghế bên cạnh, nhấm nháp rượu vang điểm lại các sự kiện của vụ án: Pell và Jiiruny Newberg đã đột nhập vào nhà William Croyton ở Carmel, giết chết doanh nhân, vợ ông ta và hai trong số ba đứa trẻ của họ như thế nào. Họ đều bị đâm đến chết.
"Newberg cũng thế. Giả định của tôi là hắn đã than phiền về việc giết bọn trẻ và đánh nhau với Pell và hắn đã giết luôn anh ta"
"Có chuyện gì giữa Pell và Croyton không?"
"Chúng tôi không tìm được gì. Nhưng khi đó Thung lũng Silicon đang ở đỉnh và Croyton là một trong những tay đại gia. Ông ta liên tục xuất hiện trên báo, ông ta không chỉ tự thiết kế hầu hết chương trình mà còn là giám đốc bán hàng nữa. Một người cực ấn tượng. Làm nhiều, chơi khỏe. To lớn, ầm ĩ, rám nắng. Không phải là nạn nhân đáng được thông cảm nhất trên thế giới. Một doanh nhân khá thô lỗ, có tin đồn về ngoại tình, nhân viên không hài lòng.
Nhưng nếu bọn chúng phạm tội giết các thiên thần thì những công tố viên như chúng tôi sẽ thất nghiệp.
Một năm trước khi vụ giết người xảy ra, công ty của ông ta đã bị trộm vài lần. Bọn trộm lấy máy tính và phần mềm nhưng hạt Santa Clara không tìm được nghi phạm nào. Không có dấu hiệu liên quan tới Pell. Nhưng lúc nào tôi cũng băn khoăn không hiểu có phải chính là hắn không”.
"Công ty như thế nào sau khi ông ta chết?"
"Có ai đó đã mua lại nó, Microsoft, Apple hay là một trong những công ty sản xuất trò chơi, tôi không biết nữa”.
"Còn nhà cửa của ông ta thì sao?"
"Phần lớn được đưa vào quỹ cho con gái ông ta và tôi nghĩ cho cả chị vợ ông ta nữa, bà bác chịu trách nhiệm chăm sóc đứa trẻ. Croyton làm về máy tính từ khi còn là một đứa bé. Có thể ông ta có số tài sản phần cứng cũ và phần mềm trị giá khoảng mười hai triệu đô la để lại cho bang California - vịnh Monterey. Bảo tàng máy tính thực sự rất ấn tượng và kỹ thuật viên khắp thế giới đến để nghiên cứu kho lưu trữ”.
"Thật thế sao?"
"Rõ ràng là vậy. Croyton đã đi trước thời đại”.
"Và giàu có”.
"Rất giàu”.
"Vậy động cơ giết người thực sự là gì?"
"À, chúng tôi không biết chắc chắn. Trên thực tế đây là một vụ trộm cắp thuần túy. Tôi nghĩ Pell có đọc về Croyton và nghĩ rằng lấy tiền của ông ta không khó”.
"Nhưng tôi có đọc là hắn chẳng lấy được bao nhiêu”.
"Khoảng một ngàn và ít đồ trang sức. Đó có thể chỉ là một vụ nhỏ. Tất nhiên là không tính đến năm xác chết. Gần sáu nhưng may là cô con gái út lại ở trên lầu”.
"Chuyện của cô bé như thế nào?"
"Đứa bé tội nghiệp. Cô biết người ta gọi nó là gì không?"
"Búp bê đang ngủ”.
"Đúng thế. Cô bé không khai báo gì. Kể cả nếu như có nhìn thấy gì đi nữa thì tôi cũng không để cô bé phải đứng ra làm chứng, không phải đứng cùng với thằng khốn đó trong phòng xử án. Đằng nào thì tôi cũng đã có đủ bằng chứng”.
"Cô bé không nhớ gì sao?"
"Không gì có ích cả. Cô đã được gia đình bà cô nhận nuôi và họ đã chuyển đi”.
"Luật sư bào chữa cho Pell như thế nào?"
"Họ tới đó với một vài ý tưởng kinh doanh. Newberg đã quát tháo và giết chết tất cả mọi người. Pell tìm cách ngăn hắn lại, họ đánh nhau và Pell đã, tôi trích dẫn, "phải" giết hắn. Nhưng không có bằng chứng nào chứng tỏ Croyton có lịch họp - cả gia đình đang ăn tối khi chúng xuất hiện. Ngoài ra, bằng chứng rất rõ ràng: thời gian xảy ra cái chết, dấu vân tay, dấu vết, vết máu, mọi thứ. Pell là thủ phạm".
"Trong tù, Pell được dùng máy tính. Không bị giám sát”.
"Không hay chút nào".
Cô gật đầu. "Chúng tôi tìm thấy mấy thứ hắn tìm kiếm. Những thứ này có nghĩa gì với ông không? Một là 'Alison'
"Đó không phải là một trong những cô gái trongGia đình. Tôi không nhớ có ai có quan hệ với hắn có tên như thế".
"Một từ nữa mà hắn tìm là 'Nimue'. Một nhân vật huyền thoại. Truyền thuyết về vua Arthur. Nhưng tôi nghĩ đó là nick của ai đó mà Pell có liên hệ”.
"Xin lỗi, tôi chẳng biết gì”.
"Có ý tưởng nào về những suy tính của hắn không?"
Reynolds lắc đầu. "Xin lỗi. Đây là một vụ lớn đối với tôi. Và cả với hạt nữa. Nhưng sự thực là nó không phải là một vụ đáng kể. Hắn bị bắt quả tang, bằng chứng hoàn toàn vững chắc và hắn là một kẻ ngựa quen đường cũ có tiền án tiền sự từ hồi còn nhỏ. Ý tôi là hắn ta và Gia đình đã nằm trong danh sách theo dõi của các cộng đồng dân cư ở vùng biển từ Big Sur cho tới Marin. Tôi chắc phải tệ lắm thì mới thua vụ này được".
"Được rồi James, tôi phải đi đây", cô nói, "Cảm ơn ông đã giúp. Nếu ông tìm thấy gì trong hồ sơ thì vui lòng cho báo tôi biết".
Ông ta trịnh trọng gật đầu với cô, không còn dáng vẻ của một người hưu trí hời hợt hay một ông bố vợ dễ mến nữa. Dance có thể thấy trong mắt Reynolds sự quyết tâm mãnh liệt, điều đã tạo nên dấu ấn của ông tại tòa.
"Tôi sẽ làm mọi việc có thể để giúp trả thằng chó chết về chỗ của nó. Hoặc vào túi đựng xác”.

 

Họ tách nhau ra, lúc này đang cách nhau vài trăm mét, họ đi bộ tới một nhà nghỉ ở vùng Pacific Groove xinh đẹp, ngay tại trung tâm của bán đảo.
Pell đi thoải mái và đầy vẻ thán phục như một khách du lịch đang ngạc nhiên khi lần đầu tiên được chiêm ngưỡng những con sóng không phải trên phim Baymatch.
Họ thay quần áo mới mua tại cửa hàng Goodwill trong một khu nghèo của Seaside (ở đó hắn đã thích thú nhìn Jennie do dự rồi sau đó vứt bỏ chiếc áo hồng yêu quí của mình). Lúc này Pell mặc chiếc áo gió màu xám nhạt, quần soóc, đi đôi giày chạy rẻ tiền, mũ bóng chày đội ngược ra sau. Hắn còn mang theo chiếc máy ảnh dùng một lần. Thỉnh thoảng hắn dừng lại chụp cảnh hoàng hôn, trên lý thuyết một việc những tên giết người đang bỏ chạy ít khi làm là dừng lại để chụp ảnh biển, dù cho phong cảnh có ấn tượn đến mấy.
Hắn và Jennie đã lái xe về từ phía đông Moss Landing trên chiếc Ford Focus lấy trộm, đi trên một trong những con đường chính, thậm chí còn chạy qua một cánh đồng trồng bắp cải đầy người. Cuối cùng họ lại quay lại Pacific Groove. Cho tới khi xung quanh bắt đầu đông người hắn biết đã tới lúc phải bỏ xe. Cảnh sát sẽ biết ngay về chiếc Focus. Hắn giấu nó vào đám cỏ cao giữa một cánh đồng rộng bên xa lộ 68, được đánh dấu bằng tấm biển Chào bán Khu thương mại.
Hắn quyết định họ phải tách nhau ra khi đi tới nhà khách. Jennie không thích ý này, không được đi cùng với hắn, nhưng họ vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại trả trước. Cô ta gọi hắn năm phút một lần cho tới khi hắn bảo cô ta không nên gọi vì cảnh sát có thể nghe trộm.
Tất nhiên là họ không nghe trộm, nhưng hắn đã phát chán với những câu chuyện tầm phào yêu đương và muốn suy nghĩ. Daniel Pell đang lo lắng.
Làm thế nào mà cảnh sát lần ra họ đến tận nhà hàng Jack's?
Hắn nghĩ tới các khả năng. Có thể cái mũ, kính râm và khuôn mặt cạo nhẵn nhụi vẫn không lừa được người quản lý nhà hàng nhưng ai mà có thể tin được là một tên sát nhân vượt ngục lại ngồi chơi như một khách du lịch đến từ San Francisco để ngấu nghiến chén một đĩa cá thờn bơn ngon lành ở chỗ cách trung tâm giam giữ mà hắn vừa trang trí lại bằng máu và lửa chỉ hơn hai mươi cây số.
Phát hiện ra chiếc T-bird bị đánh cắp là một khả năng khác. Nhưng vì sao lại có ai đó tìm biển số của một chiếc xe bị đánh cắp cách đó bốn trăm dặm? Kể cả nếu đúng như thế sao lại phải gọi Aubome 101  chỉ vì một chiếc xe bị đánh cắp - trừ phi chúng biết có liên hệ gì đó với Pell.
Còn cảnh sát phải tin rằng hắn đang tới một khu cắm trại bên ngoài thành phố Salt Lake mà hắn đã gọi điện đến.
Kathryn?
Hắn có cảm giác là cô không bị lừa bởi ý tưởng về Utah, thậm chí sau mẹo cố tình để người tài xế được sống và sử dụng điện thoại của anh ta. Pell băn khoăn không biết có phải cô ta cố tình đưa thông báo về Utah lên mặt báo để nhử hắn lộ diện.
Và điều đó đúng là có tác dụng, hắn giận dữ nghĩ.
Bất cứ đi đâu, hắn luôn có cảm giác là cô đang chỉ huy cuộc săn đuổi hắn.
Pell băn khoăn không biết cô sống ở đâu. Hắn nghĩ lại những đánh giá của hắn về cô trong cuộc phỏng vấn - những đứa con cô, chồng cô - nhớ lại khi nào cô có những phản ứng khó nhận thấy, khi nào không.
Những đứa trẻ, có chồng, có lẽ không. Không có khả năng của một vụ li dị. Hắn cảm nhận thấy cô có khả năng suy xét tốt và lòng trung thành.
Pell dừng lại chụp một kiểu ảnh mặt trời đang lặn xuống Thái Bình Dương. Cảnh thực là đẹp. Kathryn là một bà góa. Một ý tưởng thú vị. Hắn lại cảm thấy bên trong hắn phồng lên.
Hắn phải gạt điều đó sang một bên. Tạm thời trong lúc này.
Hắn mua mấy thứ trong một cửa hàng rượu vang, hắn chọn cửa hàng này vì biết ảnh của hắn sẽ không quay vòng năm phút một lần trên thời sự và hắn đã đúng, chiếc ti vi nhỏ xíu đang chiếu một bộ phim nhiều tập tiếng Tây Ban Nha.
Pell gặp lại Jennie tại Asimolar, một công viên đẹp với bãi tắm hình vòng cung dành cho những người đam mê lướt sóng và về phía Monterey là bờ biển lởm chởm đá với những làn sóng đập tung bọt trắng.
"Mọi thứ ổn cả chứ?", cô lo lắng hỏi.
"Tốt, em yêu ạ, mình sẽ ổn thôi”.
Cô dẫn hắn đi qua những con phố yên tĩnh của Pacific Groove, nơi lẩn trốn xưa cũ của những người theo phái Methodist (một giáo phái theo đạo Kitô được khởi xướng bởi John Wesley) với những tòa nhà kiểu Victoria và Tudor sặc sỡ. Sau năm phút cô nói: "Đến nơi rồi". Cô hất đầu về phía nhà khách Sea View, tòa nhà màu nâu với những cửa sổ nhỏ phía trước, trần nhà lát gỗ với những khung kính sưu tầm bướm treo trên cửa. Thị trấn này nổi tiếng, ngoài việc là thị trấn cấm bán rượu cuối cùng ở California còn vì loài bướm hoàng gia - hàng chục ngàn con côn trùng tụ tập ở đây từ mùa thu cho tới mùa đông.
"Đẹp phải không ạ?"
Pell đoán thế. Đẹp không có ý nghĩa gì đối với hắn ta. Điều quan trọng là phòng quay lưng ra đường và có một con ngõ chạy ra bãi đỗ xe phía sau có thể dùng như một lối thoát thân hoàn hảo, cô đã tìm được chỗ đúng như hắn yêu cầu.
"Hoàn hảo, em yêu ạ. Như em vậy".
Một nụ cười nữa trên khuôn mặt phẳng lặng của cô, dù không thực sự thực tâm; cô vẫn còn đang run sợ vì sự cố xảy ra ở nhà hàng Jack's. Pell không quan tâm. Quả bóng trong hắn lại phồng lên. Hắn không chắc đó là do Kathryn hay Jennie.
"Phòng nào của mình?"
Cô chỉ. "Nào, anh yêu. Em có điều ngạc nhiên dành cho anh đây".
Hừm. Pell không thích điều ngạc nhiên.
Cô mở cửa.
Hắn hất đầu về phía cửa. "Anh ở ngay sau em mà, em yêu”.
Và thò tay vào lưng quần sờ khẩu súng ngắn. Hắn gồng người, sẵn sàng đẩy cô ra trước làm lá chắn hy sinh và bắn vào chỗ có tiếng cảnh sát.
Nhưng đây không phải cái bẫy. Căn phòng trống rỗng. Hắn nhìn quanh. Trông nó còn đẹp hơn lúc nhìn từ bên ngoài. Sang trọng. Đồ gỗ, khăn trải giường, khăn mặt và cả áo choàng tắm đều đắt tiền. Có cả mấy bức tranh đập Bờ biển, cây thông đơn độc và lại một lũbướm khốn khiếp.
Và nến, bao nhiêu là nến. Chỗ nào có thể đặt được nến là có nến.
Ồ, đây chính là điều ngạc nhiên, ơn Chúa, chúng chưa được đốt lên. Đó là tất cả những gì hắn cần - quay về từ vụ trốn chạy và thấy hang ổ của mình bốc cháy.
"Em có khóa chứ?"
Cô đưa khóa cho hắn.
Chìa khóa. Pell yêu chìa khóa. Dù là khóa xe, phòng khách sạn, hộp gửi đồ hay khóa nhà, ai có chìa khóa người ấy có quyền kiểm soát.
"Có gì trong đấy thế?", cô hỏi, liếc nhìn cái túi. Trước đó cô đã có vẻ tò mò, từ lúc họ gặp nhau ngoài bãi biển không lâu trước đó, hắn biết. Hắn cố tình không nói với cô.
"Chỉ là thứ chúng ta cần. Và một ít đồ ăn”. Jennie chớp mắt vì bất ngờ.
"Anh mua đồ ăn?"
Cái gì vậy, đây là lần đầu tiên người đàn ông của cô ta mua đồ ăn cho cô hay sao?
"Em có thể làm việc đó", cô nói nhanh. Rồi hất đầu về phía bếp, cô ta nói: "Vậy em sẽ nấu cho anh ăn nhé?".
Một câu nói lạ kỳ. Cô ta đã được dạy dỗ để nghĩ như vậy. Bởi người chồng cũ hay một trong những người bạn trai lạm dụng của cô ta - Tim Xe máy.
Câm miệng lại rồi đi nấu cơm đi...
"Không sao, em yêu ạ, anh sẽ nấu”.
"Anh?"
"Chắc chắn rồi”. Pell biết nhiều người đàn ông khăng khăng cho rằng "vợ" phải lo ăn uống cho họ. Họ nghĩ họ là vua trong cung đình, cần được phục vụ. Điều đó cho họ cảm giác quyền lực. Nhưng họ không hiểu rằng khi họ phụ thuộc vào người khác làm gì đó cho mình, họ bị yếu đi (Ngoài ra, việc ấy thật là xuẩn ngốc? Mày có biết là trộn thuốc chuột vào bát xúp dễ thế nào không?) Pell không phải bếp trưởng nhưng nhiều năm trước khi Linda là đầu bếp của Gia đình, hắn vẫn thích loanh quanh trong bếp, giúp cô, theo dõi các thứ.
"Ồ, anh mua đồ ăn Mexico này!" Cô cười khi lôi trong túi ra thịt bò xay, bánh tortillas, cà chua, ớt đóng hộp và nước xốt.
"Em nói em thích món này. Đồ ăn giúp em thoải mái. Này em yêu…" Hắn hôn lên tóc cô. "Em đã rất bình tĩnh ngày hôm nay ở nhà hàng đấy”.
Quay mặt khỏi đám đồ ăn, cô nhìn xuống sàn. "Em sợ hết hồn, anh biết không. Em sợ lắm. Em không định hét lên đâu”.
"Không, không, em bình tĩnh lại nhanh lắm. Em biết thế nghĩa là gì không?"
"Không hẳn đâu ạ”.
"Có một câu thành ngữ cũ mà những người thủy thủ hay dùng. Họ xăm chúng lên ngón tay, để khi nắm thành nắm đấm em sẽ đọc được cả câu. 'Hold fast'. Có nghĩa là không bỏ chạy”.
Cô cười. "Em không chạy khỏi anh đâu".
Hắn chạm môi vào tóc cô, ngửi thấy mùi nước hoa giảm giá ngòn ngọt. Cô vuốt mũi.
"Mình là một đội em yêu ạ”. Câu đó giúp cô thôi không vuốt mũi nữa. Pell nhận ra điều đó.
Hắn vào phòng tắm, đi tiêu thật lâu rồi đi tắm. Khi ra ngoài, hắn thấy điều bất ngờ thứ hai.
Jennie đã cởi hết quần áo. Cô chỉ mặc áo ngực và quần lót, đang đốt nến bằng bật lửa.
Cô ngước nhìn lên. "Anh nói thích màu đỏ”.
Pell tươi cười, đi lại phía cô. Vuốt tay dọc xương sống gầy gò của cô. "Hay anh muốn ăn?"
Hắn hôn cô. "Mình sẽ ăn sau”.
"Ôi, em muốn anh, anh yêu", cô thầm thì. Rõ ràng đó là câu trước đây cô thường xuyên dùng. Nhưng điều đó không có nghĩa là lúc này nó không đúng.
Hắn lấy chiếc bật lửa. "Mình sẽ tạo không khí sau”. Hắn hôn cô, kéo đùi cô sát vào đùi hắn.
Cô cười - giờ là nụ cười thực sự và áp mạnh hơn vào háng hắn.
"Em nghĩ anh cũng muốn em”. Một tiếng rên gừ gừ.
"Anh muốn em, em yêu ạ”.
"Em thích khi anh gọi em thế”.
"Em có quần tất không?", hắn hỏi.
Cô gật đầu. "Màu đen. Em sẽ mặc vào”.
"Không, không phải anh muốn thế", hắn thầm thì.