Dịch giả: Trịnh Huy Ninh
Chương 3
Chánh án tối cao

Hai tháng sau - ngày 19 tháng 9 năm 1685, nếu bạn quan tâm đến ngày tháng chính xác, Blood phải ra tòa vì tội phản quốc. Chúng ta biết chàng vô tội, nhưng có điều không phải ngờ gì nữa là cho đến khi phải ra tòa chàng đã sẵn sàng phạm tội ấy. Sau hai tháng ngồi tù trong những điều kiện vô nhân đạo khó tả nổi, Blood đã kịp căm thù sâu sắc vua James và bè đảng. Chỉ nguyên một việc là Blood còn giữ được sáng suốt trong hoàn cảnh ấy đã chứng tỏ chàng có sức mạnh tinh thần ghê gớm thế nào. Tuy vậy, dù tình cảm của con người hoàn toàn vô tội ấy có khủng khiếp đến đâu đi nữa, chàng vẫn có thể cảm ơn số phận, trước hết là vì còn được xét xử và sau nữa là vì phiên tòa mở đúng vào ngày 19 tháng 9 chứ không phải trước ngày đó. Sự trì trệ đã từng làm Blood phát điên ấy hóa ra lại là khả năng duy nhất cho chàng thoát khỏi giá treo cổ, mặc dù lúc đó chàng vẫn chưa hiểu được như vậy.
Rất có thể chàng đã nằm trong số những người bị bắt ngay sau hôm diễn ra trận đánh, bị lôi khỏi các phòng giam chật như nêm ở nhà tù Bridgewater và bị treo cổ ngoài bãi chợ không cần xét xử, theo lệnh của đại tá Kirke lúc ấy đang thèm khát vị máu. Viên chỉ huy của trung đoàn Tangiers lẽ ra cũng đã làm như vậy với những người tù còn lại nếu giáo chủ xứ Mews không ra tay can thiệp và chặn đứng những cuộc hình hành vô tội vạ ấy.
Chỉ trong một tuần sau trận Sedgemoor, Feversham và Kirke đã hành hình hơn trăm người mà không thèm bày trò xét xử. Những kẻ chiến thắng đang cần có con mồi cho những giá treo cổ dựng đầy rẫy khắp đất nước. Chúng không hề bận tâm về việc những con mồi ấy bị bắt như thế nào, ở đâu và trong số đó có bao nhiêu người vô tội. Nói cho cùng thì tính mạng của lũ cừu ngờ nghệch ấy có đáng gì đâu cơ chứ! Bọn đao phủ làm việc không ngơi tay với dây nhợ, dao búa và những vạc dầu sôi. Nhưng tôi không dám bắt các bạn phải đọc những cảnh tượng rùng rợn ấy, bởi vì nói gì thì nói, số phận của Peter đáng cho chúng ta quan tâm hơn là vận mệnh của các loạn quân bị Monmouth lừa bịp.
Blood còn sống sót đến ngày mà chàng bị lùa từ Bridgewater đi Taunton, bị xích thành cặp cùng với những người bất hạnh khác. Những tù nhân với những vết thương lở loét không được băng bó, không đủ sức đi nổi thì bọn lính vứt bừa lên những chiếc xe đầy cứng. Vài người may mắn đã chết dọc đường. Khi Blood với danh nghĩa thầy thuốc, xin phép được cứu giúp những người đau đớn nhất, thì chàng lại bị coi là ngông cuồng và nhiễu sự, bị đe dọa ăn roi. Lúc này, nếu chàng có ân hận điều gì, thì chỉ ân hận rằng đã không tham gia cuộc bạo loạn của Monmouth. Dĩ nhiên nghĩ như vậy là không được nhất quán lắm, nhưng làm sao có thể chờ đợi một người trong cảnh ngộ ấy suy nghĩ khôn ngoan cho được.
Suốt đoạn đường khủng khiếp từ Bridgewater đến Taunton, cùng lê xiềng đi ngay cạnh Blood không phải là ai khác mà chính là Jeremy Pitt, người là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh của chàng. Anh chàng thủy thủ trẻ không lúc nào rời Blood. Tháng bảy, tháng tám và tháng chín hai người đã cùng mỏi mòn trong cái nóng bức và ngột ngạt giữa nhà tù chật như nêm cối, rồi trước lúc ra tòa họ lại cùng bị xiềng chung một cùm.
Những tin tức và những lời đồn đại, mỗi ngày một chút, lọt qua những bức tường dày của lao thất. Một số tin đồn được cố tình phao ra giữa đám tù, kể cả tin Monmouth bị hành quyết, đã làm những người phải chịu tất cả mọi cực hình vì kẻ kế vị ngai vàng giả mạo ấy hết sức nản lòng. Nhiều tù nhân khăng khăng không chịu tin. Họ hồ đồ khẳng định rằng một người khác có dung mạo giống quận công đã bị hành hình, song chính ngài thì đã trốn thoát, để rồi một ngày nào đó lại xuất hiện trong vòng hào quang rạng rỡ.
Ðối với câu chuyện bịa đặt ấy, cũng như với những tin tức xác thực về cái chết của Monmouth, Blood đều tỏ ra hết sức dửng dưng. Tuy nhiên có một chi tiết không những chỉ làm Blood tức giận mà còn khơi sâu thêm lòng hận thù của chàng đối với vua James. Tên vua ngỏ ý muốn gặp Monmouth. Nếu hắn không có ý định tha thứ gã quận công nổi loạn thì cuộc gặp mặt ấy chỉ nhằm mục đích hèn hạ và đê tiện nhất - để hưởng cái thú trông thấy Monmouth hạ mình.
Sau này những người tù được biết rằng Lord Grey, người thực tế cầm đầu cuộc bạo loạn, đã mua được việc tha bổng mình bằng bốn chục nghìn đồng pound sterling. Nghe đến đó thì Blood không nhịn được nữa và nói ra sự khinh bỉ của mình đối với vua James.
- Ngồi trên ngai vàng là một tên súc sinh mới hèn hạ và ô uế làm sao! Nếu tôi biết sớm những điều đến nay mới biết thì tôi đã gây ra nhiều việc để chúng có cớ nhốt mình vào ngục từ lâu rồi - Chàng nói, đoạn quay sang bên cạnh hỏi: - Cậu nghĩ sao, Lord Gildoy lúc này đang ở đâu?
Pitt, người được Blood hỏi câu ấy, quay bộ mặt đã phai hết màu nắng gió sau vài ngày ở tù, đôi mắt xám mở thao láo nhìn người bạn tù, dò hỏi:
- Cậu ngạc nhiên với câu hỏi của tôi à? - Blood hỏi - Lần cuối cùng chúng ta trông thấy đức ông là ở Oglethorpe. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi muốn biết các vị quý  tộc khác - những kẻ thực sự có tội trong cuộc bạo loạn chết yểu này - bây giờ đang ở đâu chứ. Tôi nghĩ rằng việc xảy ra với Grey đã giải thích rõ sự vắng mặt của bọn họ trong tù. Tất cả bọn họ đều giầu có và tất nhiên đã mua được sự yên ổn, tránh những chuyện lôi thôi phiền toái từ lâu rồi. Giá treo cổ chỉ chờ đợi những kẻ bất hạnh nào đã ngu ngốc nghe theo các nhà quý  tộc, còn bản thân các ông lớn thì tất nhiên không phải lo lắng gì. Một kết luận nực cười nhưng thâm thúy. Sao người ta còn ngu ngốc đến thế kia chứ!
Chàng cười cay đắng, và sau hôm đó ít lâu, cũng với cảm giác khinh bỉ thậm tệ ấy, chàng vào thành Taunton để ra mắt trước tòa. Cùng bị đưa đến đây với chàng còn có Pitt và Baynes, bởi vì ba người cùng bị bắt trong một vụ mà hôm này tòa sẽ đưa ra xét xử.
Gian phòng rộng rãi được chăng vải màu huyết dụ, với các ban công chật kín người, chủ yếu là các bà. Ðó là thói phách lối màu mè của chánh án tòa án tối cao, nam tước Jeffreys khát máu. Hắn ngồi trên ghế chánh án, bên dưới co ro cúm rúm bốn viên quan tòa mặc áo thụng màu huyết dụ và đội những mớ tóc giả đen nặng nề. Dưới nữa là mười hai viên bồi thẩm.
Bọn cảnh binh đưa các bị cáo vào. Viên mõ tòa quay xuống những người đến dự yêu cầu tuyệt đối trật tự và dọa tống giam những ai phá rối. Tiếng ồn ào trong phòng dần dần lắng xuống và Blood đưa mắt chăm chú ngắm nghía đám bồi thẩm đang tuyên thệ sẽ "công bằng và độ lượng". Tuy nhiên, vẻ ngoài của cả đám cho thấy rõ rằng họ không thể nào nghĩ đến chuyện độ lượng lẫn công bằng được. Kinh hoàng và bối rối trước cảnh bày biện khác thường, bọn họ trông giống hệt đám móc túi bị bắt quả tang. Tất cả bọn họ, không trừ một ai, đang phải đứng trước một lựa chọn: hoặc búa rìu của quan chánh án hoặc sự thôi thúc của lương tâm.
Rồi Blood quay sang nhìn các thành viên hội đồng xử án và viên chủ tịch hội đồng - Huân tước Jeffreys, một kẻ tàn ác có tiếng.
Ðó là một người cao gầy, trạc bốn mươi, khuôn mặt dài, thanh tú, quầng thâm dưới mắt và cặp mi sưng mọng càng làm nổi bật cái nhìn buồn bã. Trên bộ mặt nhợt nhạt như mặt người chết nổi rõ đôi môi đỏ mọng và hai vết đỏ của người mắc bệnh lao.
Blood được biết, quan chánh án đang bị một chứng bệnh hành hạ và căn bệnh ấy chắc chắn sẽ đưa hắn xuống mồ một cách chóng vánh nhất. Và chàng thầy thuốc còn biết rằng mặc dù ngày tận số đã đến gần - mà cũng có thể là vì cớ ấy - Jeffreys sống hết sức buông tuồng.
- Peter Blood đâu, đưa tay lên!
Giọng nói the thé của gã mõ tòa đưa Blood trở về với thực tại. Blood đưa tay lên và gã mõ tòa bắt đầu đọc bản cáo trạng dài dòng bằng một giọng đều đều đơn điệu: chàng bị kết tội phản bội vị chúa tể tối cao và hợp pháp của mình là James II, người được Chúa Trời định đoạt làm vua Anh quốc, Scotland, Pháp, và Ai-len. Bản cáo trạng khẳng định rằng Blood không những không tỏ ra yêu mến và kính trọng vua mình mà còn bị quỷ dữ cám dỗ nên đã phá rối sự thanh bình và yên ổn của vương quốc, gây chiến tranh và bạo loạn với mục đích tội lỗi là thủ tiêu ngôi báu, tước hiệu và uy danh vua mình, và cuối cùng đòi Blood trả lời: chàng có tội hay vô tội?
- Tôi không có tội gì hết - chàng đáp ngay không một chút do dự.
Một gã bé nhỏ mặt nhọn hoắt ngồi phía trước bàn quan tòa bật chồm dậy. Ðó là viên công tố quân vụ Pollexfen.
- Có tội hay không có tội? - hắn gào lên - Hãy trả lời bằng những lời người ta hỏi anh đây này!
- Bằng lời người ta hỏi tôi? - Blood hỏi lại - Ðược! Tôi vô tội - và quay sang các quan tòa, chàng tiếp - Tôi buộc phải tuyên bố rằng tôi không làm một điều gì như trong bản cáo trạng nếu trên cả. Cái mà người ta có thể buộc tội tôi là thiếu kiềm chế trong hai tháng bị giam hôi thối, nơi sức khỏe và tính mạng tôi bị đe dọa nghiêm trọng...
Chàng có thể nói thêm nhiều nữa nhưng viên chánh án đã ngắt lời bằng một giọng nhỏ nhẹ, thậm chí có vẻ như phàn nàn.
- Tôi buộc phải ngắt lời anh. Số là chúng tôi phải tuân thủ các quy tắc tố tụng đã được thừa nhận. Theo tôi hiểu thì anh chưa thông thạo thủ tục tố tụng?
- Không những chưa thông thạo mà cho đến bây giờ tôi rất sung sướng vì sự dốt nát của mình trong vấn đề này. Nếu như có thể thì tôi rất vui mừng tránh những hiểu biết kiểu ấy.
Một nụ cười yếu ớt thoáng hiện trên bộ mặt rầu rĩ của viên chánh án.
- Tôi cũng tin như vậy. Anh sẽ có cơ hội nói hết những gì mình muốn trong lời phát biểu bào chữa cho mình. Tuy nhiên những điều anh định nói bây giờ thì không phải lúc và không hợp pháp.
Blood vừa ngạc nhiên vừa vui mừng nhận thấy cảm tình rõ rệt và sự chu đáo của chánh án. Chàng bèn bày tỏ sự đồng ý để Chúa Trời và đất nước xét xử mình[1]. Tiếp theo, gã mõ tòa cầu nguyện xin Chúa giúp tòa định án được công minh, rồi gọi Andrew Baynes, ra lệnh cho ông đưa tay lên và đáp lại lời buộc tội. Sau khi Baynes khẳng định rằng mình vô tội, viên mõ tòa lại gọi đến Pitt và anh chàng này đã thản nhiên công nhận tội mình. Viên chánh án hoạt bát hẳn lên.
- Ðấy, cứ như thế có phải là tốt không, - viên chánh án nói, và thế là lũ đồng sự mặc áo thụng màu huyết dụ của hắn liền ngoan ngoãn gật lấy gật để. Nếu ai cũng ngoan cố như bọn phiến loạn đáng treo cổ kia - và hắn uể oải hất tay chỉ Blood và Baynes - thì đến bao giờ chúng ta mới xong việc được?
Lời nhận xét đầy đe dọa của chánh án làm tất cả những người có mặt tại đó phải giật thót. Sau đó đến lượt Pollexfen đứng dậy. Hắn dài dòng trình bày vụ án dính dáng đến ba người rồi chuyển sang buộc tội Blood, người bị đưa ra xét xử trước tiên.
Nhân chứng duy nhất của bên nguyên là đại úy Hobart. Hắn huyên thuyên kể lại việc hắn đã tìm thấy và bắt giữ ba bị cáo này cùng với huân tước Gildoy. Theo mệnh lệnh của đại tá Kirke, đáng lẽ đại úy đã treo cổ Pitt ngay tại chỗ nếu như không bị cản trở bởi những lời dối trá của bị cáo Blood rằng Pitt là quí tộc và là một nhân vật cần chú ý.
Khi tên đại úy khai xong, huân tước Jeffreys quay xuống Blood:
- Anh có muốn hỏi gì nhân chứng không?
 
Thống đốc Steed đích thân đến giám sát các tù nhân đang xếp thành hàng trên đập chắn sóng. Ðó là một người thấp béo, mặt mũi hồng hào, mặc áo camisole bằng lụa thô, sợi dày, đính đầy băng kim tuyến. Ông ta đi hơi khập khiễng và vì vậy phải chống một cây gậy lớn bằng gỗ mun. Sau thống đốc là một người đàn ông to lớn phương phi, mặc sắc phục đại tá cảnh binh Barbados, bộ mặt vàng bủng to bè của hắn như toát lên vẻ bất lương. Bên cạnh hắn là một cô gái mảnh mai thon thả mặc đồ đi ngựa sang trọng. Chiếc mũ rộng vành màu xám cắm những chiếc lông đà điểu đỏ thắm rủ xuống khuôn mặt trái xoan không hề có dấu vết gì của khí hậu miền xích đạo. Những món tóc mầu hạt dẻ óng ánh loăn xoăn đổ xuống bờ vai. Ðôi mắt nâu sẫm nhìn đời thật cởi mở, nhưng trên khuôn mặt nàng thay vì vẻ tinh nghịch thường lệ, giờ đây hiện rõ vẻ thương cảm xót xa.
 
Blood sực tỉnh, chợt thấy mình không đủ sức rời ánh mắt ngạc nhiên khỏi khuôn mặt quyến rũ của cô gái mà sự hiện diện của nàng ở đây rõ ràng là không đúng chỗ. Nhận thấy nàng cũng đang chăm chú nhìn mình, Blood rúm người lại, vì biết rõ trông mình thiểu não đến mức nào. Không được tắm rửa đầu óc rối bù cáu ghét, bộ râu đen đã lâu không không cạo với mớ giẻ rách nguyên là chiếc áo camisole nhưng bây giờ đến bù nhìn giữ dưa cũng phải chê, trông chàng hoàng toàn không xứng để đôi mắt yêu kiều như thế kìa nhìn vào. Tuy nhiên cô gái vẫn tiếp tục nhìn chàng với vẻ xót xa và ngạc nhiên gần như thơ trẻ. Rồi nàng khẽ đập vào tay người cùng đi, tên kia bực bội càu nhàu quay sang phía nàng.
 
Cô gái sôi nổi nói gì đó với hắn nhưng rõ ràng tên đại tá không chú ý nghe nàng. Cặp mắt ti hí gần nhau trên cái mũi khoằm thây lẩy của hắn lấp lóe, chuyển từ cô gái sang anh chàng Pitt tóc vàng chắc nịch đang đứng bên cạnh Blood.
 
Nhưng đúng lúc ấy, viên thống đốc bước đến gần họ và ba người bắt đầu nói chuyện với nhau.
 
Cô gái nói rất nhỏ, Blood không nghe được gì. Còn lời tên đại tá vọng đến tai chàng thành tiếng gầm gừ không rõ lời. Viên thông đốc có giọng nói the thé thì cứ ngỡ mình sắc sảo và thích người ta chú ý đến mình.
- Này, đại tá Bishop thân mến của tôi, ông được quyền lựa chọn trước tiên bó hoa tuyệt này theo giá mà ông tự định lấy. Bọn còn lại thì chúng tôi sẽ bán đấu giá.
Ðại tá Bishop gật đầu tỏ vẻ đồng ý:
- Cảm ơn đức ông đã có lòng hạ cố. Nhưng tôi xin thề đấy không phải là công nhân mà chỉ là một lũ nghẽo còm bệ rạc. Bọn ấy khó làm việc ở đồn điền được.
 
Ngạo mạn nheo cặp mắt ti hí, nhìn một lượt những người tù, vẻ ác ý độc địa càng hiện rõ trên mặt hắn. Rồi gọi viên thuyền trưởng Gardner của chiếc tàu "Người lái buôn Jamaica" lại gần, hắn nói gì đó với gã kia vài phút và xem xét bản danh sách mà gã đã đưa cho.
 
Sau đó tên đại tá đút trả cho gã thuyền trưởng bản danh sách và bước lại gần những người bị lưu đày. Bishop dừng lại bên cạnh anh chàng thủy thủ trẻ tuổi vùng Somersetshire. Sờ nắn các bắp thịt trên cánh tay Pitt, hắn bắt anh mở mồm cho hắn xem răng; hắn liếm mép, gật gù; rồi không thèm quay lại, buông thõng một câu với Gardner đang đi phía sau:
- Thằng này 15 bảng.
Gã thuyền trưởng nhăn nhó bất bình:
- 15 bảng? Thế thì chưa được nửa giá tôi muốn bán đâu ạ.
- Ðó là gấp đôi số tiền ta định trả anh rồi đấy, tên đại tá hầm hè.
- Nhưng thằng này thì ba chục vẫn còn là rẻ, bẩm quan lớn.
- Với cái giá ấy ta có thể mua hẳn một thằng da đen. Cái bọn lợn bạch này vừa không biết làm việc lại vừa dễ toi với khí hậu ở đây.
Gardner ra sức tán dương sức khỏe của Pitt, tuổi trẻ và sức chịu đựng của anh ta, như thể không phải hắn đang nói về một con người mà về một súc vật kéo. Anh chàng Pitt mẫn cảm đứng im bất động. Chỉ đôi má lúc đỏ bừng, lúc tái nhợt là cho thấy sự đấu tranh nội tâm mà anh phải trải qua để cố giữ được tự chủ. Ðối với Blood thì cuộc mặc cả đê mạt ấy đã gây cho chàng một cảm giác vô cùng ghê tởm.
Cách đó một quãng, cô gái mà Blood chú ý đang đi đi lại lại chuyện trò với viên thống đốc. Thống đốc khập khiễng nhảy nhót bên cạnh nàng và mỉm cười ngô nghê. Chắc cô gái không biết tên đại tá đang làm một việc bẩn thỉu như thế nào? - Hay là, Blood nghĩ, nàng hoàn toàn dửng dưng với cái đó?
Ðúng lúc ấy đại tá Bishop quay phắt lại định bỏ đi.
- 20 bảng, không thêm một xu. Ðó là giá chót. Thế là đã gấp đôi cái giá Crabston trả cho các anh đấy.
Qua giọng hắn, thuyền trưởng Gardner hiểu rằng quả thực đó là giá chót, gã đành thở dài đồng ý. Bishop bước tiếp dọc theo hàng tù. Blood và cậu trai gầy gò đứng cạnh chàng chỉ được tên đại tá nhìn lướt qua. Nhưng người đàn ông trung niên có thân hình hộ pháp tên Wolverstone, người đã mất một mắt trong trận Sedgemoor đứng ngay sau họ đã làm hắn để ý và cuộc mặc cả lại diễn ra.
Blood đứng dưới ánh nắng chói chang, hít đầy lồng ngực bầu không khí thơm lừng lạ lẫm. Nó tràn ngập mùi thơm là lạ của gỗ bạch đàn, mùi hồstyle='height:10px;'>
- Tôi không muốn hỏi gì hết, thưa ngài. Ông ta đã trình bày đúng sự việc.
- Rất mừng là anh đã không quanh co như kiểu bọn các anh hay làm. Xin báo trước rằng dù có quanh có đến mấy anh cũng không thể thoát được. Cuối cùng thì đằng nào chúng tôi cũng tìm ra sự thực. Chuyện đó anh không phải lo.
Ðến lượt mình, Baynes và Pitt cũng xác nhận lời khai của gã đại úy là đúng. Viên chánh án thở phào nhẹ nhõm và tuyên bố:
- Nếu mọi việc đã rõ cả rồi thì, lạy Chúa, không nên mất thời gian nữa, bởi vì chúng ta còn nhiều việc. - Ðến lúc này trong giọng hắn đã không còn mảy may mềm mỏng nào nữa - Tôi cho rằng, thưa ngài Pollexfen, vì bằng chứng về sự phản bội của ba tên đê tiện kia đã được xác định và hơn nữa chính chúng cũng phải thú tội nên tới đây chúng ta chẳng còn gì mà nói nữa.
Nhưng ngay sau đó giọng nói rắn rỏi và gần như giễu cợt của Blood đã vang lên:
- Nếu các ngài chịu nghe thì vẫn còn có chuyện để nói đấy.
Viên chánh án hết sức sửng sốt nhìn Blood, ngạc nhiên vì sự ngang ngạnh của chàng, nhưng lập tức sự ngạc nhiên của hắn đã biến thành tức tối. Trên đôi môi đỏ đến mức khác thường của hắn xuất hiện một nụ cười cay độc và tàn nhẫn làm nhăn nhúm cả bộ mặt.
- Mày còn thiếu cái gì nữa hả, thằng khốn? Mày lại định làm mất thì giờ của chúng tao bằng những chuyện quanh co vô bổ của mày nữa chăng?
- Tôi chỉ muốn rằng ngài và các ngài bồi thẩm phải nghe tôi nói như ngài đã hứa cho tôi tự bào chữa.
- Ðược thôi, chúng tao nghe đây... - Tên chánh án thốt lên rồi đột ngột im bặt. Thân hình hắn co rúm lại. Bàn tay trắng nhợt nổi đầy gân xanh của hắn rút ra một chiếc khăn tay và áp vào mồm. Là một thầy thuốc, Blood biết ngay là Jeffreys đang lên cơn đau do căn bệnh của hắn gây ra. Nhưng viên chánh án đã nén đau nói tiếp: - Nói đi! Thế nhưng mày có gì mà nói nữa, sau khi đã thú thật tất cả rồi?
- Cái đó ngài sẽ tự phân xử, thưa ngài.
- Thì ta được phái đến đây chỉ để làm việc ấy mà thôi.
- Yêu cầu các ngài cũng thế, thưa các ngài. - Blood quay sang nói với các thành viên khác của phiên tòa lúc ấy đang băn khoăn nhấp nhổm dưới cái nhìn đầy tự tin trong đôi mắt xanh nhạt của chàng.
Các bồi thẩm sợ Jeffreys đến chết khiếp, vì hắn tác oai tác quái với họ, như thể họ là các bị cáo đang bị buộc tội phản bội tổ quốc.
Blood hiên ngang bước lên trước. Dáng người chàng vươn thẳng đầy tự tin, nhưng vẻ mặt lại u ám.
- Quả thật đại úy Horbat đã gặp tôi ở trang trại Oglethorpe - Blood bình thản nói - tuy nhiên ông ta không nói tôi đang làm gì ở đấy.
- Thế mày có việc gì phải làm giữa đám phiến loạn tội lỗi rành rành ấy?
- Ðó chính là điều tôi yêu cầu cho phép tôi được nói.
- Nói đi, nhưng ngắn thôi. Nếu phải nghe hết tất cả những gì bọn phản tặc chết tiết chúng bay muốn nói thì chúng tao còn phải ngồi đây đến sang năm.
- Tôi đã tới đó, thưa ngài, để chữa vết thương cho huân tước Gildoy.
- Thế nào? Mi định bảo rằng mi là thầy thuốc chăng?
- Ðúng vậy, tôi đã tốt nghiệp đại học Trimity ở Dublin.
- Lạy Chúa lòng lành! - Jeffreys hét lên, giọng hắn lại nghe có thanh sắc của kim khí - Thử nhìn hộ tôi tên khốn khiếp này xem! - Hắn quay sang các thành viên khác của phiên tòa - Chẳng phải nhân chứng đã khai rằng cách đây mấy năm anh ta đã gặp hắn ở Tangiers lúc hắn còn là sĩ quan quân đội Pháp đấy ư? Và các ngài cũng đã nghe bị cáo thú nhận lời khai của nhân chứng là đúng kia mà.
- Tôi xin xác nhận lại điều đó một lần nữa. Nhưng đồng thời lời tôi nói cũng đúng. Tôi đã đi lính mấy năm, nhưng sau đó tôi lại là thầy thuốc ở Bridgewater. Hàng trăm người có thể làm chứng cho tôi điều đó.
- Lại còn mất thì giờ vào chuyện ấy nữa! Ta sẽ quyết án dựa theo lời khai của chính mi đấy, đồ khốn! Ta hỏi lại một lần nữa: nếu mi dám tự xưng là thầy thuốc làm ăn yên lành ở Bridgewater thì cớ sao lại có mặt trong đám quân của Monmouth?
- Tôi không hề có mặt trong đội quân ấy. Không một nhân chứng nào nói vậy và tôi cam đoan rằng không một ai có thể nói như vậy. Tôi không tán thành mục đích của cuộc nổi dậy và cho rằng cuộc phiêu lưu ấy là một sự điên rồ. Xin phép được hỏi, một người Công giáo La Mã như tôi có gì mà làm trong quân đội Tin Lành?
- Công giáo? - tên quan tòa nhìn anh và cau có hỏi - anh là một thằng Tin lành hay lý sự và tráo trở! Xin nói để anh biết, cách xa bốn chục dặm tôi đã đánh hơi thấy mùi một thằng Tin Lành rồi đấy.
- Nếu vậy thì tôi lấy làm lạ là tại sao với một cái mũi thính như vậy mà ngài không nhận ra nổi một tín đồ Công giáo chỉ cách bốn bước chân.
Trên các ban công tiếng cười rộ lên nhưng lại lập tức tắt ngay trong tiếng quát tháo của gã mõ tòa khi ánh mắt điên cuồng của tên chánh án phóng ra.
Giơ bàn tay trắng trẻo yểu điệu vẫn còn nắm chặt chiếc khăn tay. Jeffreys nói, ngón tay trỏ chĩa ra, nhấn mạnh từng lời một cách đầy đe dọa:
- Về vấn đề tín ngưỡng của anh, anh bạn, chúng ta sẽ không bàn đến. Nhưng một điều anh phải nhớ kỹ: không một tín ngưỡng nào có thể biện hộ cho sự dối trá hết. Anh đã có linh hồn bất tử. Hãy nhớ đến điều đó, cũng nên nhớ rằng Ðức Chúa Trời toàn năng mà cả anh, tất cả chúng ta và mọi người đều phải trình diện trước mặt ngài trong ngày phán xét cuối cùng sẽ trừng phạt anh vì những dối trá nhỏ nhặt nhất và sẽ ném anh xuống vực thẳm ngùn ngụt lửa cháy dầu sôi. Không thể lừa dối Chúa Trời đâu! Không bao giờ được quên điều đó. Còn bây giờ thì anh hãy nói xem cớ làm sao mà anh lại bị bắt cùng với bọn phiến loạn?
Blood kinh ngạc nhìn viên quan tòa.
- Buổi sáng hôm ấy, thưa ngài, người ta gọi tôi đến trị vết thương cho Lord Gildoy. Theo bổn phận nghề nghiệp, tôi coi cứu giúp ông ta là trách nhiệm của mình.
- Là trách nhiệm của mình? - Và tên quan tòa giận dữ nhìn Blood, bộ mặt của hắn méo xệch hẳn đi. Rồi hắn trẫn tĩnh trở lại, thở dài sườn sượt và nói bằng giọng nói đã trở lại mềm mỏng như cũ: - Ôi, lạy Chúa! Không nên thử thách lòng kiên nhẫn của chúng con như vậy mới phải. Thôi được, hãy nói xem ai đã đến gọi anh?
- Ðó là Jeremiah Pitt, người lúc này đang có mặt tại đây. Anh ta có thể làm chứng cho tôi.
- A! Làm chứng cho anh là tên Pitt, kẻ đã phải thú nhận tội lỗi của mình? Và phải chăng đó là người làm chứng của anh?
- Ở đây còn có Andrew Baynes. Ông ta cũng sẽ nói đúng như vậy.
- Ông bạn Baynes đáng quý  còn phải tự trả lời cho những tội lỗi của mình. Tôi nghĩ rằng ông ta sẽ rất bận bịu để cởi sợi dây thừng đang quấn quanh cổ mình nữa. Thế đấy, thế đấy! Tất cả các nhân chứng của anh chỉ có thế thôi phải không?
- Tại sao lại là tất cả, thưa ngài? Có thể gọi rất nhiều các nhân chứng khác ở Bridgewater còn trông thấy tôi ngồi đằng sau Pitt, trên lưng con ngựa của anh ta.
- Ồ, không cần phải làm thế - tên chánh án mỉm cười - tôi không định mất thời gian với anh đâu. Hãy trả lời tôi xem: khi tên Pitt đến tìm, như lời anh nói, thì anh đã biết hắn theo Monmouth như hắn vừa tự thú ở đây chưa?
- Thưa ngài, tôi đã biết.
- Anh có biết! A ha! - Và tên chánh án hung hãn nhìn các bồi thẩm đang co rúm người vì sợ hãi - mặc dù đã biết rõ như vậy, anh vẫn đi theo hắn?
- Ðúng thế. Tôi cho rằng cứu giúp một người bị thương là bổn phận thiêng liêng của mình.
- Mi dám gọi đó là bổn phận thiêng liêng hả, đồ mất dạy! - tên quan tòa gầm lên - Lạy Chúa chí thánh! Bổn phận thiêng liêng của mi, đồ khốn, là phục vụ vua và Chúa Trời kia! Nhưng thôi, không nói chuyện ấy nữa. Tên Pitt có nói cho anh biết ai đang cần đến sự cứu giúp của anh không?
- Có, Lord Gildoy.
- Thế anh có biết Lord Gildoy bị thương trong chiến trận và ông ta ở phe nào không?
- Có, tôi có biết.
- Thế mà dù anh vẫn một mực thề thốt là một thần dân trung thành của đức vua ta, anh vẫn đến gặp Gildoy?
Trong một thoáng Blood không kìm nổi mình.
- Tôi quan tâm đến những vết thương chứ không phải lập trường, chính kiến của ông ta! - Chàng nói gay gắt.
Trên các ban công, thậm chí ngay trong đám bồi thẩm, vọng lên những tiếng xì xào đồng tình, và điều đó càng làm bốc mạnh hơn nữa cơn cuồng nộ của tên chánh án.
- Giễu, lạy Chúa tôi! Ðã bao giờ có trên đời một tên hung đồ nào mặt dày mày dạn như mi chưa? Và Jeffreys hướng bộ mặt tái ngắt như mặt người chết sang phía các thành viên hội đồng xử án - Xin các ngài lưu ý đến thái độ tởm lợm của tên phản bội trơ tráo này, thưa các ngài. Chỉ riêng những điều hắn vừa tự thú đã đủ để treo cổ hắn lên đến chục lần rồi... Bị cáo, hãy trả lời ta, mi đã đánh lừa đại úy Hobart về tước vị của tên phản bội Pitt nhằm mục đích gì?
- Tôi chỉ muốn cứu anh ta khỏi bị treo cổ khi chưa được xét xử.
- Nhưng thằng khốn kiếp ấy thì việc gì đến anh?
- Nghĩa vụ của mỗi thần dân chính trực là phải lo giữ công bằng - Blood điềm nhiên đáp - Sự bất công do bất kỳ một thần dân nào của Ðức vua gây ra đều ít nhiều làm vấy bẩn oai danh của chính Hoàng thượng.
Ðó là một đòn thích đáng giáng vào giữa mặt các quan tòa, theo tôi thì nó đã bộc lộ rõ sức tự chủ và sự sắc sảo về mặt trí tuệ của Blood, càng đặc biệt mạnh mẽ trong những lúc cực kỳ nguy hiểm. Nếu là một hội đồng xử án nào khác thì những lời ấy đã gây được cái ấn tượng mà Blood đợi chờ. Ðàn cừu yếu đuối khốn khổ khoác áo thụng bồi thẩm ấy trở nên do dự. Nhưng Jeffreys đã lập tức can thiệp.
Hắn nặng nhọc thở như kéo bễ rồi điên cuồng lao vào tấn công để xóa mờ những ấn tượng thuận lợi mà lời nói của Blood đã gây ra.
- Lạy chúa trên trời! - Tên quan tòa hộc lên - Ðã bao giờ các ngài trông thấy một thằng nào ngang ngược như thế này chưa? Nhưng tao đã tính sổ xong với mày rồi. Ðúng thế! Mắt ta đã trông thấy sợi thừng quấn quanh cổ mi rồi đấy, tên nghịch tặc kia!
Tuôn ra hết những lời này, mục đích không để các bồi thẩm lắng nghe tiếng nói của lương tâm mình, Jeffreys ngồi phịch xuống ghế và trấn tĩnh lại. Màn hài kịch đã kết thúc. Trên bộ mặt xanh lớt của tên chánh án đã không còn sót lại một dấu vết kích động nào, nó trở nên rầu rĩ âm thầm. Im lặng một lát, hắn lại cất giọng nhỏ nhẹ, gần như dịu dàng, nhưng từng lời hắn nói ra đều vang lên một cách rành rọt trong gian phòng lặng ngắt như tờ.
- Tính tôi không thích làm hại ai hay vui mừng trước cái chết của ai. Chỉ vì cảm thông với anh mà tôi buộc phải nói ra những lời ấy, hy vọng rằng anh sẽ tự lo liệu cho linh hồn bất tử của mình chứ không phải để cho nó bị nguyền rủa bởi sự ngoan cố và gian trá. Nhưng tôi thấy rằng mọi cố gắng của tôi, tất cả lòng trắc ẩn và sự khoan dung của tôi đều vô ích. Tôi không còn gì để nói với anh nữa - Và quay sang các thành viên hội đồng xử án, hắn tiếp - Thưa các ngài! Nhân danh là đại diện của pháp luật mà chúng ta, các quan tòa chứ không phải bị cáo, là người giải thích nó, tôi phải nhắc nhở các ngài rõ rằng bất kì kẻ nào, dù không tham gia vào cuộc bạo loạn chống lại Ðức vua nhưng cố tình tiếp nhận, chứa chấp và ủng hộ một tên phiến loạn thì kẻ đó cũng là một tên phản tặc, giống như kẻ cầm vũ khí trong tay. Luật pháp là thế đấy! Tuân theo ý thức nghĩa vụ của mình và lời thề mà các ngài đã tuyên thệ, các ngài phải tuyên án cho thật công minh.
Ðoạn tên chánh án bắt đầu phát biểu, cố chứng minh rằng Baynes lẫn Blood đều phạm tội phản nghịch, một người vừa chứa chấp tên phản thần, còn người kia thì chữa chạy thuốc thang cho hắn. Lời phát biểu của quan chánh án đầy rẫy những lời tâng bốc bợ đỡ đấng minh quân hợp pháp và vị chúa tể của hắn - Ðức vua được Chúa Trời đặt lên trên tất cả mọi người - và xỉ vả thậm tệ các tín đồ Tin Lành và Monmouth, người mà, theo lời hắn, bất kỳ một kẻ nghèo hèn mạt hạng nào, nếu không là con hoang, cũng có nhiều quyền hy vọng để lên ngai vàng hơn.
Nói xong, hắn mệt nhọc thả phịch người xuống ghế và cứ ngồi bất động như thế một lúc lâu, lặng lẽ lau môi bằng chiếc khăn tay. Sau đó, quặn người vì một cơn đau mới, hắn ra lệnh các quan tòa vào nghị án.
Blood nghe bài phát biểu của Jeffreys với một vẻ dửng dưng mà sau này mỗi khi nhớ lại giờ phút đứng trong phòng xử án là chàng lại thấy ngạc nhiên. Chàng bàng hoàng trước thái độ của quan chánh án và sự thay đổi hết sức nhanh chóng trong tính khí của hắn đến nỗi hầu như quên bẵng mất mối hiểm họa đang đe dọa tính mạng của chính bản thân chàng.
Thời gian các quan tòa ra ngoài nghị án cũng ngắn ngủi như chính bản án bọn họ đưa ra: cả ba đều có tội. Blood nhìn một lượt khắp phòng xử án và trong một thoáng hàng trăm bộ mặt tái nhợt chao đảo trước mắt chàng. Tuy vậy, chàng đã nhanh chóng trấn tĩnh và nghe thấy ai đó hỏi mình: anh có thể nói vì sao anh không đáng phải bị tử hình[2] sau khi đã xác minh rõ anh mắc tội phản quốc hay không?
Chàng bỗng bật cười, tiếng cười vang lên lạ lùng và ghê rợn trong cái im lặng của gian phòng. Công lý được ban phát bởi một kẻ ngông cuồng mặc áo thụng màu huyết dụ chẳng qua chỉ là một trò hề không hơn không kém. Ngay bản thân tên chánh án - một công cụ đảo điên của tên vua tàn nhẫn, độc ác và thù vặt - đã là sự mỉa mai đối với công lý. Nhưng đến cả tên hung cuồng ấy cũng bị tiếng cười của Blood làm chạm nọc.
- Trên ngưỡng cửa vào cõi hư vô, dây thòng lọng đã quấn quanh cổ mà mi còn cười ư? - Tên chánh án kinh ngạc hỏi.
Và cả ở đây Blood cũng đã lợi dụng cơ hội để giáng trả.
- Thực tình mà nói, tôi có nhiều lý do để sung sướng hơn ngài. Trước khi bản án của tôi được chuẩn y, tôi phải nói với các ngài thế này: ngài đã trông thấy tôi với sợi thừng quấn quanh cổ, mặc dù tội lỗi duy nhất của tôi là đã thực hiện bổn phận của mình, bổn phận của một người thầy thuốc. Ngài phát biểu tại đây khi đã biết trước cái gì đang đợi tôi. Nhưng với danh nghĩa thầy thuốc, tôi có thể nói cái gì đang đợi ngài đấy, thưa ngài. Và vì đã biết như vậy, xin nói để ngài rõ rằng không đời nào tôi chịu đổi chỗ cho ngài, không dại gì tôi lại đổi cái thòng lọng mà ngài muốn dùng để treo cổ tôi lấy tảng đá mà ngài đang phải đeo trong mình kia đâu. Cái chết mà ngài vừa tuyên án cho tôi ấy vẫn còn là một lạc thú thực sự so với cái chết do Ðức Chúa Trời mà ngài vẫn viện ra đây đã quyết án.
Mặt mày tái nhợt, môi chốc chốc lại run rẩy, viên chánh án ngồi chết lặng trên ghế. Trong phòng im phăng phắc. Tất cả những ai biết Jeffreys đều nghĩ rằng đó là cái yên lặng trước cơn bão và thấp thỏm đợi nó bùng ra.
Nhưng chẳng có gì bùng nổ hết. Bộ mặt tên quan tòa áo thụng từ từ đỏ lên. Jeffreys dường như vừa ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Hắn khó nhọc đứng dậy và bằng một giọng khàn khàn hết sức rầu rĩ, như thể đầu óc đang để mãi tận đâu, hắn tuyên án tử hình, không hé răng đáp lại Blood một lời. Tuyên án xong, tên quan tòa ngồi thụp xuống ghế.
Cặp mắt hắn đờ đẫn lim dim, trán rịn mồi hôi.
Bọn cảnh binh đưa các bị cáo ra.
Một viên bồi thẩm tình cờ nghe thấy Pollexfen, một đảng viên Whigs ngầm mặc dù đang giữ chức vị công tố quân vụ, nói nhỏ với viên luật sư đồng sự:
- Thề có Chúa, cái thằng bịp bợm nhọ nhem kia đã làm quan chánh một phen sợ chết khiếp. Tiếc là đành phải treo cổ hắn lên. Kẻ có thể dọa nổi Jeffreys thì còn tiến xa.
Chú thích:
[1] Một trong những thủ tục trước tòa án người Anh.
[2] Một thủ tục tố tụng của tòa án nước Anh.