Chương 16

Kate và David cùng đi với nhau khắp nơi trên thế giới, đến Zurich, Paris và New York, lo toan các công việc của công ty, nhưng dù đi đến đâu họ cũng đều bỏ chút thời giờ dành cho riêng họ. Họ nói chuyện với nhau rất khuya vào mỗi đêm, ân ái với nhau và thăm dò các suy nghĩ cùng thân thể của nhau. Kate là một nguồn vui vô tận đối với David. Nàng thường đánh thức anh dậy vào buổi sáng để hai người ân ái cuồng nhiệt với nhau, rồi ít giờ sau đó, nàng ngồi bên cạnh anh ở bàn hội nghị bàn về công việc và tỏ ra sáng suốt hơn bất kì một ai có mặt tại đấy. Nàng nhạy cảm với công việc kinh doanh một cách thật là hiếm có và không ngờ. Vào thời ấy, rất ít phụ nữ ở vào các cấp bậc hàng đầu trong giới kinh doanh. Thoạt tiên, Kate được mọi người đối xử với thái độ nhã nhặn, chịu đựng, nhưng thái độ ấy thay đổi nhanh chóng, trở thành kính cẩn và thận trọng. Kate tỏ ra vui thích trong việc vận dụng các thủ đoạn và mưu lược của trò chơi. David đã từng thấy nàng qua mặt được những người đàn ông có kinh nghiệm hơn nàng rất nhiều. Nàng có bản năng của một kẻ chiến thắng. Nàng biết mình muốn gì và làm thế nào đạt được thứ mà nàng muốn. Đó là quyền lực.
Họ kết thức thời kì trăng mật bằng một tuần lễ huy hoàng ở Ngôi nhà Trên Đồi Thông của nàng ở Dark Harbor.
Lúc ấy là vào tháng sáu năm 1914, người ta bắt đầu bàn tán về chiến tranh. Kate và David là những vị khách mời tại một ngôi nhà ở thôn quê trong vùng Sussex. Đó là vào thời kì người ta sống tại những ngôi nhà ở thôn quê, và các khách mời trong những dịp cuối tuần cũng phải tuân theo một nghi thức bắt buộc. Đàn ông phải mặc quần áo chỉnh tề vào bữa ăn sáng, thay ăn trưa, rồi lại thay đổi vào giờ uống trà – với chiếc áo nhung viền xa tanh – cuối cùng đổi sang chiếc áo vét chỉnh tề đúng theo nghi thức vào buổi ăn tối.
“Lạy Chúa!” David phàn nàn với Kate, “Anh thấy mình giống như một con công”.
“Anh là một con công xinh đẹp, anh yêu quý ạ”. Kate cố trấn an David. “Khi nào về nhà rồi, anh cởi truồng đi lông nhông cũng được”.
Anh ôm nàng trong vòng tay. “Anh không còn đủ kiên nhẫn nữa”.
Đến buổi ăn tối, có tin cho biết rằng Frances Ferdinand, kẻ kế vị ngai vàng Áo-Hung, và bà vợ ông ta, Sophie, đã bị giết bởi một tên ám sát.
Ông chủ nhà, Lord Maney, nói, “Thật là một hành động xấu xa. Bắn cả một người đàn bà! Phải thế không, quý vị?” Thế nhưng sẽ không ai phải đi ra trận vì một đất nước nhỏ bé ở tận vùng Balkan.
Rồi cuộc nói chuyện chuyện sang trò chơi cricket.
Sau đó, vào lúc đi ngủ, Kate hỏi David, “Anh có nghĩ rằng sẽ có chiến tranh không?”
“Vì chuyện một vị hoàng tử bé nhỏ bị giết hay sao? Ồ, không đâu”.
Nhưng điều phỏng đoán này sau đó đã được chứng tỏ là sai lầm. Nước Áo-Hung, nghi ngờ rằng những láng giềng Serbia đã chủ mưu ám sát Ferdinand, tuyên chiến với Serbia, và vào tháng mười năm ấy, đa số các nước trên thế giới đều lâm vào cuộc chiến. Đó là một cuộc chiến tranh theo kiểu mới. Lần đầu tiên, các loại xe cơ giới hoá được sử dụng – máy bay, khí cầu và tàu ngầm.
Ngày nước Đức tuyên chiến, Kate nói, “Đây có thể là một cơ hội tuyệt vời cho chúng ta, David ạ”.
David nhăn mặt, “Em nói gì lạ vậy?”
“Các nước cần súng ống, đạn dược và…”
“Chúng ta sẽ không bao giờ cung cấp cho họ những thứ ấy”, David ngắt lời với vẻ cương quyết. “Chúng ta có khá nhiều công việc rồi, không cần phải kiếm lợi nhuận bằng máu của bất cứ ai”.
“Sao anh lại bi đát hoá vấn đề như thế. Phải có người nào làm ra súng ống chứ”.
“Chừng nào anh còn làm việc cho công ty này, chúng ta sẽ không làm chuyện ấy. Thôi, không bàn cãi chuyện này nữa, Kate ạ. Vấn đề ấy chấm dứt rồi”.
Kate thầm nghĩ. Thật là đồ chết tiệt! Lần đầu tiên trong hôn nhân của hai người, Kate và David ngủ riêng giường. Nàng nghĩ, tại sao David lại có thể là một anh chàng lý tưởng một cách ngờ nghệch đến thế nhỉ?
Còn David nằm ngẫm nghĩ, làm sao nàng có thể lạnh lùng, tàn nhẫn đến thế? Công việc kinh doanh đã làm cho nàng thay đổi rồi. Những ngày kế tiếp đó thật là khổ sở đối với cả hai người. David hối tiếc vực thẳm tình cảm giữa hai người, nhưng không biết cách nào khoả lấp cho được. Kate quá kiêu hãnh và cứng đầu nên không chịu nhường, vì nàng cho rằng nàng phải.
Tổng thống Woodrew Wilson đã hứa rằng nước Mỹ sẽ đứng ngoài cuộc chiến, nhưng vì các tàu ngầm Đức bắt đầu thả thuỷ lôi tấn công các tàu chuyên chở khách không võ trang, và những câu chuyện về hành vi tàn nhẫn của người Đức lan rộng, áp lực bắt đầu đè nặng lên nước Mỹ, thúc giục họ phải giúp đỡ các đồng minh. Khẩu hiệu lúc ấy là, “Hãy làm cho thế giới được an toàn để phát huy nền tảng dân chủ”.
David đã học lái máy bay trong vùng sa mạc Namib ở Nam Phi, nên khi phi đoàn Lafeayette được thành lập ở Pháp với các phi công Mỹ, anh đến gặp Kate và nói, “Anh phải đi tòng quân”.
Nàng kinh hãi, “Không! Đó không phải là cuộc chiến của anh mà”.
“Nó sẽ là như vậy”. David điềm tĩnh nói. “Nước Mỹ không thể đứng ngoài cuộc chiến được. Anh là người Mỹ, anh muốn giúp họ vào lúc này”.
“Anh bốn mươi sáu tuổi rồi”.
“Anh vẫn còn có thể lái máy bay được, Kate ạ. Họ đang cần sự giúp đỡ bằng đủ mọi cách”.
Kate không còn cách nào làm anh thay đổi ý định. Họ trải qua những ngày cuối cùng bên nhau trong sự yên tĩnh, quên đi mọi điều khác biệt. Họ yêu nhau, và chỉ có điều ấy là quan trọng.
Vào đêm trước khi David lên đường sang Pháp, anh nói, “Em và Brad có thể điều khiển mọi công việc giống như anh, hay còn có thể giỏi hơn nữa”.
“Nếu có chuyện gì xảy ra cho anh thì sao? Em sẽ không thể nào chịu đựng nổi đâu”.
Anh ôm nàng sát vào lòng. “Không có gì xảy ra cho anh đâu. Kate ạ. Anh sẽ trở về với em với tất cả mọi loại huy chương”.
Anh lên đường vào sáng ngày hôm sau.
Sự vắng mặt của David là cái chết đối với Kate. Nàng đã mất bao thời gian mới chiếm được chàng, và bây giờ nỗi lo sợ ghê rợn sẽ mất chàng cứ len lỏi trong tâm trí nàng trong từng giây phút của cuộc đời. Anh lúc nào cũng như ở bên nàng. Nàng tưởng như nghe tiếng anh qua giọng nói của một người lạ mặt, tiếng cười đột ngột nổi lên trên đường phố, một câu nói, một hương thơm, một điệu hát. Anh ở khắp mọi nơi. Mỗi ngày nàng viết cho anh một lá thư rất dài. Mỗi khi nhận được thư anh, nàng đọc đi đọc lại cho đến khi nó rách bươm ra. Anh vẫn mạnh khoẻ, anh viết thư cho nàng. Quân Đức có ưu thế trên không, nhưng điều ấy sẽ thay đổi. Có nhiều tin đồn cho biết rằng nước Mỹ sẽ giúp. Anh sẽ viết thư cho nàng, khi nào có thể. Anh yêu nàng.
“Đừng để chuyện gì xảy ra cho anh, anh yêu quý ạ, Nếu có chuyện gì, em sẽ ghét anh vô cùng.”
Nàng cố quên nỗi khổ sở cô đơn bằng cách vùi đầu vào công việc. Lúc chiến tranh bắt đầu, Pháp và Đức có những lực lượng chiến đấu được trang bị đầy đủ nhất Âu châu, nhưng quân đồng minh có nhân lực, tài nguyên và vật liệu lớn lao hơn. Nước Nga, với quân đội đông nhất, không được trang bị đầy đủ và cấp chỉ huy kém.
“Họ đều cần sự giúp đỡ”, Kate nói với Brad Rogers. “Họ cần xe tăng, súng ống và đạn dược”.
Brad Rogers cảm thấy khó chịu. “Kate ạ, David không cho rằng…”
“David không có mặt ở đây, Brad ạ. Tất cả đều do anh và tôi quyết định”.
Nhưng Brad đã hiểu ý của Kate. Tất cả đều do nàng quyết định.
Kate không thể nào hiểu được thái độ của David về việc chế tạo vũ khí. Quân đồng minh cần có vũ khí, và Kate nghĩ rằng nhiệm vụ yêu nước của nàng là cung cấp vũ khí cho họ. Nàng thảo luận vấn đề này với lãnh tụ của năm, sáu nước bạn, và trong vòng một năm, Công ty Hữu hạn Kruger-Brent chế tạo súng, xe tăng, bom và đạn dược. Công ty cũng cung cấp xe hoả, xe tăng, quân phục và súng. Kruger-Brent nhanh chóng trở thành một trong những tổ chức phát triển nhanh chóng trên thế giới. Khi Kate trông thấy những con số lợi tức gần đây nhất, nàng nói với Brad Rogers, “Anh có thấy các con số này không? David sẽ phải thú nhận rằng anh ấy đã nhầm”.
Trong thời gian ấy, Nam Phi đang ở trong tình trạng xáo trộn. Các lãnh tụ các đảng phái cam kết ủng hộ đồng minh, và nhận trách nhiệm bảo vệ Nam Phi chống lại quân Đức, nhưng đa số người Afrikaner chống lại sự ủng hộ của đất nước họ đối với nước Anh. Họ không thể quên đi quá khứ một cách nhanh chóng.
Ở Âu châu, chiến tranh diễn ra không mấy tốt đẹp cho quân Đồng minh. Cuộc chiến đấu ở mặt trận phía Tây đi đến chỗ ngưng trệ. Cả hai phe đều đào hầm cố thủ, được bảo vệ trong các chiến hào trải dài ngang qua Pháp và Bỉ. Binh lính rất khổ sở. Nước mưa và bùn tràn ngập các hầm trú ẩn, chuột bò lúc nhúc trong các chiến hào. Kate mừng rằng David lúc ấy chỉ phải chiến đấu trên không.
Ngày 6 tháng tư, 1917, Tổng thống Wilson tuyên chiến. Như vậy là lời tiên đoán của David đã thành sự thực. Nước Mỹ bắt đầu động viên quân sĩ.
Lực lượng viễn chinh đầu tiên của Mỹ, dưới quyền chỉ huy của tướng John J. Pershing, bắt đầu đổ bộ vào Pháp vào ngày 26 tháng sáu, 1917. Tên của nhiều địa điểm mới trở thành quen thuộc trong ngôn ngữ của mọi người: Saint Mihiel… Château Thierry… Meuse Argonne… Belleau Wood… Werdun… Quân Đồng minh trở thành một lực lượng không ai chống cự nổi, và đến ngày 11 tháng mười một, 1918, cuộc chiến tranh kết thúc. Thế giới trở nên an toàn để xây dựng nền dân chủ.
David đang trên đường trở về nhà.
Khi David rời chiếc tàu chở quân lên bờ ở New York, Kate đã chờ đón anh ở đó. Hai người nhìn nhau tưởng chừng như vô tận, không còn biết gì đến những tiếng ồn ào của mọi người xung quanh. Kate nhảy xổ vào vòng tay David. Trông anh gầy đi và mệt mỏi. Lạy Chúa! Mình nhớ anh ấy quá. Nàng có sẵn hàng nghìn câu hỏi để hỏi anh, nhưng họ có thể chờ đợi. Kate nói, “Em sẽ đưa anh đến Ngôi nhà Trên Đồi Thông. Đó là một nơi tuyệt hảo để anh nghỉ ngơi”.

°

° °

Kate đã chuẩn bị rất nhiều thứ trong ngôi nhà này để chở đón ngày trở về của David. Căn phòng khách rộng lớn, thoáng khí đã được bày biện sang trọng với hai chiếc ghế sô pha giống hệt nhau, bọc vải hoa màu hồng và xanh lục. Những chiếc ghế bành nhồi long tơ rất hợp với nhay được xếp xung quanh lò sưởi. Trên lò sưởi là những bức tranh vẽ hoa của Vlaminck, và ở mỗi bên có những cây đèn mạ vàng. Hai bộ cửa kiểu Pháp mở ra hàng hiên chạy dài theo toà nhà ở ba phía, được che bằng một tấm vải bạt có kẻ sọc. Các căn phòng đều sáng sủa, thoáng khí, và nhìn ra quang cảnh hải cảng thật là ngoạn mục.

Kate dẫn David đi suốt ngôi nhà, vừa đi vừa nói chuyện thật là vui vẻ. Anh trông có vẻ trầm ngâm một cách lạ lùng. Sau khi đã xem xong khắp nơi, Kate hỏi, “Anh có thích những gì em đã sắp đặt trong ngôi nhà này không, anh yêu quý?”
“Đẹp lắm, Kate ạ. Bây giờ, em hãy ngồi xuống, anh muốn nói chuyện với em”.
Nàng đột nhiên cảm thấy nôn nao. “Có chuyện gì vậy?”
“Có vẻ như chúng ta trở thành kẻ cung cấp súng ống, đạn dược cho một nửa thế giới”.
“Chờ đến khi nào anh xem xét sổ sách đã”. Kate nói. “Lợi nhuận của chúng ta đã…”
“Anh đang nói về một chuyện khác kia. Nếu anh nhớ không lầm, lợi nhuận chúng ta cũng rất khá lúc anh ra đi. Anh tưởng rằng anh với em đã đồng ý với nhau rằng chúng ta không dính dáng gì đến việc chế tạo các đồ trang bị quân sự”.
Kate cảm thấy cơn giận của nàng dâng lên. “Anh đồng ý, chứ em có đồng ý đâu”. Nàng cố dằn lại cơn giận của mình. “Thời buổi thay đổi rồi, David ạ. Chúng ta phải thay đổi cùng nó”.
Anh nhìn nàng, rồi lặng lẽ hỏi, “Thế em đã thay đổi hay sao?”

°

° °

Nằm trên giường đêm hôm ấy, Kate tự hỏi không biết chính nàng đã thay đổi, hay là David. Nàng đã trở nên mạnh mẽ hơn hay là David đã yếu đi nhỉ? Nàng nghĩ đến luận cứ của chàng chống lại việc sản xuất vũ khí. Đó là một luận cứ yếu ớt. Dẫu sao, phải có người nào đó cung cấp hàng hoá cho quân đội, và lợi nhuận trong việc làm này rất là lớn. Đã có chuyện gì xảy ra ảnh hưởng đến ý thức kinh doanh của David? Lâu nay nàng vẫn coi chàng là một con người thông minh, tài giỏi nhất nàng từng thấy. Nhưng bây giờ, nàng cảm thấy mình có khả năng điều khiển công việc kinh doanh giỏi hơn David. Nàng trải qua suốt một đêm không ngủ.

Đến buổi sáng, Kate và David cùng ngồi ăn điểm tâm, rồi đi dạo quanh vườn.
“Thật là đẹp”. David nói, “Anh rất sung sướng được ở đây”.
Kate nói, “Về câu chuyện giữa chúng ta tối hôm qua…”
“Chuyện ấy giải quyết rồi. Lúc ấy anh đi vắng, và em đã làm những gì mà em cho là phải”.
Không biết mình có làm như vậy không, nếu lúc ấy David có mặt ở đây? Kate tự hỏi. Nhưng nàng không nói ý nghĩ ấy lên. Nàng đã làm những công việc ấy vì lợi ích của công ty. Phải chăng công ty còn quan trọng hơn cuộc hôn nhân của mình? Nàng sợ không dám đưa ra câu trả lời.