Tiếng đàn kìm

"Về đâu? Về đâu? Khi gió mùa thơm ngát. Ôi lũ chim giang hồ, đôi cánh đang còn chập chùng..."
Câu hát xưa từng nghe anh em trong đơn vị hát sao giống với tình cảm của anh ngày nay.
Anh tên là Trang Bá, trước Hiệp định Genevơ là Trung đội trưởng tiểu đoàn 307. Sau khi Quân đội đi tập kết, anh được phân công ở lại vùng bị chiếm, giấu vũ khí ở một nơi, lặn vào trong dân, chờ thời cơ sẽ có lệnh mới.
Thời cơ chưa biết bao giờ, nhưng trước mắt phải lẩn tránh đừng để giặc bắt.
Về quê cũ chăng? Sẽ lộ mặt ngay, sẽ làm khổ gia đình. Về cái vùng bộ đội đóng quân trước đây chăng? Bây giờ chính quyền mới đến kiểm soát rồi, sẽ làm khổ lây đồng bào.
Anh đành chuyển vùng đến thật xa nơi không ai biết tung tích mình. Cải dạng đổi hình cho râu mọc, cho tóc dài, cho da dẻ chai sạm, phong trần.
Ban ngày anh lang thang giữa đồng lúa, đêm vào các thôn xóm hỏi thăm, xin cơm rồi biến mình trong tối tăm. Từ Cà Mau lên Kế Sách, ôm chuối cây bơi sang cù lao Chanh, nấn ná lưu lại mấy ngày dưỡng sức rồi bơi qua sông Cửu Long sang đất Vĩnh Trà - về đây bàn chân như biết dắt người đi.
Thuở còn đóng quân trên con kinh Thầy Phó này, Trang Ba và ông thợ nhộm đã từng là tâm giao qua cây đờn kìm, vọng cổ sáu câu giây Rạch Giá.
Ông thợ nhuộm là mẫu người hiếm có và nổi tiếng cả huyện Tam Bình. Ông có tất thảy 9 bà vợ sống chung mà trong ấm ngoài êm, tự nguyện tự làm kiếm tiền về nộp cho chồng, lo miếng ăn miếng uống, may vá cho ông, vui vẻ, nhỏ nhẹ với nhau và với ông. Đêm đêm, cơm nước xong, ông nhấn nhá tiếng đàn cho từng bà thay nhau hát. Hát cho ông nghe, hát cho nhau nghe. Công việc, theo như ông nói tiếng Tây pha "à tour de rôle" có nghĩa là luân phiên nhau. Mỗi bà thay nhau một ngày ở ghe lớn với ông, vừa nhuộm tại chỗ, vừa lo cơm nước cho tám bà kia. Tới giờ chèo xuồng về ăn, cơm gà cá gỏi, canh chua cá kho tộ hẳn hoi, làm cực khổ là cần phải được ăn ngon để giữ gìn nhan sắc cho chồng. Bà nào cũng tới phiên tối ngủ với ông, bình đẳng ai cũng có phần. Ông bảo cái nghề thợ nhuộm ở nông thôn mà cắm xuống tại chỗ là không có ăn, phải đi lưu động. Theo đồng vốn, đồng lời phát triển tới đâu, ông sắm thêm xuồng tới đó. Một chiếc xuồng hai cây chèo, một bếp lò, một nồi nhuộm, vài ký thuốc, một đôi đũa bếp, nước thì sẵn dưới sông, cứ thế chèo đi theo kênh rạch đâu cũng đến: Trà Ngoa, Hựu Thạnh, Hòa Bình, Tân An, ở đâu cũng thò tay tới lượm tiền được cả, dần dà ông có đến tám xuồng nhuộm. Người ta chê ông "đa thê": "Sông dài cá lội thong dong - Cửu Long mấy nhánh thời ông mấy bà!".
Ông bĩu môi xem thường. Các người có biết gì cứ ru rú ở nhà một vợ một chồng ôm nhau, một bước không dám rời cái lũy tre, cả đời nghèo rớt mồng tơi, áo rách bườn áo vá. Tôi muốn sống đàng hoàng tôi mở rộng làm ăn, sắm thêm một xuồng nhuộm, đi mướn người, giao cho họ đi nhuộm lưu động có mà cho không vốn liếng để họ bỏ túi hết. Tôi cưới các bà ấy, ân ái ràng buộc đời sống, của chồng công vợ, các bà ấy đi làm về nộp không thiếu một xu. Phải chi có chín chiếc xuồng, tôi lấy mười bà là tôi tham sắc, đàng này chín chiếc xuồng là chín bà, vừa hên theo yêu cầu phát triển...
Ngày ngày ông sống bận rộn êm ấm trong chín vòng tay phi tần giữa các con nước lớn ròng. Lúc các bà yên giấc, tám cái xuống con chụm mũi vào chiếc ghe, mới là giờ phút của riêng ông với cây đàn.
Trang Bá lần theo đòn dài lặng lẽ đến bên ông:
- Cứ tiếp tục nghe, đừng để lỗi nhịp.
Chưa nhận ra ai, nhưng biết là dân sành điệu, ông đàn tiếp gật gù theo nhịp đêm hết bản Văn Thiên Tường.
Ông trao đàn cho người mới đến mời mọc, đến lúc cái bóng ôm đàn treo lên mui xếp bằng ngồi đối diện, ông mới nhận ra Trang Bá, ông nói thốt lên nhưng Trang Bá đặt hai ngón tay lên môi mình ra hiệu "bí mật".
- Tôi vừa dưới Bạc Liêu mò về đây. Tất cả vẫn còn trong bóng tối. Nghe tiếng đàn của anh cầm lòng không đậu nên lẻn vào đây. Có rượu cho một chung lấy hướng đi. Đàn cái đã, gõ gõ hạ hồi phân giải.

*

Mẹ của Trang Bá tu tại gia, sớm chiều kinh kệ gõ chuông.
Cha của Trang Bá là một công tử phong lưu sống ở miệt vườn nhưng thích nghiệp cầm ca: Trên vách nhà luôn có treo một cây đàn kìm và một cây đàn cò, ngày ngày trỗi lên mấy nhịp. Có đi đâu ông đều mang đàn theo, phong lưu với bầu bạn, về nhà thì chồng đàn vợ ca, đàn xong lại treo lên, bài vị tổ tiên ở giữa, đàn treo hai bên vương hầu.
Sau khi sanh đứa út là Trang Bá, ông lên núi Cấm xin quẻ xăm - xăm dạy nếu sinh con nữa gia tộc sẽ không tránh được tai họa. Từ đó hai ông bà ở chung nhưng sống ly thân. Bà vâng lời ông nhưng để vẹn lời nguyền, giữ mình trong sạch, bà mượn kinh kệ mõ chuông tu tại gia cho trọn đạo với nhà chồng.
Cậu bé Trang Bá nghe chuông từ hồi bú sữa đến tuổi thanh niên.
Chẳng may cha mất sớm. Trang Bá mê tiếng đàn của cha nhưng hồn nhạc là câu kinh tiếng mõ của mẹ.
Những đêm mưa vườn rả rích, không gian u huyền, mẹ ngâm nga kinh Phật theo nhịp mõ, trẻ thơ nghe như tiếng hát ru, chìm dần vào giấc mộng. "Nam mô a di đà. Nam mô đại thế chúng bồ tát ma ha tát". Lời kinh trẻ thơ làm sao hiểu nghĩa, nhưng âm thanh ngân nga theo nhịp mõ, được đôi tai thơ trẻ uống đến no say. Đêm nào cũng vậy, mẹ khai kinh, Trang Bá thả hồn theo giấc ngủ, khi hết canh, sắp chấm hết kinh Phật, tiếng mõ chuyển chậm dần cóc...cóc...cóc... nhịp thưa theo điệu Nam Ai. Trang Bá thức giấc lắng nghe.
Khi nâng chiếu chỉ ra đề cờ
Từ chàng đi... thiếp bặt tin đợi chờ...
Lớn lên, trở thành một ông thầy đờn có tiếng tăm, Trang Bá suy ngẫm hiểu rằng: Kinh dài mẹ tụng dâng cho Phật, hết kinh mẹ hát nói để tưởng nhớ đến cha. Bài Nam Ai là bài hát nhập môn khi bà còn trẻ. Chân ướt chân ráo bước về nhà chồng, chàng ôm đàn tỉ tê dạy cho nàng ca hát.
Mẹ thường đọc kinh đến hồi chuyển nhịp, mượn tiếng mõ thay cho nhịp phách chuyển sang điệu Nam Ai. Giọng của mẹ bi thiết chừng như hồn cha đang quyện đâu đây, bỗng có tiếng đàn kìm phụ họa, mẹ vẫn ngồi nguyên tư thế Phật, bà đều đều gõ mõ, nhưng dòng châu lã chã rơi đến khi dứt nhịp. Mẹ đứng lên chắp tay xá bốn phương xong, đưa tay lên vuốt tóc, bà òa lên khóc. Rồi ra sau gầm bàn thờ cha kéo đứa con trai vào lòng. Cây đàn kìm của cha cao hơn thằng bé.
Từ ấy bà cho rằng con mình có thiện tâm phật ngã, bà để tâm dạy con học kinh. Nhưng kinh kệ thì câu nọ xọ câu kia, không bao giờ thằng bé đọc được ra đầu ra đũa. Còn những bản tài tử như: Đắc Kỷ Thọ Hình, Chiêu Quân Cống hồ, Khóc Bằng Phi... bà chỉ hát đôi lần là Trang Bá thuộc đến nhập tâm. Bà mua về một dàn máy hát quay dây cót cho vui cửa vui nhà. Đôi tay non trẻ như có một bộ chắt lọc tiếng đàn trong đĩa hát để ôm đàn họa theo. Dần dần các điệu ai, điệu Bắc, dạ cổ hoài lang mười sáu nhịp rung lên trên mười ngón tay con trẻ. Nhạc và nhịp. Nhịp lỡ thì nhạc suy, sau này khi trở thành ông thầy đờn, Trang Bá thường được cử làm người cầm chịch trong các cuộc hòa âm, bắt những tay đàn lỗi nhịp. Mười cái chén chung trên mười đầu ngón tay, hai bàn tay xuôi rồi ngược chạm mười cái trộn chén vào nhau, lắc cắc đều đều, như tiếng mõ câu kinh của mẹ, tay đàn nào lỗi nhịp khó bề chối cãi.
Lúc còn nhỏ, Trang Bá được mẹ yêu mến, đặt nhiều hy vọng vào đứa con thông minh bao nhiêu, lớn lên tuổi con càng trưởng thành, mẹ càng thất vọng bấy nhiêu. Những tưởng Trang Bá sẽ như hai anh, một người thì liên tiếp lập vườn để phòng mai hậu, một người thì sắm ghe chài xuôi ngược lục tỉnh Sài Gòn buôn bán tiền vô như nước. Còn đứa con út, tối ngày tóc chải dợn sóng láng mượt, ôm đàn đi hết xóm dưới làng trên.
Bà càng mắng nhiếc răn đe, giao lưu của trẻ càng rộng. Trước còn trong làng trong xã, sau xa dần đến tổng đến huyện, đêm không về, rồi hai đêm, ba đêm đến tít mù khơi, lục tỉnh Nam Kỳ, Nam Vang, Phú Quốc, bước chân lưu lạc theo nghiệp cầm ca. Mẹ trách mắng: "Không lẽ cơm cha áo mẹ suốt đời, đờn ca không ra cơm ra gạo, giờ mẹ còn sống, một mai mẹ chết, lấy gì để được ấm thân".
Thương mẹ nhưng trót đã nặng tình với tiếng nhạc đường tơ làm sao dứt bỏ được. Trang Bá âm thầm bỏ đi phiêu bạt sống kiếp giang hồ.
Chữ giang hồ mấy ai biết, sống đúng cái đạo giang hồ, kẻ tầm thường làm sao với tới được.
Ông thợ nhuộm ở Tam Bình Vĩnh Long đâu chỉ mê Trang Bá vì được chỉ cho vài ngón đờn. Ông còn mê khi xem bộ đội đá banh. Trang Bá đứng đờ-mi cản phá những pha tấn công hiểm hóc, đội đầu một cái, hoặc đá bổng một phát, bóng tung lên cao hơn ngọn dừa. Trang Bá quen tay vuốt mái tóc dợn sóng, phong thái rất ư là nghệ sĩ.
- Chuyện này quốc tế không có! - Ông thợ nhuộm nói - Ai đời đi ra trận đánh giặc, đánh cuộc với nhau không phải giết bao nhiêu giặc, bắt bao nhiêu tù binh, thu bao nhiêu súng. Cái đó xoàng, ai cũng làm được. Đằng này các ông cán bộ trung đội mà Trang Bá là đầu têu ngầm thách với nhau: đánh trận trở về gấu quần không được lấm bùn.
Đang trong đội hình hành quân, thường là trong đội hình xuồng ba lá hàng trăm chiếc xuôi ngược trên các dòng kinh, nếu trong gian nhà nào đó trên bờ vọng ra tiếng đàn kìm, Trang Bá cầm lòng không đậu. Giao cho Trung đội phó cầm quân hộ, rồi rẽ xuồng vào sông trở lại vài giờ nghệ sĩ. Cấp trên thông cảm nhắc nhở nhẹ thôi, nhưng việc xét đề bạt anh lên cấp đại đội vì đó có hơi chậm trễ.
ấy chưa kể hồi đó, có chỉ thị cấm vọng cổ, cho rằng vọng cổ là lời than thở của người dân mất nước, khóc than ủy mị, làm mềm lòng dũng sĩ chiến đấu. Thèm đàn, nhớ vọng cổ quá, lính ta rủ nhau đi hát lén. Mượn một cầy đàn ghi-ta trong xóm, giấu trong khoang xuồng lấy lá chuối phủ lên, lính ta giả bộ đi bắt cá, chống xuồng ra giữa giòng nước nổi, chuyền tay nhau đánh sáu câu i ới hát cho đỡ ghiền. Gió mát trăng thanh, ánh đèn dầu leo lét giữa trời nước mênh mông, ăn vụng mà đã thật: "Tăng Tăng Tăng Tăng Bằng Phi ơi! Hồn nàng đang ở tận nơi đâu, ta chua xót nỗi niềm ly hận... Đêm từng đêm thẫn thờ bên gối chiếc. Lệ rưng rưng tưởng nhớ bạn tấm đồng ơ...".
Ngờ đâu gần đây thôi, trước đó đã có một người ghìm xuồng vào trong đám lau sậy làm cái chuyện "giải phẫu cái bụng" thường ngày. Ông khẽ khàng áp sát đến gần, không hiểu sao ông không ra tay tức khắc mà đợi nghe hết sáu câu: "Đập cổ kinh ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để giành hơi...!...!...".
Nghe xong ông mới xuất kỳ bất ý, vẹt lau sậy quơ sào chống xuồng áp sát.
- Thưa chính trị viên, anh em ghiền quá, cải hoạt tí ti thôi.
- Mời tất cả ngày mai lên văn phòng đại đội.
Sau buổi ấy, qua một bài bích báo có tranh minh họa, trong đại đội truyền miệng nhau hát (theo điệu văng vẳng tiếng chuông chùa):
"Máu chảy ruột mềm... Tôi mới chạy có nửa vòng sân mà mồ hôi ra lai láng... Ơ...Ơ...".
Bà mẹ chiến sĩ nhà ở gần đó đi rọc lá chuối tình cờ trông thấy sự lạ. Đến chiều, lính đến nhà, mẹ mới hỏi:
- Các con mần gì mà cả trăm đứa đứng vòng quanh coi ba thằng vừa chạy vừa đờn ca hát xướng?
Đâu có tiện nói thật với má.
- Có gì đâu má! Chúng con thực tập động tác trinh sát đặc công.
- Thôi các con đừng giấu má - Bà kéo khăn chấm nước mắt - Má biết hết trơn rồi, các con định thôi không đánh giặc, để lập ra gánh hát đó mà...

*

- Bây giờ tính sao đây ông Bá? - Ông thợ nhuộm hỏi.
- Khó gì đâu! Tổ quốc cần thì đi đánh giặc. Bây giờ trên bảo tạm nằm im, thì mình trở về với cây đàn, nhưng trước nhất ngẫm lại tôi nghĩ thương bà già tôi! Mười mấy năm rồi tôi lưu linh lưu địa bặt vô âm tín, tôi bất hiếu với má tôi lắm! Có lẽ má tôi đã già yếu lắm rồi, không còn sống được mấy nữa đâu! Tôi phải về để tạ tội với má tôi, nếu không suốt đời sẽ ân hận.
- Nhà anh ở đâu?
- Miệt Gò Công.
- Chà, chà, nghe nói ở vùng đó kiềm kẹp dữ lắm, anh đi khơi khơi kiểu này không yên đâu. Tôi không cho anh đi ngay đâu, phải lưu lại đây tính kỹ đã. Chiếc ghe nhuộm của tôi như cái ốc đảo, cắm sào gần đồn, nhưng quân lính họ nhẵn mặt tôi, không ghi ngờ gì đâu. Mấy con vợ tôi coi vậy mà được lắm, cậy miệng nó cũng không hé. Hường đâu? Con Hường còn thức dưới đó không bây?
- Dạ!
- Lên đây, lên đây con! Anh so dây lại đi, con tôi nó hát cho anh nghe...
Bao Ư... trải bao thả lặn áo tà
Cành mai đổ lá đưa nàng...Ư...Ư...Ư...
Cô bé mười hai tuổi có chất giọng đồng quê sông nước kim pha thổ nhả chữ như thả như trôi, hát không sai một nhịp.
Lời ca dứt, nhưng người cầm đàn chưa muốn dứt nên đàn tiếp Lưu thủy, Hành vân...
- Con nhỏ này tôi sinh nó ra không phải để làm thợ nhuộm. Số nó từ tiền kiếp vốn mắc nợ với nghiệp cầm ca. Có sống với tôi giỏi lắm rồi sẽ lấy chồng đẻ con, rồi già, rồi ngoẻo. Tiếng đàn của tôi như tiếng bửa củi, có chăng chỉ để giải sầu, làm sao đủ sức làm cho cuộc đời con cái lên hương được. Tôi nói thật nhé, tôi giao nó cho anh đó, coi như con tôi tầm được sư học được đạo.
Trang Bá sửng sốt:
- Hoàn cảnh trốn chui trốn lủi, tôi lo cho thân tôi chưa xong...
- Vì vậy cần phải có thêm nó nữa mới xong. Anh hãy nghe tôi, đờn ca hay đánh giặc tôi không bằng anh, nhưng chen vai thích cánh với đời, tôi có một số bản lĩnh ; vùng tự do tôi rành, vùng bên kia tôi cũng biết, anh cứ để tôi lo. Anh hãy lưu lại đây chừng một tháng, đêm lên đây chơi với tôi, ngày rút vô mui ghe nằm, muốn trà có trà, muốn cà phê có cà phê, chờ cho râu ria dài ra, tóc tai dài úp sụp xuống, rồi sẽ ra công khai. Anh dạy cho con Hường khá tay nghề lên. Hai chú cháu sẽ đi làm ăn với nhau, mượn đường hát rong để tìm về báo hiếu với bà già... Má anh như má tôi, mình coi nhau như ruột thịt...
Một tháng sau, Trang Bá đã trở thành một ông già cùng khổ, râu dài ra, tóc rậm xuống, bộ bà ba dốt dốt túi nhét đầy thuốc rê, người quen cũng khó nhận ra. Ôm cây đàn kìm đi sau, con Hường mang một túi bàng đựng vài món lặt vặt, cầm sái song lan và cái máy phát âm đi trước. Cô Chín là bà vợ thứ chín của ông thợ nhuộm, chèo chiếc xuồng nhuộm đưa hai người ra sông cái, thả về cặp thị xã Vĩnh Long. Con Hường rành phố xá ở đây, dắt ông ra bến xe, hạ cái giỏ bàng xuống, ngồi gần ghi-sê bán vé. Bác đàn cháu ca, nó mới nói lối vài câu, thiên hạ đã xúm đông xúm đỏ. Nó xuống xề để vô vọng cổ, thiên hạ đã xuýt xoa, ca hết sáu câu, lính ngụy cũng cho tiền.
Từ đó, ngày đi đêm nghỉ, gặp chợ hát ở chợ, gặp bến ca ở bến. Qua Bắc Mỹ Thuận, thị trấn An Hữu, cầu Ông Tồn, Cai Lậy, Trung Lương rồi thị xã Mỹ Tho, qua Chợ Cũ, Chợ Gạo, Gò Công quê nhà không còn xa lắm...

*

Tiếng mõ cầu kinh của mẹ già từ trong ngôi nhà xưa vọng ra. Hai bác cháu Trang Bá ngồi trong bóng tối bên gốc xoài không dám vào.
Chừng mẹ chuyển nhịp, Trang Bá bắt đầu ấn phím đàn họa cho điệu Nam Ai... Mẹ chậm rãi đứng dậy xá bốn phương rồi cất tiếng: "-Vợ thằng Hai đâu? Thằng Bá nó về đó, con ra kêu nó vô, ở chi ngoài vườn sương gió đau ốm thì khổ".
Bà chị đi ra vườn, hai chị em nhận ra nhau mừng mừng tủi tủi.
- Má sai chị ra đây là má chưa tha thứ cho thằng con bất hiếu, em không dám vào.
Bà chị trở vào nhà, hồi lâu bưng một ngọn đèn chong leo lét soi đường cho mẹ. Trang Bá ôm chầm lấy mẹ, còn con Hường sụt sịt khóc.
- Vào nhà đi con, Đức Phật đầy vị tha. May mắn là trăm tuổi già mẹ được trông thấy con, lòng nào nỡ giận.
Cả gia đình đoàn tụ. Mẹ thắp nén hương đưa cho Trang Bá lạy cha.
Lạy xong anh ôm đàn, bảo con Hường ngồi bên chiếu lạy. Tiếng đàn ngân nga, con Hường ca theo:
- Khi nâng chiếu chỉ ra để cờ
Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ...

*

Mãi mười năm sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, anh em lính cũ chúng tôi được dịp về lại kinh Thầy Phó xã Hựu Thạnh.
Rất may ông thợ nhuộm vẫn còn sống, tuổi gần tám mươi. Câu chuyện về người bạn cũ chúng tôi, anh Trang Bá, như trên đây là nhờ ông ấy kể lại. Chúng tôi có lên tỉnh tìm thăm cô Hường con ông, giờ đây đã là đàn chị của một đoàn cải lương tỉnh.
Sau ngày về thăm mẹ, hai chú cháu Trang Bá tiếp tục lưu lạc hát rong hai năm trời. Bắt liên lạc được với tổ chức, Trang Bá đưa con Hường về với ông thợ nhuộm, rồi tham gia phong trào đồng khởi.
Anh em tiểu đoàn 307 chúng tôi vẫn có ý rõi theo anh tìm dấu vết của người bạn cũ, những mong anh Trang Bá, nếu còn mạnh giỏi, đọc được bài viết này, hãy ôm đàn tìm đến báo Sân khấu, liên lạc với anh em. Bè bạn còn cũng bộn, ở rải rác các ngành làm các nghề nghiệp, có đủ thứ sĩ: bác sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ. Có đủ thứ nhà: nhà kinh doanh... Có đủ thứ sư: kỹ sư, giáo sư, kiến trúc sư, võ sư... Nhiều đứa biết bập bõm vọng cổ sáu câu, chỉ có thiếu tiếng đàn kìm gọi bạn... Tiếng đàn kìm Trang Bá réo rắt năm nào vẫn quyện chặt vào lòng đồng đội với bao kỷ niệm vui buồn, sự nhớ thương một người chiến sĩ, nghệ sĩ...