THẾ UYÊN dịch và chú giải
Nhập đề
Nguyên tác La propagande politique của J.M. DOMENACH

Presses Universitaire de France xuất bản 1969

    
uyên truyền chính trị là một trong các hiện tượng trội bật của tiền bán thế kỷ 20. Không có nó, các vụ đảo lộn lớn lao của thời đại chúng ta như cuộc cách mạng Cộng sản và chủ nghĩa phát-xít, đều khó mà quan niệm được. Một phần lớn nhờ ở tuyên truyền, Lénine đã thiết lập được chế độ bôn-sê-vích và chính nhờ nó Hitler đã đạt được các chiến thắng kể từ khi lấy chính quyền đến vụ xâm lăng năm 1940. Trước khi là chính khách, là kẻ chỉ đạo chiến tranh, cả hai người trên đã ghi dấu vết sâu đậm vào lịch sử gần đây của chúng ta, dĩ nhiên bằng những cách thức khác nhau, đều là những thiên tài về tuyên truyền, vả cả hai đều xác nhận công khai ưu thế của thứ võ khí tối tân này: “Điều chính yếu”, Lenine nói, “là sách động và tuyên truyền, trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân” và Hitler nói “Tuyên truyền đã cho phép chúng tôi duy trì quyền bính, tuyên truyền có thể cho phép chúng tôi chinh phục thế giới”.
Trong cuốn Quyền bính và dư luận (Le Pouvoir et Le Opinion) Alfred Sauvy ghi nhận rằng không một quốc gia hiện đại có hình thức phát-xít nào lại bị sập đổ mà không có sự can thiệp từ bên ngoài tới, và ông thấy đó là bằng cớ chứng tỏ sức mạnh của tuyên truyền chính trị. Đó chỉ là hậu quả của cảnh sát công an, mọi người sẽ nói vậy. Nhưng tuyên truyền đã đi trước cảnh sát hay quân đội và chuẩn bị chiến trường cho hai lực lượng này. Cảnh sát Đức không có thể hữu ích nhiều ngoài các biên thùy của Đức quốc; việc sát nhập không chiến đấu Áo và Tiệp, sự sụp đổ của các cơ cấu quân sự và chính trị của nước Pháp, trước hết đều là chiến thắng của tuyên truyền. Trong hệ thống quyền bính của chủ nghĩa độc tài hiện đại, tuyên truyền chính trị chiếm hàng đầu một cách không thể chối cãi được, trước cả công an cảnh sát.
Suốt Đệ nhị Thế chiến, tuyên truyền bao giờ cũng đi cùng và nhiều khi còn đi trước các đạo quân. Các lữ đoàn quốc tế quân Tây Ban Nha [1] đã có các chính ủy, La Wehzmacht [2] tại Nga sô có các “đại đội tuyên truyền”, Kháng chiến Pháp [3] sẽ chẳng bao giờ hy sinh hàng ngàn người trong những kẻ ưu tú nhất để in và phổ biến các truyền đơn có một nội dung thường rất đơn giản nếu Kháng chiến không lờ mờ hiểu rằng nỗ lực này có tính cách sống còn. Rồi đình chiến tới, nhưng tuyên truyền không ngừng nỗ lực. Nó làm Trung Hoa biến thành Cộng sản còn hơn cả những sư đoàn của Mao Trạch Đông nữa. Phát thanh, báo chí, phim ảnh, sách nhỏ, diễn văn, bích chương làm đối chọi các ý tưởng, trao đổi các sự kiệnvà tranh giành con người. Thật ý nghĩa biết bao cho thời đại chúng ta câu chuyện các tù binh Nhật từ Nga sô trở về năm 1949: họ đã bị lôi cuốn theo chủ nghĩa Cộng sản trong thời gian ở các trại “chính huấn”, và những kẻ nhiệt thành của chủ nghĩa khác kia [4] đã đứng đợi các tù binh ấy ở cầu tàu, kinh thánh cầm tay để sẵn sàng bắt họ theo một cuộc “tái giáo dục dân chủ”.
Hiển nhiên kể từ khi có đấu tranh chính trị, nghĩa là từ nguyên thủy của thế gian, tuyên truyền vẫn đã có và giữ vai trò của nó. Démosthène đã chống lại Philippe [5], Cicéron chống lại Catilina [6] đều bằng một thứ chiến dịch tuyên truyền. Ý thức rất rõ những phương thức làm mọi người yêu mến các lãnh tụ và thần thánh hóa các vĩ nhân, Napoléon đã hiểu thấu đáo rằng mỗi chính quyền trước hết phải lo đạt cho được sự chấp nhận của dư luận quần chúng: “Công chính, làm điều thiện chưa đủ, còn cần phải thuyết phục được những kẻ bị cai trị rằng mình công chính và làm điều thiện nữa. Quyền lực được xây dựng trên dư luận. Chính quyền là cái chi? Chẳng là gì hết nếu không có dư luận”.
Từ xưa tới nay, các chính trị gia, các chính khách và các nhà độc tài đã tìm cách gia tăng lòng quyến luyến của mọi người đối với cá nhân mình và chế độ của mình. Nhưng giữa những lời hô hàotại các công trường cổ Hy Lạp và các hô hào ở Nuremberg [7], giữa các bích họa cổ động bầu cử ở Pompéi [8] và các chiến dịch tuyên truyền hiện đại, chẳng hề có một mức độ chung. Một mẫu cắt chứng tỏ ở ngay gần chúng ta đây thôi. Ngay cả truyền thuyết Napoléon, mạnh đến nỗi bốn mươi năm sau còn đưa được lên chính quyền một Napoléon [9] khác, cũng không thể so sánh với huyền thoại bao phủ các lãnh tụ hiện đại. Tuyên truyền của tướng Boulanger [10] còn có tính cách cổ thời: ngựa đen, bài ca ngắn, hình ảnh quảng cáothương mại. Ba mươi năm sau, các đợttuyên truyền khủng khiếp sẽ có các phương tiện chuyên chở là đài phát thanh, nhiếp ảnh, chiếu bóng, báo chí in hàng loạt ấn bản, bích chương vĩ đại cùng tất cả các phương thức mới mẻ về truyền hình. Toàn thể các phương tiện đã được dùng mọi thời bởi các chính trị gia để đạt chiến thắng cho lý tưởng mình, các phương tiện liên quan tới tài hùng biện, thi ca, âm nhạc, điêu khắc cùng tất cả những hình thái cổ điển của nghệ thuật ấy, đã được kế tục bằng một kỹ thuật mới, sử dụng các phương tiện khoa học đã mang lại để thuyết phục và hướng dẫn quần chúng hình thành vào thời này - một kỹ thuật toàn diện, mạch lạc và có thể hệ thống hóa đến một điểm nào đó. Danh từ được dùng để chỉ nó cũng có đồng thời với hiện tượng: Propaganda là một trong những từ ngữ thiên hạ đã rút đại từ văn thức La Tinh của Giáo hội đã dùng trong thời kỳ chống cải cách tôn giáo (de propaganda fide), văn thức đã gần như giành riêng cho ngữ vựng tăng lữ (Collége de la propagande) mãi cho tới khi nó đột nhập ngôn ngữ thông dụng vào cuối thế kỷ 18. Nhưng danh từ này cỏn giữ âm hưởng tôn giáo, một âm hưởng chỉ mất đi vĩnh viễn vào thế kỷ 20. Các định nghĩa bây giờ ta có thể mang lại cho danh từ này thật khác xa ý nghĩa kinh điển nguyên thủy của nó: “Tuyên truyền là một nỗ lực nhằm ảnh hưởng tới dư luận và cách xử sự của xã hội bằng một cách như thế nào để mọi người chấp nhận một ý kiến và một cách xử sự đã định trước” (Bartlett, Political Propaganda).
Hoặc là: “Tuyên truyền là ngôn ngữ dành cho quần chúng, nó sử dụng các lời nói hay các biểu tượng khác nhau do vô tuyến truyền thanh, báo chí và phim ảnh chuyên chở. Mục đích của nhà tuyên truyền là ảnh hưởng tới thái độ của các quần chúng về các điểm đã được tuyên truyền nhắm tới, các điểm được coi là các đối tượng của dư luận” (Propaganda, communication and public opinion, Princeton).
Tuyên truyền gần với quảng cáo ở chỗ nó tìm cách tạo ra hay biến đổi hoặc xác định các dư luận, và nó sử dụng một phần các phương tiện mượn của quảng cáo. Tuyên truyền khác quảng cáo ở điểm nó nhằm mục tiêu chính trị chứ không phải thương mại: các nhu cầu hay ý thích do quảng cáo gây ra cốt nhằm cho mặt hàng sản xuất riêng biệt nào đó, trong khi tuyên truyền đề nghị hay cưỡng ép người ta phải nhận các tin tưởng và các phản ứng thường làm thay đổi cách xử sự, tâm tình và ngay cả đến các tin tưởng về tôn giáo hay triết học nữa. Như vậy tuyên truyền ảnh hưởng đến thái độ căn bản của con người, và điểm này, nó gần với giáo dục, nhưng các kỹ thuật nó thường sử dụng và nhất cái ý định thuyết phục và chiếm ngự không xây dựng của nó làm tuyên truyền là phản đề của giáo dục.
Tuy thế, tuyên truyền không phải là một khoa học để ta có thể cô đọng nó lại thành các công thức. Trước hết, nó điều động các chuyển vận sinh lý, tâm lý và vô thức quá phức tạp và một số còn chưa được biết rõ. Kế đó, các nguyên lý của nó nằm cả ở khoa học lẫn thẩm mỹ học: các lời khuyến cáo rút từ kinh nghiệm, các chỉ dẫn đại cương sau đó còn cần phát kiến thêm. Và nếu thiếu các ý tưởng, hoặc là tài năng, hoặc là quần chúng, thì chỉ còn là văn chương hơn là tuyên truyền. Khoa hướng dẫn tâm hồn tập thể (La psychagogie) mượn khá nhiều ở các khoa học hiện đại, nhưng nó có thể trở thành một khoa học được chăng? Chúng ta sẽ có lúc tự hỏi ta như thế. Như vậy, nỗ lực chúng tôi chẳng phải là sắp xếp thành luật tắc khoa này, dù ngay trong tình trạng hiện nay. Chúng tôi tin và hy vọng rằng nó sẽ không mãi mãi bị ràng buộc vào các quy tắc chúng ta sẽ biết sau đây.
Chú thích:
[1] Dân Tây Ban Nha lật đổ vua Alphonse 13 và thành lập chế độ Cộng hòa có tính cách thế quyền và chống lại giáo hội Ki-tô giáo địa phương. Tướng Franco, tôn quân và bảo thủ, nổi lên chống lại chế độ Cộng hòa gây ra cuộc nội chiến kéo dài hơn hai năm (1938-1939). Franco thắng và trở thành Quốc trưởng Tây Ban Nha, liên kết với giáo hội địa phương cai trị dân một cách độc tài cho tới hiện nay. Lữ đoàn quốc tế quân là các đơn vị bao gồm các chí nguyện quân đủ quốc tịch tới giúp phe Cộng hòa trong cuộc nội chiến kể trên.
[2] Wechzmacht: tên gọi toàn thể quân lực Đức từ 1935 tới 1945.
[3] Kháng chiến Pháp dưới sự lãnh đạo của De Gaulle chống lại quân Đức chiếm đóng trong Thế chiến 2.
[4] Ở đây xin hiểu là những người quốc gia Nhật trong thời kỳ bị quân Mỹ chiếm đóng sau khi Nhật thất trận năm 1915.
[5] Démosthène: chính trị gia có tài hùng biện của cổ Hy Lạp, chống lại Philippe de Macedoine khi vị tiểu vương này muốn thống nhất toàn xứ Hy Lạp. Ông khuyến dục dân Hy Lạp chống lại người phụ tá của Alexandre le Grand và phải tự tử sau khi cuộc nổi dậy bị dẹp tan.
[6] Cicéron: chính trị gia có tài hùng biện của cổ La Mã, bảo vệ cư dân đảo Sicile chống lại các lạm quyền và khi được vào Nguyên lão nghị viện, đã phá được âm mưu chống cơ quan này của Catilina. Sau bị Antoine, anh em họ của César, kẻ đã cưới nữ hoàng Ai Cập Cleopatre, sai người giết chết.
[7] Nuremberg: Thành phố Đức miền Bavière, nổi danh vì trước đó là thành trì, trụ sở chính của đảng quốc gia xã hội (gọi tắt là Quốc xã) do Hitler lãnh đạo. Và sau đó nổi danh vì các nước Đồng Minh đã chọn thành phố này làm nơi xử án các phạm nhân chiến tranh Đức, đa số chính là các lãnh tụ Quốc xã trước kia.
[6] Pompéi: thành phố Ý cổ, bị núi lửa Vésuve chôn vùi năm 79. Mới tìm lại được kể từ 1748 với các bức bích họa còn nguyên vẹn, diễn tả được những sinh hoạt thời cổ.
[9] Napoléon III: giòng dõi Napoléon Đệ Nhất, được bầu làm Tổng thống Cộng hòa Pháp năm 1848. Ba năm sau ông giải tán Quốc hội, tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý dẫn tới sự khôi phục đế chế. Chính vị vua này đã cho đánh chiếm Việt Nam từ 1859-1862 cùng gửi quân viễn chinh sang Mehico. Thua trận quân Áo tại Sédan (1870), ông bị Quốc hội truất phế và chết ba năm sau, Triều đại của ông thường được gọi là Đệ nhị Đế quốc (Second Empire).
[10] Boulanger: tướng Pháp, làm Bộ trưởng Chiến tranh năm 1886, định đảo chánh không thành, phải chạy sang Bỉ và tự tử trên mộ người tình.