8 - Khi đứa con sinh ra
Phần 44
Thời kỳ thai nghén và ảnh hưởng của nó

Lúc người phụ nữ cảm thấy sẵn sàng thực hiện vai trò làm mẹ của mình. Một vài dấu hiệu chuẩn bị mang thai rất kín đáo biểu hiện như:
- Nếu cặp vợ chồng ở tạm nhà bố mẹ, người vợ trẻ bày tỏ mong muốn có một ngôi nhà riêng cho mình.
- Việc làm của người vợ không thấy thoả mãn như trước kia nữa.
- Khi sắp xếp căn hộ của mình, cô ta giành chỗ trang trí căn phòng tương lai của đứa trẻ.
- Quan hệ giới tính được đưa vào trong bối cảnh mới như một chương trình với ý thức chuẩn bị có thai trên cơ sở đam mê và tình yêu.
- Nếu thời kỳ thai nghén kéo dài thì một vài phụ nữ bỏ việc làm chỉ chăm lo cho công việc gia đình và đứa con tương lai trong bụng mình.
Việc thông báo có thai thường sung sướng và hạnh phúc bởi các cặp vợ chồng muốn có được một đứa con.
Việc mang thai đem lại cho người vợ trẻ nhiều thay đổi.
1. Trước tiên về mặt sinh lý
Khi phụ nữ có thai, tỷ lệ hoóc môn stéroide và là tỷ lệ hoóc môn testostérone đã tăng lên một cách đáng kể. Hoóc môn testostérone được coi như biểu hiện ham muốn cuộc sống lứa đôi. Với sự biến đổi này giải thích được phần nào các thay đổi cư xử giới tính trong thời kỳ này.
Vào năm 1973 Masters kể lại rằng có sự giảm sút quan hệ giới tính trong ba tháng đầu của thời kỳ mang thai, ông ta nói việc giảm sút trong quan hệ tình dục bởi các yếu tố tâm lý. Trên thực tế, nhiều phụ nữ vào buổi đầu mang thai cảm thấy lo sợ và không yên tâm về tương lai. Mỗi sáng họ thường nôn mửa, sau đó cảm thấy rất mệt. Các phản ứng và sự nhậy cảm sinh lý đã gây cho các bà mẹ trẻ khó chịu và đôi khi cảm thấy mình như bị tâm thần và đành để mất đi ham muốn tình dục và khả năng có thể của mình.
Vào quý thứ hai của việc mang thai, phụ nữ thụ cảm giới tính không được chính xác lắm, xuất hiện tỷ lệ hoóc môn và tỷ lệ xung huyết ở vùng khung chậu. Họ sẵn sàng có quan hệ giới tính nhiều hơn. Một vài phụ nữ nói với chúng tôi đã cảm thấy thời kỳ khoái cảm ban đầu kéo dài ở giai đoạn này. Lúc đó không hiếm những động tác cảm nhận được từ người chồng, có lúc thay đổi đến bất ngờ. Sự ham muốn của anh ta cũng giảm đi. Các cặp vợ chồng thường không cùng thấy được thời gian kéo dài của cơn sóng tình đó, bởi người phụ nữ và người đàn ông sợ làm tổn thương đến đứa trẻ của mình. Đối với đàn ông, anh ta không phát triển ảo ảnh kiêng khem đối với người vợ mang thai của mình mà anh ta đã trao cho vợ quyền làm mẹ.
Theo Masters, ham muốn tình dục của phụ nữ lại giảm đi ở quý thứ ba của thời kỳ mang thai, về việc không đủ thể chất của mình và bây giờ các cô đã cảm thấy trước được việc sinh em bé. Những e sợ của cặp vợ chồng lo sự rủi ro vì quan hệ tình dục đang chuốc lấy thai nhi. Sự e sợ này xuất phát bởi việc kéo dài thời kỳ không sinh đẻ hay là đã có những tiền lệ phá thai tự phát.
Quan sát Jeanne và Roger 28 tuổi: Jeanne đã phải tự điều trị trong vòng 10 năm để có được một em bé. Từ khi họ khẳng định đã có thai, Roger tự từ chối đến gần người vợ mình, ông ta chỉ tiếp xúc với Jeanne khi rất cần thiết vì ông sợ làm hại đến đứa trẻ. Ông ta đã dành hết tâm lực của mình vào công việc, làm việc trong đêm khuya và dành thời gian còn lại cho môn thể thao quần vợt hay là việc chơi bài với bạn bè. Hiểu lầm ý nghĩ của chồng mình, Jeanne ngày càng trong tình trạng suy sụp.
Những việc nghiên cứu về sau liên quan đến giới tính của phụ nữ mang thai không khẳng định được quan sát của Masters. Bạn Pasini của chúng tôi đã hỏi về quá khứ của 100 phụ nữ mang thai và ông ta thấy rằng: ham muốn và lợi ích tình dục đã giảm đi rất rõ rệt, nó càng giảm khi thai càng lớn. Sự giảm đi này đối với người chưa sinh đẻ nhậy cảm hơn đối với những người sinh đẻ rồi.
Chắc chắn những lời khuyên của thầy thuốc về việc ăn kiêng hay giữ mức quan hệ tình dục trong các trường hợp có thai đã can thiệp vào sự thống kê học này.
Phụ nữ có sự khác nhau về ham muốn tình dục trong thời kỳ mang thai, một vài phụ nữ hoàn toàn kiêng kị mặc dù có sự cho phép của y học để theo đuổi một cuộc sống tình dục bình thường. Một số phụ nữ khác thấy tăng lên một cách đáng kể về mức độ hưng phấn tình dục. Dù như vậy, một cuộc điều tra của Naey đề cập đến 26.886 người mang thai, vào năm 1979 và ông kết luận: mối quan hệ giữa việc giao hợp thường xuyên trong thời kỳ mang thai và sự rủi ro lây nhiễm của màng ối là rất rõ ràng. Cuộc điều tra này cho thấy hậu quả đáng buồn nếu quan hệ tình dục quá nhiều khi đang mang thai. Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh và tỷ lệ gây nguy hiểm về đường hô hấp tăng đáng kể. Các kết quả của việc nghiên cứu này ngày càng được tranh luận một cách gay gắt, tuy nhiên nó cũng đưa thầy thuốc cân nhắc lời khuyên về quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai bởi nếu hoạt động tình dục quá nhiều trong thời gian này sẽ làm tăng lên gấp “bội” sự chẩy máu không giải thích được ở người phụ nữ.
Quyết định của thấy thuốc trong lĩnh vực này phải tính đến sự quan hệ nhằng nhịt của các yếu tố sinh lý và tâm lý. Cuộc điều tra của Pasini khẳng định: những phụ nữ đã phát triển khả năng tích cực, năng động đối với sinh hoạt vợ chồng ngoài giao hợp, họ giữ được thai và cải thiện được cuộc sống vợ chồng của họ.
Đúng như ghi trong mọi trường hợp, như cuộc điều tra của Hollender và Macgehee cho thấy: trong mọi trường hợp, phụ nữ mang thai là nhân chứng của nhu cầu vuốt ve chiều chuộng và nhu cầu tiếp xúc thể xác như: ôm ấp, riết chặt và nhu cầu thân thiện thay bằng giao cấu (nhất là khi thai nhi đã to) các việc đó coi như công việc của quan hệ tình dục khi vợ mang thai.