Chương I
Vua Zéro

     ày! Các anh! Thế nào nhỉ? Ở đám tế, muốn bảo đứng dậy, họ xướng thế nào nhỉ? Hơơơng. À phải...
Nói xong, anh Tam khuỳnh hai tay ra đằng trước, dài giọng ra mà:
- Hơơơng!
Tiếng cười rầm rầm:
- Kìa vua Zéro! Ngài có nghe tiếng không?
- Ngài lờ mãi! Ngài quỳ gan thế!
Tiếng vỗ tay đôm đốp:
- A hay! Hơơơng! Đức ơi! Hơơơng! Ơ nó cứ quỳ bạt mạng đi thôi!
Anh em cười nôn ruột. Nhưng thầy giáo hất tay, bắt mọi người đi chơi xa.
Từ lúc ấy, sân trường mới được vui vẻ. Chỗ này, vài anh đuổi nhau. Chỗ kia, vài anh rủ nhau đánh bi. Cạnh hàng rào anh Thơm nhồm nhoàm chiếc bánh tây. Ở góc trường, anh Lục hút thuốc lá vụng. Anh Đa, anh Banh khoác tay nhau, đi bách bộ, lầm bầm đọc bài chốc nữa. Anh Tý vạch xuống đất để hỏi anh Học bài tính vừa rồi.
Chẳng còn ai để ý đến Đức đang quỳ ở góc lớp ba như ban nãy nữa. Ông giáo Chính ngồi ở bàn giấy, gấp quyển vở lại, gọi:
- Đức! Anh lại gần đây.
Rồi thầy nghiêm nét mặt, nhìn Đức. Đức, khoanh tay, cúi gầm, e lệ đến cạnh bàn thầy đứng im.
Ông giáo trỏ quyển vở, trang nghiêm nói:
- Anh không đáng tên là Đức! Anh ngẩng lên nhìn tôi đây.
Đức sợ hãi, thưa:
- Dạ!
- Vở anh giữ rất sạch sẽ, sao không bài nào anh thuộc!
Đức im lặng, không đáp.
- Tôi nhận thấy độ ba tháng nay, anh đổi khác hẳn. Trước anh chăm chỉ bao nhiêu, nay anh lười biếng bấy nhiêu. Tại làm sao thế?
Đức vẫn không đáp.
- Tôi rất không bằng lòng. Các bạn anh đặt tên anh là vua Zẻro! Anh hay phải phạt! Anh có xấu hổ không?
Thẹn thùng, Đức khẽ đáp:
- Bẩm thầy, có.
- À, có! Vậy sao anh không chịu học? Sao anh còn lười? Lười đến nỗi cả quần áo cũng để bẩn thỉu quá! Tôi tiếc cho anh rất sáng dạ. Anh phải biết, người sáng dạ đến đâu mà lười, cũng không bằng người tối dạ mà chăm. Tôi phạt anh là để anh sửa lỗi. Nhưng nếu anh không sửa lỗi, thì từ nay tôi không phạt nữa.
Đức cảm động, hai mắt mọng những nước.
Ông giáo nói tiếo:
- Trước anh là một người học trò rất ngoan ngoãn. Tôi tưởng lên lớp này, anh vẫn ngồi đầu như năm ngoái ở lớp tư. Thế mà chỉ được một tháng, rồi anh đổi khác hẳn. Tuy trong lớp, anh không nghịch ngợm, anh chịu khó nghe, anh trả lời được những câu hỏi khó, nhưng đến bài học là anh không thuộc bao giờ, có khi bài làm, anh cũng bỏ dở. Giá anh chịu khó một tí đã đủ hơn anh em rồi. Vậy mà đến bây giờ, trong năm mươi người, anh ngồi thứ bốn mươi sáu! Anh có thấy rằng anh học lùi lại không?
- Bẩm thầy, có.
- Tại làm sao anh về nhà không chịu học? Có phải anh đã làm phiền cho cha mẹ tốn kém vì anh không?
Nói xong, thầy im, nhìn Đức một lúc để cho lời nói ấy thấm thía đến tận đáy lòng Đức-
Thì quả nhiên, ở mắt Đức, hai giọt nước ứa ra, to dần, rồi chảy dài xuống má.
Nhưng thầy vờ mắng:
- Anh còn cho là oan, phải không?
Đức lấy vạt áo chùi nước mắt, đáp:
- Bẩm thầy, không phải thế ạ.
- Được, thầy me anh có nhà không? Rồi tôi đến chơi để mách rằng anh lười biếng.
Đức nức nở, khóc to ra tiếng.
Ông giáo lấy làm lạ, hỏi to:
- Sao anh khóc?
- Bẩm thầy, con có dám lười đâu.
Thấy câu nói vô lý, thầy cau mặt lại. Nhưng rồi thầy cười gằn và hỏi vặn:
- Hừ! Anh không dám lười! Thế tại làm sao không bài nào anh thuộc? Anh ở nhà làm gì?
Đức run run đáp:
- Bẩm thầy, tại ở nhà, con không được học.
Rồi Đức òa lên khóc.
Ông giáo nhìn Đức, chừng cũng cảm động, ông thở dài. Rồi nghĩ ngợi một lúc, chờ cho Đức lau nước mắt, ông dịu dàng, hỏi:
- Tại làm sao anh không được học? Anh nói dối! Ai cấm anh học?
- Bẩm thầy, bà chủ nhà con.
- Nhà trọ ấy à?
- Vâng.
- Tại làm sao?
- Tại bà ấy không cho con học.
- Sao lại không cho?
- Bẩm thầy, đã bốn tháng nay, con không trả tiền trọ.
Ông giáo ngồi thẳng lại, cau mặt nghĩ rồi hỏi:
- Nhưng bà ấy cấm anh học bài à?
- Bẩm không cấm, nhưng con không có lúc nào để học bài cả.
- Thế buổi sáng, sao anh không chịu khó dậy sớm để học?
- Thưa thầy, sáng nào con cũng dậy từ bốn giờ. Nhưng con phải thổi cơm để bà ấy ăn rồi đi chợ. Khi con rửa bát và cho lợn ăn xong, thì đã gần giờ học.
- Buổi trưa?
- Buổi trưa, bà ấy giao cho con nhuộm vải hoặc kiếm củi.
- Buổi chiều, nhiều thì giờ, sao anh không học sẵn?
- Buổi chiều, tan học, con phải đi đón gánh hàng cho bà ấy. Rồi về nhà thổi cơm. Bữa ăn người và bữa ăn lợn xong là vừa tối.
- Thế lúc xong việc, anh để thì giờ làm gì?
- Bẩm thầy, hôm nào con không phải chia bài, thì bà ấy sai con các việc lặt vặt. Con chẳng được lúc nào rỗi cả. Con biết rằng con lười học thì thầy ghét, nhưng con biết làm thế nào?
Đức nói đến đây, lại bưng mặt khóc. Rồi một lát, Đức thưa:
- Thấy không có thì giờ làm việc nhà trường, nhiều bận con muốn xin phép thầy thôi học, nhưng con lại tiếc. Con tiếc kỳ thi Sơ học yếu lược sắp tới này.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, thầy hỏi:
- Thế nhà anh không có đày tớ à?
- Bẩm thầy, đã ba tháng nay bà chủ con cho thằng nhỏ về, nói rằng đã có con thay nó.
Ông giáo nhăn mặt, đăm đăm đôi mắt:
- Thế bà ấy có hay đánh anh không?
- Bẩm có, vừa đánh, vừa hay nhiếc. Thỉnh thoảng, con đi mượn sách, bà ấy cũng bảo con đi chơi, dọa đuổi mấy lần.
- Thầy anh đâu?
- Bẩm thầy, thầy con mất rồi.
- Thế me anh?
Đức lặng người, không đáp được. Ông giáo hỏi gặng:
- Thế me anh đâu?
- Bẩm thầy, u con đi lấy chồng.
- U anh không cho anh tiền cơm nữa à?
- Bẩm thầy, trước thì tháng nào u con cũng gửi tiền cho, mỗi tháng ba đồng. Nhưng một độ, con không thấy u con cho tiền. Rồi dì con qua huyện, nhắn cho con biết rằng u con mới mất độ tháng chín.
Ông giáo Chính động lòng, nhìn Đức, thương hại. Nhưng hình như ông thấy có một chỗ vô lý trong câu nói của Đức, bèn hỏi:
- À, anh bảo u anh mất, sao tôi không thấy anh để tang?
- Bẩm thầy, con không có khăn áo tang. Mà dù có cũng không dám mặc, vì sợ bà chủ con biết con mồ côi, thì đuổi con thật.
- Thế anh vần giấu bà chủ à?
- Vâng, vì nhà u con ở xa đây lắm.
Ông giáo Chính cắn môi, ra ý nghĩ ngợi, rồi lại nghiêm mặt, nói:
- Thễ họ hàng thân thích anh, có ai ở gần đây không?
- Bẩm, không có ai ở gần đây, vì họ hàng cha dượng con thì ghét con, mà họ hàng cha đẻ con thì bỏ con. Họ ngoại con nghèo quá.
Thầy lặng một lúc, nhìn Đức, rồi nói:
- Nhưng dù thế nào, anh cũng phải chăm chỉ, vì anh là học trò. Thôi, cho ra chơi.
Đức ngậm ngùi, ra hiên rồi xuống sân. Ông giáo nhìn theo, rồi sang lớp khác.
- A ha! Vua Zero!
- Hơơơng!
Anh em túm lại chế nhạo. Đức đứng thần người ra, ủ rũ như con gà bị nước mưa, không cười không nói.
Anh Tam đến gần Đức, chắp hai tay, vái một cái thật dài, rồi bắt chước Đức lúc không thuộc bài, khoanh tay nhìn lên trần, vân vê chiếc khuy áo.
Anh Sinh bưng miệng bấm anh Tòng, khẽ nói:
- Gớm, tóc nó dài và xù như cái mái nhà rơm mới lợp.
Anh Bàng, đứng sau Đức, ghé mặt vào cổ áo, rồi bịt mũi.
Anh Tụng vờ trỏ cái núi đằng xa nhưng quặp hai ngón chân vào chỗ rách ở quần Đức, giật mạnh cho toạc to ra.
Thấy vậy, anh Tam cười sằng sặc, pha trò thêm:
- Để cái cửa sổ rộng cho nó mát. Ồ! Quần vua Zéro thêu hoa thịt, chúng mày ạ.
Nhưng ông giáo thấy tiếng cười ầm ầm, chạy ra. Anh em tản mỗi người một nơi, xong còn quay lại nhìn Đức, bộ dạng bơ phờ, mà nhăn răng ra cười. Các anh ấy cười cái áo thâm nước dưa vừa rộng vừa dài như áo mượn.
Đức vẫn đứng im như không tủi thẹn vì sự chế giễu thâm ác của bạn, mà chỉ tủi thẹn vì cái tình cảnh khốn nạn của mình vừa giãi bày với thầy giáo Chính mà thôi.