Dịch giả: Hoàng Đình Trực
CHƯƠNG IX
CÁI CHẾT CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ

Papích và Ivalú đập đầu vào tường và la khóc thảm thiết, nhưng Asiác không tỏ ra chút đau đớn nào. Cô chỉ ôm hai đứa con vào lòng như khi chúng còn nhỏ và trong vòng tay cô chúng vẫn là trẻ con - để hôn hít và thấm ướt mặt mình bằng nước mắt của con.
Đi theo dấu chân Erơnênếch, Papích đã tìm thấy xác bố và cõng về nhà Siôrakitsốc, hy vọng thầy lang hoặc thầy thuốc người da trắng có thể làm bố sống lại. Nếu Papích biết chắc không chữa được thì anh đã để nguyên tử thi ở đấy thì tránh được khá nhiều bất tiện.
Tập quán ở đây chỉ những cô gái trẻ và bà già đứng tuổi mới được quyền động vào người quá cố, nhưng tay phải đeo găng. Sau khi rửa tử thi, họ buộc cả tay lẫn chân để con ma khó hoạt động. Rồi họ lấy rêu nút lỗ mũi, bịt rốn và cơ quan sinh dục.
- Một người đàn bà cảm thấy bứt rứt vì chồng mình gây nhiều phiền phức - Asiác nói với Siôrakitsốc đang chỉ huy tang lễ - Vì sao không đưa người chết ra ngoài thiên nhiên như chúng tôi thường làm ở phương Bắc? Thú vật sẽ đảm nhiệm việc dọn xác và con người không phải lo lắng gì cả.
- Người chết đã ở trong nhà - Siôrakitsốc nói với vẻ lo lắng và không vui - Chúng tôi phải làm tất cả để con ma khỏi ám. Rõ ràng con ma của chồng cô thật đáng sợ.
- Đúng thế đấy.
Cái xác trần truồng, gập đôi của Erơnênếch để ở giữa nhà, phía dưới lỗ thông hơi trên nhà để linh hồn bay ra. Tất cả phụ nữ vây quanh xoã tóc, quần áo nhàu nát, cào mặt, đấm ngực, gào thét, ca ngợi kẻ chết để con ma vui lòng.
Trong buổi tang lễ ấy có mặt một người da trắng.
Đó là nhà truyền giáo cùng đi với đoàn thám hiểm để mang ánh sáng đến cái vùng phương Bắc xa xôi còn chưa được đức tin rọi tới này. Thấy cha cố trong phòng tất cả đều im lặng. Cha cố là một người đàn ông béo, tầm thước, tóc dài màu hung nên chẳng mấy chốc người ta bỏ cái tên Côhactốc của ông thay thế bằng Tóc phai. Cha cố có bộ râu đỏ mềm mại, mắt xanh trong.
Ông ta lại gần kẻ quá cố đọc kinh. Rõ ràng ông ta đã cố gắng học tiếng Eskimo. Bởi thế ông diễn đạt khá rõ ràng suy nghĩ của mình bằng tiếng địa phương.
- Một kẻ tội lỗi đã về nơi yên nghỉ cuối cùng - Ông ta nói, mắt nhìn những người xung quanh - Nhưng kẻ tội lỗi này có thực sự tìm thấy nơi yên nghỉ không? Ta nghi ngờ điều đó, vì anh ta ra đi không được Đấng sáng tạo tẩy hết tội lỗi. Bây giờ thì điều đó quá muộn rồi. Mong sao cái chết này là sự cảnh tỉnh những ai còn chưa chịu theo Chúa. Có lẽ đây là lời nhắc nhở mọi người phải đi rửa tội ngay lập tức vì đất nước của Chúa rất gần. Điều này ta đã nói với dân làng từ khi ta đến. Ta đến đây là để gieo hạt giống tốt lành cho các người. Ta nghe nói người này là một nhà săn bắn đại tài. Nhưng số gấu bị giết đó giờ đây có ích gì cho anh ta? Rõ ràng anh ta, người không mảnh da thú trần truồng bị thiêu đốt trên ngọn lửa vĩnh cửu. Sao không bớt một ít thời gian săn bắn để đọc kinh cầu nguyện Chúa tha tội cho? Nếu làm thế thì giờ đây linh hồn anh ta đã ở trên Thiên đường chứ không phải sa xuống địa ngục, và chúng ta có thể chôn xác anh ta vào nghĩa địa Thiên chúa giáo bên cạnh xác Alinalúc, dưới cây thánh giá chứ không phải chôn ở đất giả dối. Bây giờ chúng ta chỉ có thể cầu Chúa rủ lòng thương linh hồn tội lỗi. Amen.
- Ông ta nói gì vậy? - Ivalú hỏi mẹ - Mẹ hiểu điều người da trắng nói mà.
- Yên nào - Asiác thì thầm - Mẹ không hiểu ông ta nói gì, mẹ chỉ nghe ông ta nói cha là một người đi săn đại tài thôi. Mỗi tộc người có tập quán riêng và tập quán của người da trắng rất lạ. Đây chắc là cách ông ta xoa dịu con ma.
Trong năm vòng mặt trời quay những người đàn bà đầu tóc bù xù, áo quần nhàu nát, gào khóc ca ngợi kẻ quá cố. Nỗi sợ hãi con ma được thể hiện bằng sự thương tiếc người chết của tất cả mọi người. Tất cả người lẫn chó đều phải nhịn ăn trong thời gian cử hành tang lễ trừ trường hợp vụng trộm.
Đến ngày thứ sáu các bà khâu xác chết vào một áo quan bằng da mới và tổ chức lễ chôn cất.
Đám tang do Ácgô dẫn đầu chui qua một lỗ thủng đục ở tường để ra ngoài. Ngay lập tức họ lấp tường lại để linh hồn Erơnênếch, nếu vẫn còn trong người anh, không thể tìm được đường về và làm hại họ như linh hồn những người chết vẫn thường làm. Sau đó họ đặt áo quan lên cỗ xe do Papích chỉ huy. Phía sau là Asiác, Ivalú và Siôrakitsốc được hai con rể dùng thảm khiêng đi. Phụ nữ đi theo đoàn người gào khóc thảm thiết, còn đàn ông dùng gậy quật mạnh chó để chúng cũng bộc lộ đôi chút thương đau.
Đám tang dừng lại trên đỉnh đồi nơi từ đó có thể nhìn thấy toàn cảnh cái làng. Đàn ông bắt tay vào đào huyệt. Mùa hè làm tan lớp băng đầu tiên dày khoảng một tấc, do vậy đất và tuyết mới tạo thành một lớp bùn nhão. Nhưng dưới lớp bùn ấy là đất đông lạnh cứng rất khó đào. Người ta phải lấy đá xếp một ngôi mộ hình chữ nhật rồi đặt xác người chết vào.
Papích bóp chết con chó được Erơnênếch thích nhất và đặt nó nằm bên cạnh anh cùng với vũ khí, bấc đèn, mồi lửa khô, một cái đèn đầy mỡ vì trong mộ rất rét và rất tối.
Sau đó Siôrakitsốc nói lời vĩnh biệt.
- Các người chôn cất làm sao để ngôi mộ không giống như một ngôi mộ, tránh cho người đi đường hoảng sợ. Các người không được nói đến tên tuổi và hình ảnh người chết.
Gió thổi mạnh làm những người đi đưa đám nghe câu được câu chăng lời ai điếu.
- Các người có năm ngày để khóc hết nước mắt, ca ngợi đủ tất cả chiến công mà người quá cố đã giành được. Thôi thế giờ đây đã đủ rồi. Con người này đã có một cuộc sống đáng cho người khác phải ghen tỵ và người ta rất thương cảm với cái chết này. Cuộc đời nào rồi cũng phải chấm dứt, vì thế kết thúc sớm hay muộn một chút thì không có gì quan trọng cả. Tất cả những gì có kết thúc đều ngắn ngủi. Chẳng lẽ cuộc đời ngắn ngủi lại là điều xấu hay sao? Không, chính sự ngắn ngủi càng làm cho cuộc đời thêm quý giá. Và con người này đã tận hưởng đời mình với giới hạn tối đa.
Ivalú giấu mặt trong áo mẹ. Tiếng khóc, tiếng than, tiếng gào thét to đến mức tai điếc cũng phải nghe thấy. Siôrakitsốc mặt mày rạng rỡ, ôi đúng là một đám tang hoàn hảo!
- Con người này đã nhìn thấy con mình lớn lên, đã săn được gấu lớn, đã ăn những miếng thịt lớn và ngon nhất. Hình như anh ta còn giết một người da trắng mà không bị họ trừng phạt! Cầu mong sao con cái chúng ta sẽ như anh! Lúc về các ngươi không được quên xoá hết dấu vết để con ma không thể theo ta về làng và trả thù vì biết chúng ta còn đang sống.
Tất cả những người tham gia đám tang đều vứt bao tay xuống mộ và lấy đá to lấp huyệt để không con sói hay chồn gloton nào có thể nạy lên được. Sau đó họ ra về. Siôrakitsốc đích thân xem xét việc triệt thoái này.
Về đến nhà, mọi người còn dùng nước tiểu của mình để tẩy uế và đuổi tà ma nhiễm vào họ. Họ uống nước tuyết trong bát của Erơnênếch và vảy xuống đất vài giọt để hồn ma cũng có thể uống. Họ ăn thịt và vứt xuống đất vài mẩu rồi nói:
- Mày hãy ăn miếng thịt dự trữ này của chúng tao và giúp chúng tao có thịt dự trữ trong mùa đông tới.
Rồi họ đặt các bẫy giả thường dùng quanh làng để đe doạ con ma nếu có dám trở về.
- Vì sao cô và con gái cô lại lấy bồ hóng bôi đen mặt? - Siôrakitsốc hỏi khi nhìn thấy Asiác đang khâu, đầu trùm tất của Erơnênếch.
- Theo tục lệ tôi biết là phải kiêng dùng đồ nhọn và sắc trong vài ngày để khỏi làm con ma bị thương - Asiác chống chế - Nhưng có chuyện xảy ra là mọi người đều đã bỏ bao tay ở mộ Erơnênếch và giờ đây họ cần phải có bao tay mới vì họ sắp ra đi. Bôi đen trán là để chống quỷ khâu vá. Mẹ tôi nói thế và lần này tôi bắt chước mẹ tôi.
- Ôi đàn bà, đàn bà! - Siôrakitsốc khinh bỉ thốt lên - Mọi người đàn bà đều ngu ngốc và mê tín như nhau. Cô cho rằng quấn tất của chồng lên đầu là làm dịu con ma à. Cách chống việc cấm may vá tốt nhất là dùng kim vẽ một vòng tròn trên đất và ngồi vào vòng hộ mệnh đó mà khâu vá.
- Tôi không thể tưởng tượng ông biết nhiều đến thế - Asiác thốt lên, rồi vội vàng làm theo lời chỉ bảo.
Trong khi đó, lớp băng bao bọc quanh bờ biển từ lâu nay đã trút bỏ chiếc áo màu ghi xám và khoác vào chiếc áo trắng tinh. Nó cũng đủ độ vững để cho người và xe có thể đi qua được. Biển băng mỗi ngày một rộng ra do tiến sâu vào đất liền. Do không có mặt trời nên nước càng dễ đóng băng hơn, thậm chí những tảng băng từ phương Bắc trôi xuống giờ cũng dính vào bờ.
Papích sẵn sàng ra đi với đoàn thám hiểm.
- Có người sẽ trở về với khẩu súng và con dao thép, và sẽ hiểu tập quán của người da trắng - Anh nói với mẹ, mắt đẫm lệ - Lúc đó con sẽ dễ dàng kiếm thịt và da mẹ ạ.
- Một bà già không muốn con ra đi. Nhưng nếu con không thể ở lại được thì con không cần lo lắng cho người mẹ vô ích, mà nên nghĩ tới Ivalú, làm sao khi con về, nó phải trở thành vợ tốt của một người đàn ông dũng cảm.
Khi nghe nói thế Milắc đứng sau Papích tiến lên.
- Không cần phải đợi lâu. Có người đang muốn có một người vợ giặt quần áo trong cuộc hành trình sắp tới.
- Có thể thế - Asiác đáp - Nhưng không được.
- Vì sao?
- Ivalú là cô con gái rất ngốc nghếch của một người mẹ rất tồi. Nó còn chưa biết cạo da và khéo may vá. Nó còn quá trẻ con để trở thành một người vợ xứng với một người đàn ông dũng cảm.
- Tôi sẽ đưa biếu bà một chiếc đèn ít giá trị, vài dải dây màu của người da trắng và một ít thịt thường.
- Một bà già ngốc nghếch đã có một cái đèn tàng tàng rồi, bà ta không xứng đáng được trang điểm với những sợi dây màu này và bà ta không đói lắm đâu. Không không, anh Milắc, anh hãy giữ lấy của cải của anh còn bà già này sẽ giữ cô con gái vô ích của bà ta lại.
Trong khi đó Milắc hau háu nhìn Ivalú.
- Nhưng sau một chuyến đi trở về, như là điều có thể xảy ra, thì bà có cho phép một người đàn ông nói chuyện riêng với cô ấy không? Cái điều mà bây giờ bà chưa cho phép, và cả cười với cô ta nữa chứ?
- Có thể được - Asiác đáp, và Milắc ngập ngừng rút lui.
Papích nói với mẹ:
- Khi mang súng trở về con cũng lấy vợ. Những ngày vừa qua con thấy mình hợp với một cô gái lắm, nhưng cô ta lại cứ lảng đi khi con định nói chuyện. Có lần cô ta tát con một cái vì con sờ vào người cô ta.
- Đó là biểu hiện của sự có giáo dục, cô bé tên là gì?
- Viví.
Trước khi đi người da trắng sốt ruột thúc giục nhiều nhưng nhóm người Eskimo cứ dỡ ra rồi lại xếp vào đống hành lý, chốc chốc lại la là đã quên một cái gì đó. Nhiều lần họ trở về nhà để uống một bát chè hay cười lần cuối cùng với vợ. Đến phút chót họ còn phải sửa dây kéo xe, nối lại dây buộc đồ bị đứt. Trời tối rất nhanh.
Bất chấp cả tục lệ, Asiác và Ivalú cùng một số trẻ con chưa biết điều cấm này đi tiễn đoàn thám hiểm một đoạn đường. Bầu trời đầy mây, gió lạnh quét dọc bờ biển. Ba nhăm người đàn ông địa phương cùng với một số xe và mười hai người đàn bà hộ tống năm người thám hiểm da trắng đi trên lớp băng. Đi đầu đoàn viễn chinh là Papích. Chó của anh gầy và khoẻ do cuộc hành trình vừa qua, trong khi chó của dân làng còn béo và nặng nề.
- Vì sao mẹ không để con đi với anh Milắc? - Ivalú tức giận hỏi trong khi cô rảo bước đi theo mẹ.
- Vì mẹ không muốn con đi với người da trắng. Họ là những thằng điên nguy hiểm. Anh Papích quá thừa sức khoẻ nên mẹ không cấm chuyện đó còn con thì không được.
- Thế thì bây giờ con chẳng tìm được chồng! - Ivalú bật khóc - Milắc là chàng trai duy nhất xin lấy con làm vợ.
- Milắc là chàng trai duy nhất thấy con. Con yêu ạ, đừng sợ, con rất duyên dáng, và người đàn ông nào cũng thích có một cô vợ duyên dáng hơn người. Khi con đủ sức mang đồ đạc nặng trên vai thì con cũng sẽ dễ dàng lấy được hai người chồng hoặc nhiều hơn nữa.
- Mẹ chắc thế chứ?
- Hoàn toàn chắc thế. Con người khi còn nhỏ thì ít có giá trị vì dễ bị chết, nhưng cũng vì lẽ ấy mà trở thành rất quý khi đã trưởng thành. Chỉ khi đã ở tuổi của mẹ thì đàn bà mới không có giá trị.
Khi đoàn xe mất hút vào đêm tối, Asiác và Ivalú trở về nhà Siôrakitsốc. Ở đây họ gặp Tocngếch và Nêghê đang pha chè trước khi đi nằm.
Nêghê yên lặng, nhưng Tocngếch thì khóc. Ácgô người chồng của Nêghê, chắc chắn không phải chịu đựng cảnh thiếu đàn bà trong cuộc hành trình này vì tất cả những người đàn ông mang theo vợ đều lấy làm hãnh diện được đem vợ mình cho người khác mượn. Bởi thế Nêghê không phải lo lắng gì cho cuộc sống của chồng. Trái lại, cô chị già và béo Tocngếch nghĩ rằng hai ông chồng của mình thường hay bị mọi người trêu chọc và đối xử tàn tệ nên rất cần bà ta, bà ta muốn đi cùng họ, nhưng Siôrakitsốc cần cô ở nhà nên không cho đi.
- Có một người đàn bà già vô ích và cô con gái ngu ngốc sẽ làm một ngôi nhà nấm bằng băng - Lúc vào nhà Asiác nói.
- Không ai có thể trách cô vì cô muốn xa rời ông già vô tích sự này với hai cô cháu gái ngốc nghếch của ông ta - Siôrakitsốc nói khi đã hiểu ra điều Asiác nói - Nhưng không có đàn ông thì ngôi nhà này và cả cái làng này sẽ yên tĩnh một cách đáng ghét. Có chuyện xảy ra là mùa hè vừa qua nhiều bò biển bị trúng tên của Ácgô và cá thì câu được rất nhiều. Giờ đây các kho dự trữ thực phẩm đều đầy ắp và cô sẽ là một vinh dự lớn cho làng này nếu cô nhận lòng mến khách. Cô ở đây sẽ làm cho ngôi nhà ông già lang băm này thêm vui vẻ.
Asiác chăm chú lắng nghe những lời nói của Siôrakitsốc và đáp:
- Thực ra đó là một điều vinh dự cho chúng tôi, nhưng ăn cơm của ông và hai người đàn bà vô ích này, ở ngôi nhà rất đẹp này là không phải chút nào. Không, chúng tôi sẽ làm một cái nhà nấm bằng băng.
- Có người cảm thấy hạnh phúc và vinh dự nếu cô chấp nhận lòng mến khách nhỏ bé này - Siôrakitsốc đáp và sai hai cô cháu mang chè ra. Mọi người uống chè xong liền chui vào túi da để ngủ.
Nhưng Asiác dậy rất sớm.
- Con thương yêu - Bà lay người cô con gái - Một bà mẹ biết rằng con cần được chỉ bảo trong chặng đường khác và không được bỏ con ở thời gian này. Nhưng bà ta đã già trở nên vô ích vì không có ai vui lòng nuôi dưỡng bà ta.
- Mẹ, mẹ muốn nói gì vậy? - Ivalú ngước cặp mắt ngái ngủ hỏi.
- Một người trong suốt đời mình đã luôn luôn nhường ân huệ cho người khác thì sẽ không còn xứng đáng nữa nếu lại lạm dụng lòng mến khách của người lạ.
Đầu Ivalú vẫn còn đang mơ mơ màng màng.
- Thế mẹ định làm gì?
- Con bé bỏng ạ, mẹ bỏ đi nhưng không vì thế mà con cho rằng mẹ ít yêu con, mà trái lại cơ đấy! Con ở đây rất tốt, được bảo vệ chắc chắn và ăn uống đầy đủ. Vả lại, đây là một nơi sang trọng.
Ivalú dần dần đã tỉnh ngủ.
- Mẹ định đi đâu? - Cô hỏi, tay quàng lấy cổ mẹ và bật khóc - Mẹ đừng bỏ con, mẹ nhé!
- Nín đi con, làm mọi người thức dậy bây giờ. Ngủ lại đi. Hình như con rất mệt. Một người đàn bà muốn đến với chồng. Ở nơi đó bà ta sẽ gặp tất cả mọi người đã đi trước và sẽ đợi con ở đấy.
Ivalú muốn nói điều gì nữa, nhưng mệt quá, mắt nặng trĩu, cô để yên cho mẹ đắp lại chiếc chăn da cho mình.
Asiác hôn hít con một lúc rồi lặng lẽ ra khỏi nhà.
Trời rất đẹp, da trời nhuộm màu chiều hôm nhàn nhạt. Một người đàn bà gật đầu chào Asiác, khi gặp bà đi ra phía biển. Asiác mỉm cười đáp lời. Xác hải cẩu, xác cá kiếm và xác một con cá voi trắng nằm rải rác đây đó trên bãi biển cùng với hai con bò xa được bọc da bảo vệ cẩn thận.
Asiác đi trên lớp băng hướng ra nước.
Bà thích thú ngắm nhìn hai đứa trẻ đang chơi đùa trên thuyền kayak nhẹ làm bằng da hải báo, ở con suối chảy giữa các khối băng trôi. Chúng mặc quần áo không thấm nước làm bằng ruột động vật, cổ tay buộc chặt và quấn kín chúng với lỗ hổng hở của thuyền như vậy chúng trở thành một bộ phận của chiếc thuyền nhỏ. Điều đó cho phép chúng lộn đi lộn lại thuyền mà nước không vào. Để biểu diễn tài nghệ của mình trước Asiác, hai cậu bé nhào lộn rất nhanh, chúng lặn xuống biển làm chiếc thuyền con lộn đúng một vòng do sức nặng của thân thể chúng. Sau đó chúng lại nổi lên nhẹ nhàng, nước nhỏ giọt trên khuôn mặt tươi vui bóng mỡ.
Asiác mỉm cười nghĩ tới Erơnênếch mấy năm trước khi đi thử thuỳen kayak, do coi thường lời khuyên của người có kinh nghiệm, sau lần lộn thứ hai, anh bị uống nhiều nước hơn là không khí. Nhưng nguyên nhân chính của tai nạn là trong lá bùa mà Erơnênếch mang theo còn thiếu một chiếc chân vịt. Đó là lá bùa rất thiêng giúp cho việc điều khiển thuyền kayak bình yên vô sự.
Asiác tiếp tục nhìn bọn trẻ cho đến khi không thấy được chúng nữa. Bà tiến về phía gờ băng, ở đây có màu ghi. Bỗng nhiên bà có cảm giác mình đang trôi. Đúng vậy, sức nặng của thân thể bà đã làm tảng băng đứng tách ra và trôi theo dòng nước. Biết vậy, nhưng bà thấy không cần thiết phải quay lại, bởi vì khối băng quay và một chốc sau Asiác đã thấy mình quay mặt về phía làng và xa dần đất liền vì con kênh cứ rộng ra mãi.
Bà khép áo vào ngực. Nhưng bà không cảm thấy rét. Cũng như tất cả những người thuộc dòng giống của bà, bà tin tưởng là linh hồn bất diệt, và chắc chắn cái chết không thể nào cực nhọc hơn cuộc sống. Trong đời mình bà đã phải làm biết bao công việc nặng nhọc thường ngày, gặp bao nỗi bất hạnh trần gian nơi mà bất kỳ một lầm lỗi nào cũng đều bị trừng phạt.
Hai người đàn bà thấy bà đi ra phía biển.
- Asiác đi theo cái chết - Người này nói với người kia.
- Bà ta muốn chết hay bị xua đuổi vì một nỗi bất hạnh nào đó?
- Ai biết được!
Họ đứng nhìn nhưng không chạy lại cứu vì họ biết rằng thần biển có quyền được dâng hiến một số nạn nhân. Nếu cứu bà ta tức là giành giật lại từ tay thần biển đồ hiến sinh thì thần sẽ trả thù cả làng.
Asiác nhìn nước vây quanh mình và bà tự hỏi mình sẽ có cảm giác gì nếu nhảy xuống dòng nước kia. Thân thể bà chưa bao giờ tiếp xúc với nước. Mặt nước phản chiếu bầu trời xanh xám và Asiác nhìn thấy dưới đáy những con cá to đang lượn qua lượn lại.
Ôi, nước ấm tốt lành! Ôi, cá ngon, cá béo!
Một con chó con bị Papích bỏ lại đã đi theo bà từ lúc nào mà bà không biết. Chiếc đuôi xoắn, cái trán nhăn và đôi mắt nhỏ, xếch chăm chú nhìn bà chủ và dòng nước xa lạ, cái đầu lúc lắc.
Asiác nhận ra nó khi đã nhảy xuống nước và đang ngột thở. Áo quần thấm nước nặng như đá. Lỗ tai, lỗ mũi đầy nước. Vị muối mặn chát trong cổ họng. Con chó nhỏ theo bà ra biển giờ đây tuyệt vọng bơi theo. Khi con chó dùng móng mềm chưa bị cắt cào cào vào mặt Asiác, lúc đó theo bản năng bà bám chặt lấy nó. Sau đó bà buông con chó ra, đẩy nó vào bờ và trong lúc uống nước ừng ực bà nói:
- Đi đi, đi đi!