Dịch giả:Đào Đăng Vỹ dịch
- 1 -
Nguyên tác: Le Père Goriot (1835)

    
ính tặng đại danh sĩ Geoffroy Saint Hilare
 để tỏ lòng ngưỡng mộ sự nghiệp và thiên tài cùa ông
De Balzac
 
 
Bà Vauquer, nhũ danh de Conflans, là một bà già từ bốn mươi năm nay đang cai quản tại thành Paris một ký túc xá ờ đường mới Neuve Sainte Geneviève, khoảng giữa xóm la tinh và vùng ngoại ô Thánh Marcel. Ký túc xá này được gọi là ký túc xá Vauquer nhận ở trọ cả đàn ông lẫn đàn bà, cả người già cả đến hạng thanh niên, mà chẳng bao giờ thanh danh của nhà trọ ấy bị xuyên tạc. Nhưng cũng đã ba mươi năm nay, không hề có một người trẻ tuổi nào ờ đây, và nếu có thanh niên nào lạc lõng chốn này thì có lẽ thanh niên ấy chỉ nhận được của gia đình một số tiền cấp dưỡng rất kém cỏi. Tuy nhiên, vào năm 1819, là lúc mở màn tấn thảm kịch sắp kể ra đây, nhà này có chứa một thiếu nữ khôn lớn. Ta cần phải dùng chữ thảm kịch ờ đây, dầu danh từ này đã mất cả ý nghĩa vì người ta đã quá lạm dụng và quá ngược đãi nó trong thời buổi văn chương bi khổ này? Không phải vì câu chuyện có một kịch tính thật sự: nhưng câu chuyện kể ra có cũng sẽ làm cho đọc giả xa gần không cầm được nước mắt intra muros et extra?
Nhưng bạn sống xa cách Paris thông cảm được câu chuyện này chăng? Điều đó không chắc. Những đặc tính của “Cảnh đời” (Scènce de la vie privée) này mang nặng màu sắc địa phương mà chỉ những dân ở giữa đồi Montmartre và vùng Montrouge, ở cái thung lũng nổi danh vì đầy vôi gạch lúc nào cũng sắp sụp đổ và đầy những rạch bùn đen. Cái thung lũng đầy những đau khổ thực sự, những vui mừng thường là giả tạo, cái thung lũng đã hằng bị náo động ghê gớm, đến nỗi chỉ có chuyện gì thật quá lố mới có thể gây được ở đây một cảm xúc lâu dài. Nhưng thỉnh thoảng cũng có những nỗi đau khổ mà do sự quy tụ của tệ tập và đức hạnh đã làm cho thành lớn lao và nghiêm trọng: trước những cảnh huống ấy, lòng ích kỷ và quyền lợi đều trăm lại và thương cảm; nhưng sự khích động ấy chỉ như một quả ngon được nhai nuốt mau lẹ. Chiếc xe của văn minh, chẳng khác chi chiếc xe chở tượng Thần ờ thành Jaggernath (1), chỉ chậm tiến đôi chút vì có một mảnh tim khó nghiến hơn chững tim khác đã làm kẹt bánh thần xa. Và chính người cũng sẽ làm như thế, người là kẻ đang cầm cuốn sách này trong bàn tay trắng, là kẻ đang chễm chệ trên chiểc ghế bành êm dịu, và người cũng tự nhủ thầm: “Cái này có lẽ cũng tiêu khiển ta được đây!”. Lúc đã đọc xong những nghịch cảnh âm thầm của ông già Goriot, người sẽ ăn ngon cơm; còn lòng người không chút rung cảm, người chỉ quy tội cho tác già đã nói quá, hoặc đã thi vị hóa câu chuyện. Ẩy, nhưng người hãy biết cho rằng tấm thảm kịch xảy ra đây không phải là chuyện bịa đặt hay là một tiểu thuyết. Tất cả đều có thật (2), thật đến nỗi ai cũng có thể nhận thấy từng chi tiết ở ngay mình, có lẽ ở ngay nội tâm mình.
 
Ngôi nhà dùng làm ký túc xá thuộc quyền sở hữu của bà Vauquer. Nhà ở dưới dốc Đường mới Sainte Genevière, ngay chỗ con đất uốn thấp xuống để rẽ qua đường Cái Ná một cách rất đột ngột và rất gắt, đến nỗi ngựa ít lên xuống con đường đó. Trường hợp này đã làm thuận tiện cho không khí êm lặng ở những con đường bị ép giữa khu vực nhà thờ Val de Grâce và đền Panthéon: hai lâu đài đã biến đổi bầu không khí với những màu vàng tung vào đấy, và đã làm mọi vật phải tối tăm vì những mầu sắc chát chúa của các nóc dọi xuống. Ở đây những đá lát đường khô ráo, những rãnh chẳng có nước mà cũng chẳng có bùn, cỏ mọc ven theo các bức tường. Người rất vô tư vào đây cũng phải u buồn như những khách khác, tiếng ồn một cái xe đến đây cũng thành một biến cố đặc biệt, nhà cửa ủ rủ, tường vách sặc mùi một ngục tù. Một người dân Paris lạc loài vào đây chỉ nhận thấy toàn những nhà trọ tầm thường hoặc những trường học, một vẻ nghèo nàn hoặc buồn nản, những người già sắp chết, hoặc những thanh niên đang tươi vui mà phải cặm cụi làm việc. Không một xóm nào ở Paris có thể ghê tởm hơn, hoặc ít người biết hơn. Nhất là con đường mới Sainte Genevière giống như một cái khung bằng hoàng đồng, cái khung cảnh độc nhất hợp với cốt truyện này: để đưa vào cốt truyện và để hiểu, không gì bằng những màu sắc nâu sậm, những lý tưởng trang trọng... cũng như từ bậc một ánh mặt trời tối dần và tiếng hát người đánh xe trầm dần lúc kẻ lữ hành xuống đần Hầm mộ. So sánh đúng thay! Nào ai đoán định được còn gì rùng rợn hơn sự việc này, ai, những kẻ có một quả tim khô héo, hay những kẻ mang một khối óc trổng rỗng?
Mặt tiền của ký túc xá nhìn xuống một cánh vườn nhỏ, và cái nhà đâm thẳng góc ra đường Mới Sainte Genevière, trông hình như cái nhà bị con đường cắt sâu vào vậy. Dọc theo mặt tiền nhà, giữa nhà và vườn có một đám sân sỏi lõm sâu vào và rộng lối một thước (3); trước đám sân là một con đường nhỏ rải cát, hai bên có những cây phong lữ thảo, trúc đào và cây lựu trồng trong những chậu lớn bằng sành màu xanh và trắng. Người ta vào đường nhỏ ấy do một cửa lớn trên có tấm bảng mang chữ: Nhà Vanquer, và ở dưới: Nhà trọ cho cả nam phụ lão ấu. Ban ngày, một cánh cửa song thưa có mắc cái chuông rung kêu rổn rảng để thấy ở cuối con đường nhỏ, trên bức tường đối diện với đại lộ một cái vòm tròn vẽ màu cẩm thạch xanh do tay một họa sĩ trong xóm vẽ. Trong chỗ lõm dưới vòm vẽ ấy, có đựng cái tượng thần Ái tình. Nhìn lớp sơn long của bức tượng, những người thích tượng trưng có lẽ nhận thấy đây là một thần thoại của thứ tình ái ở thành Paris mà người ta đang chữa bệnh khỏi được chỉ cách đó vài bước đường. Trên đế bức tượng, một hàng chữ đã bị xóa hết phân nửa làm cho ta nhớ tới cái thời đã xây dựng kỷ vật trang trí này, do lòng hâm mộ đối với văn hào Voltaire, đã trở về Paris vào năm 1777.
 
Đây là thầy ngươi, bất cứ người là ai:
Hiện tại ông là thầy ngươi, trong quá khứ ông cũng đã là thầy, hoặc ông phải là thầy của ngươi.
 
Tối đến, cánh cửa song thưa được thay thế bằng một cánh cửa kín. Cái vườn nhỏ rộng bằng bề dài mặt tiền cái nhà, ở giữa bức tường phía đường cái và bức tường ngăn cách nhà bên cạnh. Một màn bìm bìm treo dọc phủ kính cả bức tường chung này, và giữa thành Paris đây là một cảnh đẹp làm người qua đường lưu ý: Mỗi tường thành đều cổ phủ một thảm cây nho hoặc cây ăn quả khác với những lớp trái mảnh mai và đầy bụi: những trái cây này là mối lo âu hằng năm của bà Vanquer và là đầu đề của những cuộc trò chuyện của bà và các khách ở trọ. Dọc theo mỗi bức tường có một đường nhỏ dẫn đến một lùm cây điền ma (4) cái tên cây mà bà Vanquer tuy thuộc dòng dõi de Conflans vẫn đọc trại đi, dầu mấy khách trọ cố phê bình về văn phạm cho bà. Giữa hai con đường bên hông là một cái bồn vuông trồng artisô, có kèm những cây ăn quả được cắt cành lá tròn như búp chỉ, chung quanh thêm những cây chua me, rau diếp hay ngò tây. Dưới vòm cây điền ma có để cái bàn tròn sơn màu lục, có ghế để quanh. Những ngày nóng bức, những khách trọ nhà giàu có thể dùng đến cà phê được đều ra ngồi đây uống nhâm nhi trong lúc ánh nắng có thể làm nở được trứng ấp. Mặt tiền cao ba tầng có cả rầm thượng kiến trúc bằng đá cuội và quét bằng thứ màu vàng nó đã làm cho hầu hết những nhà ở cận Paris đều có cái vẻ khả ố làm sao. Mỗi tầng lầu có năm cửa sổ đều lắp kính nhỏ và đều có bỏ mành mành, nhưng chẳng có bức mành nào được cuốn lên giống nhau, thành thử chẳng bức nào ngay hàng với bức nào. Bề sâu nhà có hai cửa sổ, và tầng dưới hai cửa sổ này được trang trí bằng những song sắt có rào lưới. Sau nhà có cái sân rộng độ hai chục bộ (5): trong sân phát hiện một cuộc sống chung rất hòa hiệp giữa những giống lợn, gà, thỏ.., và phía sau có một cái kho để củi. Giữa kho củi và cửa sổ của nhà bếp, có treo một tủ đồ ăn, dưới tủ là dòng nước dơ của chậu rửa bát. Từ sân này ra đường Mới có một cửa nhỏ do đó đầu bếp đổ rác rến trong nhà ra đường và giội nước chùi rửa nơi đây, nếu không có thể phát bệnh ôn dịch.
Lẽ tất nhiên tầng dưới nhà dùng làm nhà trọ và gồm có một phòng ngoài: phòng này được sáng nhờ hai cửa sổ trông ra đường, đi vào do một cửa lớn vừa là cửa sổ. Phòng khách này thông vào một phòng ăn, rồi đến cái chân cầu thang mới đến nhà bếp. Bậc thang bằng gỗ và gạch vuông sơn màu, đánh bóng. Chẳng có gì buồn hơn quang cảnh cái phòng khách đầy ghế bành và ghế dựa bọc vải sọc chen lẫn đường lì và đường láng. Giữa phòng kê một bàn tròn mặt cẩm thạch trang trí bằng hình cái quán trên một tấm sành trắng viền chỉ vàng đã phai hết nửa hình trang trí mà hiện nay đâu cũng có. Nền phòng lát gập ghềnh, tường đóng ván đến ngang lưng người đứng. Phần trên tường còn lại thì dán một giấy sơn vẽ những cảnh chính của truyện Télémaque với các nhân vật vẽ màu. Khoảng giữa hai cửa sổ rào lưới sắt là bức tranh vẽ buổi tiệc của nữ thần Calypso đãi con trai vua Ulysse (6). Trong bốn mươi năm trường, bức vẽ đã gợi bao nhiêu lời chế giễu của bọn thanh niên ở trọ: tự kiêu ngạo bữa ăn mình, bọn này vẫn tưởng đang ở một địa vị cao sang hơn cảnh hiện tại mà sự nghèo khổ đã buộc họ vào. Lò sưởi được trang trí bằng hai độc bình cắm đầy hoa giả đã cũ rích và được bọc lồng lại, ở giữa là một đồng hồ bằng cẩm thạch màu xanh nhạt rất xấu xí. Lòng lò sưởi lúc nào cũng sạch sẽ chứng tỏ là lò chỉ được đốt lửa vào những cơ hội lớn. Phòng thứ nhất này để xông ra một mùi mà trong ngôn ngữ không có danh từ nào diễn tả được, và có lẽ phải gọi nó là cái mùi nhà trọ. Đây là mùi của một phòng hay đóng cửa, mùi mốc, mùi ôi; lạnh lẽo ẩm iu ngửi thấy ngay ở mũi, thâm nhập vào cả áo quần, mùi của một phòng người ta mới ăn cơm, hôi mùi chén bát, mùi một phòng để đồ ăn, mùi một nhà thương thí. Cái mùi có lẽ diễn tả được nếu người ta sáng chế được một phương pháp để đo lường được số lượng yếu tố và buồn nôn của hơi đờm dãi và đặc biệt của mỗi người ở trọ, trẻ hay già. Ấy thế mà mặc dầu có những cái ghê tởm tầm thường ấy, và nếu ta so sánh với cái phòng ăn kề cận đó, ta lại cho cái phòng khách là trang nhã và thơm tho như một phòng khuê. Phòng ăn có vách hoàn toàn lót gỗ nguyên trước có sơn một màu mà bây giờ không còn nhìn ra màu gì nữa, màu ấy đã thành cái nền trên đó cát bụi chồng chất thành lớp vẽ nên những hình kỳ lạ. Những tủ chén bát trơn nhớt dựa tường, trên tủ bày những bình nước sứt mẻ, lu mờ, những tấm sắt tây tròn có vân, mấy chồng dĩa bằng sành dầy có viền xanh, chế tạo tại Tournal. ở một góc để một cái thùng có nhiều hộc số để đựng khăn lau lốm đốm dơ hay đỏ màu rượu vang, của những người ở trọ. Lại có những thứ bàn ghế bất hủ, đâu đâu cũng phế bỏ nhưng được đặt tại đây như những di vật của nền văn minh được đặt tại Nan y viện (7). Người ta còn có thể thấy một phong vũ biểu được đem ra lúc mưa, những tranh ảnh ghê gớm làm hết muốn ăn, cái nào cũng để trong khung gỗ sơn đen có chỉ vàng; một đồng hồ treo bằng đồi mồi khảm đồng; một lò sưởi màu lục, những cây đèn dầu mà dầu và bụi trộn lẫn nhau, một bàn dài trải tấm vải sơn, nhờn mỡ trên ấy một trú sinh nghịch ngợm đã lấy ngón tay viết tên lên như đã dùng một mũi sắt nhọn, những ghế dựa khập khễnh, những tấm đệm cói chỉ trải ra mà không lúc nào hưởng những lồng ấp có lỗ đã bè, bản lề lật ra, gỗ đã đen thui. Muốn giải rõ đồ đạc ở đầy đã cũ kỹ đến bậc nào, đã lũng, mục, lung lay, sứt bể, cụt tay dơ dáy, què quặt, gần tàn phế hấp hối... thì phải làm một bài miêu tả làm quá chậm câu chuyện, và những người gấp nghe chuyện không thể tha thứ. Gạch lát vuông đỏ thì bị vạch đường vì sự lau chùi hay vì những lúc tô màu. Tóm lại, nghèo khổ ngự trị ở đây, không chút thi vị, một nghèo khổ tằn tiện, cô đọng, xơ xác. Nếu cảnh nghèo ở đây chưa có bùn lầy, thì cũng đã có những vết dơ, nếu nó chưa có áo lũng, giẻ rách, thì nó cũng sắp đồ ra thối mục.
 
Căn phòng này hoàn toàn sáng lạn vào lúc bảy giờ sáng, lúc con mèo của bà Vanquer dậy trước chủ nó nhảy lên các tủ đồ ăn, đánh hơi sữa trong những tô có dĩa đậy, và lên tiếng gầm gừ. Ngay sau đó bà chủ xuất hiện với cái mũ ren trên đầu, với một vành tóc giả treo lủng lẳng vụng về ở dưới. Bà ta kéo xà lệt một đôi dép méo mó. Khuôn mặt bì dày dày, mập mạp, ở dưới nổi lên một cái mũi mỏ keo; hai bàn tay nhỏ nhắn, múp míp, thân hình bụ bẫm như con chuột ở nhà thờ, áo lót quá dày và phồng phềnh lên, tất cả hình ảnh này rất phù hợp với căn phòng đầy mùi khốn đốn, chứa một không khí đầu cơ, trong ấy bà Vanquer biết thở mùi nồng thối, không chút gì ghê tởm. Vẻ mặt bà tươi tắn như buổi gió lạnh đầu tiên của tiết thu, đôi mắt nhăn nheo của bà đi từ vẻ nụ cười bắt buộc của vũ nữ đến vẻ cau có của viên thu ngân chiết khấu... tóm lại là cả con người bà giải thích cho cái nhà trọ, cũng như cái nhà trọ ám tàng con người của bà. Ngục tù không thể tồn tại được nếu không có tên ngục tốt, người ta không thể tưởng tượng có thể có cái này mà không cái kia. Vẻ phì nộn xanh xao của người đàn bà thấp bé này là kết quả của lối sinh hoạt kia, cũng như bệnh đậu lào là quy kết của bể khí một bệnh viện. Cái váy lót bằng len đan của bà ló dài hơn cái váy ngoài may với một áo dài cũ mà lớp bông lót lòi ra do những đường nứt nẻ của đường vải rách, cái váy này là một hình ảnh thu gọn của phòng khách, căn phòng ăn, cái vườn nhỏ, và báo trước cái nhà bếp, làm thấy trước những khách trọ ra thế nào rồi.
Lúc bà chủ có mặt, quang cảnh thật là hoàn mỹ, bà Vanquer tuổi lối năm mươi, bà giống như mọi người đàn bà khác đã chịu đựng đau khổ. Mặt bà lờ đờ, bộ bà ngây thơ như một mụ môi dong làm bộ tức giận để đòi hoa hồng thêm, nhưng vẫn sẵn sàng làm hết mọi sự để số phận mụ được êm dịu hơn, sẵn sàng bán cả Georges hay Pichegru nếu còn một Georges hay một Pichegru để bán. Tuy vậy, bà là một người tốt, các người ở trọ nói vậy, và ai cũng tưởng bà là nghèo, vì ai cũng nghe bà kêu rêu ho hen như họ. Còn ông Vanquer trước kia thẽ nào? Bà không lúc nào phân giải về người quá cố. Tại sao ông ta mất hết của cải? Bà chỉ trả lời: “Trong những tai nạn”.
Ông ta cư xử với bà không tốt, chỉ lưu lại cho bà cặp mắt để khóc, ngôi nhà này để sinh sống, và cái quyền không thương hại một nghịch cảnh của ai, vì theo bà nói, bà đã chịu đựng tất cả những gì người ta có thể chịu đựng được. Nghe tiếng chân bà chủ đi lắc nhắc, mụ Sylvie béo, người làm bếp lật đật dọn ăn sáng cho khách trọ.
 
Thường các khách ngoại trú chỉ ăn bữa cơm chiều và trả ba chục quan mỗi tháng. Lúc bắt đầu xảy ra câu chuyện kề đây, nhà trọ có bảy nội trú. Tầng lầu nhất có hai phòng đẹp nhất. Bà Vanquer ở phòng nhỏ, còn phòng kia thuộc quyền sử dụng của bà Couture, quả phụ của một ủy viên Chủ chi Cộng hòa Pháp quốc. Bà này cũng ở với một thiếu nữ rất trẻ tên là Victorine Taillefer mà bà xem như con đẻ. Hai vị này trả một ngàn tám trăm quan tiền ăn ở mỗi năm. Hai phòng trên lầu hai do một ông già tên là Poiret ở một phòng, còn phòng kia có một người đàn ông độ bốn mươi tuổi trọ: Ông này tên là Vautrin, mang một bộ tóc già đen có râu mép nhuộm và tự xưng là một cựu thương gia. Tầng ba có bốn phòng thì hai phòng cho trọ: một phòng là cô gái già tên cô Michonneau, phòng kia do một người trước kia làm bún và sợi mì ở và được gọi là ông già Goriot. Hai phòng còn lại để tiếp những con chim qua đường, những sinh viên nghèo nàn chỉ có thể trả bốn mươi lăm quan mỗi tháng vừa ăn vừa ở như ông già Goriot và cô Michonneau. Nhưng bà Vanquer không mấy thích sự có mặt của các nhân vật này và chỉ nhận họ lúc nào không có khách nào hơn vì các người này ăn bánh mì nhiều quá! Hiện giờ, một trong hai phòng ấy thuộc quyền một thanh niên từ vùng Angoulême đến Paris, để học Luật và nhờ gia đình chịu đựng nhiều thiếu thốn mới gửi cho mỗi năm được một ngàn hai trăm quan tiền.
 
Eugène de Rastignac, tên người sinh viên, là một trong những thanh niên do hoạn nạn buộc phải học hành: họ đã hiểu từ tuổi măng sữa tất cả hy vọng cha mẹ họ đặt nơi họ, và họ đang xây dựng một số phận đẹp đẽ bằng cách tính toán phạm vi học nghiệp của họ và làm cho sự học hỏi của họ thích hợp trước với trào lưu tương lai của xã hội, hòng sẽ là những người đầu tiên được lợi dụng bóp nặn cái xã hội này.
Nếu không có sự quan sát tò mò của chàng thanh niên này, nếu không có sự khéo léo của chàng để có mặt tại các khách thính ở Paris, thì câu chuyện này đâu có được những màu sắc trung thực nhờ trí sáng suốt và ước vọng của chàng được thấu hiểu những bí ẩn của một trạng huống khủng khiếp, một trạng huống mà những người đã gây ra cũng như người phải chịu đựng đều giữ gìn che đậy giấu giếm.
 
Phía trên tầng lầu ba, là cái sân thượng để phơi áo quần và hai buồng nhỏ làm chỗ ngủ cho tên lao công Christophe và mụ bếp béo Sylvie. Ngoại trừ bảy người khách trọ nội trú, bà Vanquer, năm hơn bù năm kém, có thêm tám sinh viên trường Luật hoặc trường Thuốc, và hai hay ba người ở trong xóm, cùng đến ăn cơm buổi chiều thôi. Phòng ăn chứa mười tám người, nhưng cũng có thể nhận đến hai mươi người. Nhưng buổi sáng chỉ có bảy người khách trọ ở đây, làm buổi họp để ăn sáng ở đây có vẻ một bữa ăn gia đình. Mỗi người đêu đi dép xuống đấy, phê bình tâm sự với nhau về cách ăn mặc hay vẻ mặt bọn ngoại trú, về những sự việc đã xảy ra buổi tối hôm trước, họ nói chuyện với nhau có vẻ thân mật tin cậy nhau.
Bảy khách trọ này là con cưng của bà Vanquer. Cách săn sóc và cư xử với mỗi người đều được đo lường tinh xác như một nhà thiên văn, tùy theo giá biểu tiền trọ của từng người. Tất cả các khách trọ đều được vị nể. Hai khách ở tầng hai chỉ do ngẫu nhiên quy tụ tại đấy trả bảy mươi hai quan mỗi tháng. Giá rẻ này chỉ thấy ở xóm Saint Marcel khoản giữ nhà Hộ sanh (8) và Nhà Thương thí (9), và chỉ có nhà trọ bà Vanquer là ngoại lộ. Giá tiền chứng tỏ rằng các khách trọ đều ở trong cảnh khốn đốn biểu lộ ít hoặc nhiều ra bề ngoài. Vì vậy cảnh thê lương trong nhà lại hình dung lại trên áo quần tơi tả của khách trọ. Đàn ông mặc những áo dài không ai còn đoán ra được là màu gì nữa, giầy mang thì chẳng khác gì những thứ giầy vất ở xó đường tại các phố sang trọng, áo mặc trong đã sờn, tất cả áo quần ấy đều chỉ còn cái hồn của y phục. Đàn bà thì mặc áo dài cũ rích, nhuộm lại hoặc phai màu mang đồ ren vá víu, những bao tay dùng lâu đã láng bóng, những cổ áo phồng đã ngả màu nâu, những khăn choàng đã xơ xác. Nhưng đầu áo quần như thể, những thân hình của các khách trọ rất tráng kiện, những thể chất đã chống chọi với bao nhiên bão tố ở đời với những vẻ mặt lạnh lùng, sắt đá, li nhẵn chẳng khác gì những đống tiền ngụy hết ăn. Các khách trọ ấy làm cho người ta cảm đoán những thảm kịch đã diễn ra hoặc đang tiếp diễn không phải những thảm kịch trình bày dưới ánh đèn sân khấu, giữa tranh cảnh tô vẽ, mà những tấn thảm kịch câm mà sống thực, những thảm kịch lạnh lùng mà làm rúng động nồng nhiệt cả tâm can, những thảm kịch liên tục.
 
Có gái già Michonneau giữ mãi trên cặp mắt lờ đờ, mệt nhọc của cô một tấm vải xanh che đầy cáu bẩn, có viền một thứ dây đồng mà một thiên thần thấy cũng phải kinh hoảng. Khăn trùm có những tua leo teo hình như phủ một bộ xương, vì cái hình thù được che lên đầy những góc khến. Không biết chất a-xít gì đã làm cho con người ấy tiêu mòn hết những hình dáng một phụ nữ và trước kia cô ta có lẽ cũng đẹp đẽ xinh xắn? Vì những tệ tập chăng, hay vì sầu buồn, vì tánh gian tham? Vì cô đã quá yêu ai? Vì cô là một gái buôn son, hay một nữ giang hồ? Hiện cô đang sám hối cho một tuổi trẻ ngạo mạn đầy lạc thú bằng một cảnh già mà mọi người đều tránh? Cái nhìn trắng dã của cô làm người ta phát lạnh, bộ mặt cằn cỗi của cô như dọa nạt ai đây. Giọng cô nói rè rè như tiếng ve sâu kêu trong bụi rậm ở những buổi đông về. Cô ta kể lại đã săn sóc cho một ông già có bệnh ở bọng đái, bị con bỏ rơi vì tưởng ông ta không tiền, Ông già ấy đã để lại cho cô một lợi tức chung thân, lâu lâu lại bị kẻ thừa kế của ông tranh chấp và cô thường bị họ nói xấu. Tuy tình dục đã tàn phá mặt mày cô, nhưng người ta vẫn còn nhận thấy dấu vết của vẻ trắng mịn trên da thịt cô, làm cho người ta có thể nghĩ rằng thân hình cô còn giữ được phần nào sắc đẹp của cô.
 
Ông Poiret là một thứ máy. Thấy ông ta trườn dài tới giống như cái bóng xám dọc đường một vườn Bách thảo, đầu trùm một mũ kết mém cũ, tay cầm không muốn vững một cái gậy có cái ngà bằng ngà đã vàng, hai vạt áo không che hẳn cái quần cụt hình như trống rỗng, còn hai ống chân mang vớ xanh run run như chân một người say rượu, để lòi một áo gi-lê trắng dơ và tấm vải thô che ngực đã co rúm không dính hẳn vời cái cà vạt buộc quanh một cái cồ gà trống tây,... nhiều người tự hỏi rằng cái hình ảnh ba Tàu ấy có thực là thuộc giống dũng cảm của con cháu Japhet (10) đang nhởn nhơ trên đại lộ Ý quốc chăng? Không biết khổ công gì đã làm cho ông ta bị cằn cỗi như vậy? Tình dục nào đã làm cái mặt củ hành của ông ta nhuộm màu nâu sẫm mà nếu được hoạt họa lại chắc không ai tin là có thật. Trước ông ta đã làm gì? Có lẽ ông làm việc ở bộ Tư Pháp, trong cái văn phòng nhận những báo cáo trực tiếp của bọn đao phủ thủ, những bản kế toán về những màn đen cho các vụ giết, tiền mua cám cho thúng hứng đầu người (11), mua dây buộc dao?(12) Hay ông ta đã làm việc thu ngân ở một lò sát sinh, hoặc phó thanh tra của sở Vệ sinh? Tóm lại thì con người này hình như là một con lừa của cái máy xay xã hội to lớn này, một người đã làm công việc cho người khác hưởng mà cũng không biết người hưởng là ai, một cái trục chịu cho những khổ cực và nhơ nhuốc của công chúng xoay quanh, tóm lại là một người mà lúc ta nhìn thấy, ta phải nói “Vậy mà phải cần những người như vậy”. Thành phố Paris diễm lệ có biết những bộ mặt xanh xao vì những đau khổ, tinh thần bay thề chất ấy. Nhưng thành Paris là một biển cả. Hẳn thả thử dây đo xuống xem, chẳng lúc nào ta biết được cái tầm sâu nó là bao nhiêu. Ta thử rảo quanh cho hết cái độ thị này, ta hãy tả cảnh nó đi: dẫu ta đi quanh bao nhiêu, mô tả cẩn thận bao nhiêu đi nữa, dẫu những kẻ thám hiểm trên mặt biển này đông bao nhiêu chăng nữa, cũng vẫn còn có chỗ chưa ai động đến, một sào huyệt chưa ai biết, những cành hoa, những hạt châu, những quái vật, hoặc một cái gì phi thường mà những nhà văn tìm tòi lặn lội vẫn bỏ quên. Nhà trọ Vanquer là một trong những quái trạng kỳ lạ đó.
 
Có hai bộ mặt trái ngược hẳn với đám khách trọ và những người quen biết, tới lui ở nhà này. Cô Victorine Taillefer, dầu nước da trắng bệnh hoạn của cô giống như da những thiếu nữ bị bệnh dải hoàng và cô cũng ở trong cái tình trạng đau khổ chung đã đắp thành cái nền của bức tranh ở đây bằng một màu sắc luôn luôn buồn tẻ, bằng một thái độ ngượng ngùng bằng một vẻ nghèo nàn yếu ớt, tuy nhiên mặt cô ta không già cỗi, cử động nhanh nhẹn, giọng nói nhẹ nhàng.
 Thiếu nữ khốn đốn tựa như một cây nhỏ mà lá đã vàng úa, người ta mới đem trồng ở chỗ đất không hợp. Vẻ mặt đỏ hoe, bộ tóc vàng hung, tấm vóc quá mành..., những cái ấy hình dung đúng cái dáng điệu duyên dáng mà các thi sĩ cận đại tìm thấy trong những tượng nhỏ của thời Trung cổ. Cặp mắt đen xám của cô biễu lộ một tánh tình khoan hậu, một nhẫn nại của tín đồ Cơ đốc giáo. Áo quần giản dị, rẻ tiền, để lộ những hình dáng tươi trẻ. Người cô rất xinh xắn do sự kết hợp và nếu cô sung sướng, chắc sắc đẹp cô thật mê hồn: hạnh phúc là nguồn thơ của phụ nữ, cũng như phấn sáp là đồ trang sức của họ. Nếu một đám khiêu vũ vui vẻ phản chiếu những nét hồng trên mặt tái nhợt kia, nếu những êm dịu của một cuộc đời thanh lịch làm đầy đặn và tô son cho hai má đã hơi lõm kia, nếu ái tình làm tươi lại cặp mắt buồn rượi kia, cô Victorine có thể sánh với những thiếu nữ xinh đẹp nhất. Tiểu sử của cô có thể làm đề tài cho cả một cuốn sách. Cha cô tự cho mình có lý để không nhìn nhận cô, từ khước không để cô ở cạnh ông, chỉ cho cô số tiền sáu trăm quan mỗi năm, sắp đặt của cải để sau này chỉ con trai được thừa hưởng. Mẹ cô là bà con của bà Couture, và đã chết tại nhà bà vì tuyệt vọng, nay bà Couture săn sóc cô như con đẻ bà vậy. Khốn thay, quả phụ của ông ủy viên chi phó trong quân đội Cộng hòa cũng chỉ có dự tặng của chồng để lại và số tiền quả tuất của bà. Một ngày kia bà có thể phó mặc cho đời một thiếu nữ khốn đốn vô kinh nghiệm, vô tài sản. Giờ đây, mỗi chủ nhật bà đều dẫn Victorine đi lễ Nhà Thờ trong mười lăm ngày bà lại dẫn cô đi xưng tội, để may ra cũng làm cho cô thành một thiếu nữ Kinh tín. Bà có lý. Tín ngưỡng đành cho cô bé trung tín này một tương lai: cô vẫn thương cha cô, mỗi năm cô vẫn đến nhà ông để đem lời xá miễn của mẹ cô lại cho ông, nhưng mỗi năm cô vẫn chạm phải một tấm cửa đóng kín tàn nhẫn.
Trung gian độc nhất của cô là người anh cô, đã bốn năm không đoái hoài thăm cô lấy một lần, và chẳng giúp đỡ cô một đồng nào. Nàng cầu Chúa làm cho cha nàng mở mắt nhìn lại, làm cho tâm của anh nàng bớt sắt đá, và đọc kinh cầu nguyện cho họ, không một lời kết tội. Bà Couture và bà Vanquer không tìm trong tự điển được một đanh từ gì khả đĩ tả được lối cư xử dã man ấy. Lúc nào hai bà nguyền rủa nhà triệu phú đốn mạt kia, Victorine vẫn thốt ra toàn những lòi ôn tồn dịu ngọt, chẳng khác con chim bồ câu bị thương mà tiếng kêu đau đớn còn nói lên những giọng yêu đương,
 
Chàng Eugène de Rastignac có vẻ mặt hoàn toàn của người miền Nam, nước da trắng trẻo, tóc đen, mắt xanh. Dáng điệu của chàng cũng như nghi dung, cách đứng ngồi, mỗi lúc đều chứng tỏ chàng là con trai một gia đình quý phái, mà giáo dục từ nhỏ đã gồm toàn những tập truyền trang nhã. Tuy chàng giữ gìn quần áo, ngày thường chàng đùng toàn áo cũ năm ngoái, nhưng có lúc chàng cũng có thể đi ra với những y phục của một thanh niên phong nhã. Thường chàng chỉ mặc một áo đuôi tôm cũ, một gi-lê xấu xí đeo cái cà vạt đen khổ và thắt cẩu thả của các sinh viên, mang một cái quần cũng theo kiểu ấy và đôi giày ống đã xều đế lại.
 
Giữa hai nhân vật và những người kia, ông Vautrin tức anh chàng 40 tuổi và có râu mép nhuộm, làm mối chuyền quá. Ông ta thuộc hạng người mà người ta thường bảo: “Anh chàng mới phóng túng quắc thước làm sao!” Vai rộng, ngực nở bắp thịt nổi lên, bàn tay dày dặn vuông vức với những đốt có chùm lông rậm và đỏ hoe. Mặt ông ta đã sớm có những nét nhăn nheo biểu lộ một tinh thần cứng rắn phản trái với bộ điệu mềm mỏng dẻo dai của ông. Cái giọng trầm trầm hòa điệu với tính vui nhộn của ông càng làm cho người ta dễ mến. Ông ta tánh hay cười đùa và ân cần giúp đỡ mọi người. Nếu có bộ khóa nào hỏng, ông ta tháo ngay ra, sửa chữa vá víu, bỏ dầu mỡ, mài dũa, lắp lại, nói: “Tôi biết việc này mà!”. Mà việc gì ông cũng biết, việc tàu bè, việc hàng hải, ông biết nước Pháp, ông biết ngoại quốc, ông rành sự việc, hiểu biết người đời thông suốt mọi biến cố, luật lệ, quen thuộc các khách sạn cũng như các nhà tù. Nếu ai than vãn việc gì, ông sẵn sàng giúp đỡ ngay. Đã nhiều lần ông cho bà Vanquer và vài khách trọ mượn tiền. Nhưng những kẻ đã mang ơn ông thì dầu chết cũng không dám quịt tiền ông, vì tuy ông có vẻ hiền từ dễ dãi, ông chỉ nhìn một cái với cặp mắt sâu sắc và quả quyết là ai cũng phải khiếp sợ. Chỉ một cách ông nhổ phẹt nước miếng đã biểu lộ sự bình tĩnh thản nhiên của ông, nó không làm cho ông thụt lùi trước một trọng tội, để thoát ly một tình trạng mập mờ. Chẳng khác một quan tòa nghiêm khắc, con mắt ông hình như soi thấu tột cùng mọi vấn đề, mọi lương tâm, mọi tình cảm. Ông quen thói ăn sáng xong là đi để trở về dùng cơm chiều, rồi chuồn mất cả buổi tối đến nửa đêm mới lại về nhà với bộ chìa khóa bà Vanquer giao cho. Chỉ có ông là hưởng được đặc ân này. Thành thử ông ta rất tử tế với bà quả phụ mà ông gọi là “má” vừa ôm ngang minh bà, một cách mơn trớn ít ai hiểu thấu ý nghĩa! Bà già còn tưởng chuyện ôm xác thân bà là dễ, nhưng chỉ một mình ông Vautrin mới có đôi cánh tay khá dài để ôm siết được cái chu vi nặng nề của bà. Một nét của tánh ông là trả rất rộng rãi giá tiền mười lăm quan một tháng để uống cà phê lúc tráng miệng. Những người ít nhẹ dạ hơn bọn thanh niên bị lôi cuốn trong lối sinh hoạt của thành Paris hoặc ít thờ ơ đối với tất cả những gì không liên quan trực tiếp đến họ hơn những người già ở đây, cũng không lưu tâm nhiều đến cảm tưởng khả nghi đối với ông Vautrin. Ông ta hiểu thấu hay đoán biết công việc của những người ở quanh ông, nhưng chẳng ai thấu triệt được ý tưởng của ông cũng như công việc của ông ta. Dầu ông ta đã đặt cái tử tế bề ngoài của ông ta, sự ân cần dễ dãi và cảm tưởng ông ta như một hàng rào giữa ông và kẻ bàng quan, nhưng ông cũng để lộ cái sâu sắc kinh khủng của tánh tình ông ta. Thường chỉ một lời hóm hỉnh của ông hình như để tỏ lộ rằng ông thích chế nhạo luật pháp bài bác xã hội thượng lưu để chứng minh rằng giới này thường tự mâu thuẫn với họ, cũng đã làm cho người ta nghĩ rằng ông ta có điều thù hận với xã hội, và đời ông hẳn có một bí ẩn gì mà ông ta giữ gìn rất kín đáo.
 
Bị tiềm lực của chàng tráng niên tứ tuần kia hay sắc đẹp của chàng thanh niên hấp dẫn mà có lẽ cô không hay, cô Taillefer thường nhìn trộm hai người này, và cũng thầm tư tưởng đến họ. Nhưng hai người đều hình như không để ý đến cô, tuy một ngày kia tình cờ có thể thay đổi địa vị chàng, và nàng có thể trở nên một thiếu nữ giàu sang, vả các khách trọ ở nhà này cũng chẳng ai thất công để tìm tòi xem những hoạn nạn của người này hay người kia nêu ra có thật tình hay giả tạo. Tất cả mọi người đều hờ hững với nhau, mà trong cái hờ hững còn sự ngờ vực lẫn nhau, do tình cảm mỗi người tạo ra. Họ đều biết không thể gì đỡ vớt sự đau phiền của họ và mọi người kể lại với nhau nỗi khổ của mình cũng đã cạn lòi chia buồn lẫn nhau. Tựa hồ như những cặp vợ chồng già họ không còn gì để nói với nhau nữa. Giữa họ đối với nhau chỉ còn những mỗi quan hệ của một cuộc sống máy móc của những bánh xe kéo nhau mà dầu đã ráo khô. Tất cả những người này có thể lúc ra đường đi qua mặt một kẻ mù, hoặc nghe kể một câu chuyện đau khổ mà không chút xúc cảm. Họ có thể nhìn cái chết là một giải pháp cho cảnh bần cùng của họ đã làm cho họ trở thành lạnh lùng sắt đá trước cảnh hấp hối hết sức ghê rợn. Giữa những tâm hồn đau khổ này, bà Vanquer ngự tọa cái viện tế bần tự do này là người hạnh phúc nhất. Chỉ đối với riêng bà, cái vườn nhỏ đây, mà cảnh im lặng và lạnh lẽo, vẻ khô khan và ẩm thấp đã làm thành thênh thang như một đồng hoang, đối với bà cái vườn ấy là cả một cánh rừng vui tươi. Chỉ đối với riêng bà, cái nhà vàng võ và ảm đạm ngậm mùi ten rỉ này là đầy lạc thú. Những ngục tối này thuộc quyên sở hữu bà. Bà ta nuôi những tội đồ đã sa vào những hình phạt chung thân này, và đối với họ bà đã thực hành một uy quyền được tôn kính. Những kẻ khốn nạn này chẳng tìm đâu ra ở Paris, những món ăn tốt lành và đầy đủ và một phòng trọ mà họ đủ quyền sửa sang, nếu không được thanh nhã và phương tiện thì cũng sạch sẽ và vệ sinh. Nếu bà có tỏ ý bất công rõ rệt với người nào thì nạn nhân cũng đành chịu đựng không một lời than vãn.
 
Chú thích :
 
(1) Jaggernath hoặc Djaggemath cũng có tên là Puri là một thành phố của Ấn Độ, trong tiểu bang Orissa, trên bờ vịnh Bengale. Đô thị này là nơi thiẽng liêng cùa người Ấn, vì ở đây có một đền thờ thần Vichnou (hay Vichnou: thái dương thần) tượng thần rất lớn có 5.000 tăng lữ giữ việc tế lễ. Mỗi năm có hàng trăm ngàn người đến hinh hương. Mỗi lúc tế lớn có xe kiệu rước tượng thần Vichnou đi quanh thành phố. Ngày xưa nhiều tín đồ cuồng nhiệt đến nỗi lăn mình giữa đường cho tlần ca cán lên để được chết theo thần (chú thích cùa dịch giả).
(2) Trong bản chính, tiếng Anh: All is true
(3) Thước xưa chừng 1,949 mét
(4) cây cô-kê
(5) một bộ (pied) bằng 30,48 cm (chú thích của người dịch)
(6) Télémaque: con trai vua Ulysse
(7) Viện dưỡng lão
(8) Lo Bourbe: tên gọi tu viện Port Royal sau được sứa thành nhà hộ sinh. Bây giờ gọi là Nhà Hộ sanh (La Maternité). (Dịch giả chú thích theo Larousse du 20è s.)
(9) La Selpêtrière: Nhà Thương thí cho các phụ nữ già hoặc điên v.v...
(10) Con thứ ba của ông Noé, sau Sem và Chem, được lãnh phần thừa tự ở châu Âu và Tiểu Á. Thuỷ tổ giống người da trắng (chú thích của người dịch)
(11) Đầu người bị xử chém
(12) Dao máy chém