Phần XI -Chương 1
Ngôi chùa đổ

Thời nhà Trần, ở phía nam kinh thành Thăng Long có một khu hồ lớn gọi là Đại Hồ.
Nó còn to hơn cả Tây Hồ. Thực ra, đó là một hệ thống những hồ ăn thông với nhau gồm nhiều nhánh, ở giữa lại có những đảo đất cao trồi lên. Tuỳ theo hình thể hoặc địa danh từng nơi, có đoạn gọi là hồ Phượng Hoàng, có đoạn là hồ Bích Câu, có đoạn gọi là đầm Vạc, đầm Sậy... Thời đó, hồ khá nổi danh, vì trong khu vực ấy có Quốc Tử Giám ở vùng trên và Từ Thiên Giám ở vùng giữa. Vùng dưới Tư Thiên Giám, khu hồ rộng phình ra, quanh năm hơi nước bốc lên, mặt hồ lúc nào cũng phủ hơi sương. Chung quanh hồ, những làng rải rác mọc lên đây đó. Ở vùng hồ phình rộng có một chỗ cây cối mọc um tùm, những bụi tre lưu niên suốt ngày đêm đung đưa cót két, xào xạc. Quãng hồ ấy, mặt nước mọc đầy chỗ thì hoa súng, chỗ thì sậy lác. Vắng người, lại cận kề hồ nước nên cò vạc kéo về trú ngụ, nhất là vạc, vì vậy dân gọi vùng đó là đầm Vạc.
Bên bờ đầm Vạc có một xóm rất đặc biệt, xóm Đà La. Một cái tên rất Chiêm Thành, bởi vì nơi đây trú ngụ những người tù binh Chiêm Thành từ đời nhà Lý, trải qua mấy trăm năm, thôn Đà La đã biến âm thành làng Già. Cũng như mọi làng Việt, làng Già có một ngôi chùa tên gọi chùa Tiên. Tên như vậy, vì người đến vãn cảnh chùa thấy nó đẹp như một động tiên. Nghề tạc đá người Chiêm mang từ vùng Chiêm Động ra vẫn được lưu truyền. Những người thợ đá làng Già đã đục nên những con hươu, con voi, con hổ... và đặt trong vườn chùa dưới những bóng cây, cạnh những bụi hoa và bên bờ con ngòi thông ra đầm Vạc, tạo thành một phong cảnh kỳ tuyệt khác hẳn mọi ngôi chùa. Sư cụ chùa Tiên là một nhà sư du phương từ phương Nam tới. Ông gầy khô, ngày chỉ ăn một bữa, có tài chữa bệnh cho mọi người nhưng không bao giờ lấy công.
Năm Tân Hợi (1371), Nghệ Hoàng mới lên ngôi, Chế Bồng Nga từ Nam tràn ra đốt phá Thăng Long lần thứ nhất. Sau khi giặc rút, vua hỏi quần thần:
- Ta nghe nói trong dân gian có người tiếp tay cho Chiêm Thành.
Quý Ly tâu Với Nghệ Hoàng.
- Từ thời Lý đến giờ, ta với Chiêm Thành xảy ra nhiều cuộc chinh chiến. Những tù binh, vũ nữ người Chiêm ta bắt được nay đã hoà vào dân cư. Những kẻ đó không nói làm gì. Nhưng vẫn có những người Chiêm hoặc là người buôn bán, hoặc là những du tăng khất sĩ vẫn thường xuyên qua lại nước ta. Những kẻ đó ở những trấn, lộ xa sẽ chẳng sao, nhưng ở kinh đô Thăng Long thì ta cần chú ý, vì quân do thám có thể trà trộn lẻn vào...
Đô hộ phủ Thăng Long do đó rà soát lại tất cả những người gốc gác Chiêm Thành. Sư cụ Đà La chùa Tiên bị xét hỏi. Ông trả lời;
- Bần tăng là người tu hành, suốt đời chỉ làm Phật sự, lòng chẳng chút dinh dáng tới việc trần tục.
- Dân chúng nói hàng ngày ông vẫn đi từ làng này qua làng khác, phường này qua phường khác, phải chăng để dò xét tình hình quan quân?
- Oan cho bần tăng, bần tăng chỉ đi chữa bệnh cứu người. Cũng có lúc chỉ đi khất thực.
- Có những người Chiêm lạ mặt thỉnh thoảng ngủ tại chùa?
- Họ là người buôn bán trầm hương... có cả người buôn voi, thấy chùa có sư người Chiêm... vì tình đồng hương nên khi ra buôn bán có ghé thăm chơi.
Rủi cho ông sư, người ta cho rằng kẻ buôn voi đó chính là quân do thám người Chiêm, vì vậy ông sư chùa Tiên bị ghép vào tội chết.
Ngôi chùa Tiên từ đó trở thành hoang phế. Hoang phế nhưng lúc nào cũng nhộn nhịp đông đúc. Đám cư dân đầu tiên đến nương nhờ cửa Phật là lũ cò vạc. Sự thực, người đầu tiên rủ đám chim đến là sư cụ Đà La. Hồi chưa bị chết thiêu, sư Đà La một đêm đang tụng kinh bỗng nghe thấy một tiếng chim kêu thảm thiết ngoài vườn chùa. Tụng xong, sư cụ cầm đèn ra vườn tìm, sư thấy một con vạc lớn bị một con chim đêm hung dữ nào đó đánh bị thương xoã cánh từ ngọn tre rơi xuống đất. Sư là một lương y giỏi, đã chăm sóc lành vết thương cho con chim, tuy vậy nó còn đi khập khiễng. Một đêm, cụ thả con vạc về với trời đất. ít lâu sau, một đêm cụ lại nghe thấy tiếng vạc ngoài vườn. Cụ cầm đèn ra, con vạc khập khiễng xưa đã trở về. Lần này nó rủ theo một con vạc khác. Con này chắc là chồng, con chim đực như vẫn sợ hãi, nó đậu ở ngọn tre và kêu xáo xác. Cụ bảo:
- Đừng sợ! cứ về đây mà ở. Đất này là đất Phật.
Đôi vạc đẻ ra một lũ vạc con. Thấy gia đình nhà vạc được sống yên ổn, dần dần lũ chim trời rủ nhau đến, càng ngày càng đông đúc thêm. Vườn chùa trở thành vườn chim. Hôm sư Đà La bị chết thiêu, ba ngày liền, lũ chim xáo xác bay trên bầu trời vùng chùa.
Thiếu bóng sư cụ, mấy sư bác và chú tiểu cũng chuyển đi ở chùa khác; ngôi chùa hoang phế hoàn toàn. Sự vắng lặng đã khuyến khích lũ chồn cáo đến chiếm lĩnh. Chứng đào hang hốc trong các bệ thờ. Những đêm tĩnh mịch chúng nô đùa đuổi nhau trên mái làm sụt lở từng mảng, để nước mưa luồn vào phá hoại thêm.
Chúng trèo lên cây cao bắt chim non làm vườn chim xơ Những cư dân cuối cùng đến ở là những con người lang thang, những anh học trò nghèo đến Thăng Long học tập, những nô tỳ trốn chủ hoặc được giải phóng, những kẻ ăn mày, những người lỡ độ đường, thậm chỉ cả bọn trộm cướp tạt qua... Có bóng người, lập tức lũ chồn cáo chuồn ngay, trả lại sự yên lành cho lũ chim và những con người. Người lang thang vốn không thích nhiễu sự, không thích ai nhòm ngó, họ không muốn đàn chim xáo xác, kéo sự chú ý đến ngôi chùa, vì vậy người và chim sống rất hoà thuận. Vườn chim từ đó lại đông đúc như sinh thời sư cụ Đà La. Kể từ ngày Chế Bồng Nga cướp Thăng Long lần thứ nhất, đã gần ba mươi năm; thời gian không người chăm sóc dài như vậy đã đủ làm ngôi chùa trở thành tiều tuỵ biết nhường nào.
Một nho sinh tên là Phạm Sinh đến Thăng Long làm nghề viết mướn, nghe mách có ngôi chùa hoang, bèn tìm đến trú ngụ. Nhìn thấy cảnh hoang phế, đôi mắt sáng của anh buồn bã tối sầm lại. Anh thở dài và xắn tay áo dọn dẹp ngôi chùa.
Bước vào nhà tiền điện đã thấy ngay hai pho hộ pháp, ông Thiện ông ác khổng lồ đắp bằng đất sét tô sơn. Hai ông uy nghi đầu sát mái chùa nhìn trừng trừng vào mặt Phạm Sinh.
Phạm đến trước bệ thờ ông Thiện, thắp một nén nhang. Ông khổng lồ râu ba chòm, mắt hiền hậu buồn rầu như cúi nhìn Phạm Sinh. Tay trái ông giơ ra phía trước cầm viên ngọc, như muốn tặng cho người đời. Một luồng sáng tròn như cái cột từ lỗ thủng trên mái dọi xuống, chiếu thẳng vào bàn tay ấy, rồi đâm trúng nơi đầu gối trên vạt áo sặc sỡ vàng son. Chắc nước mưa cũng qua lỗ hổng ấy đã rơi xuống làm lói lở bàn tay, làm rã ra một mảng áo nơi đầu gối. Ông có đau đớn không? Sao mắt ông vẫn dịu dàng như vậy? Phạm thầm nghĩ và chợt nhìn sang ông ác, ông hộ pháp khổng lồ này vẫn rực rỡ vàng son. Ông ta như mỉm cười với pho tượng bạn đã đang dần dần trở nên phôi phai cùng với thời gian.
Ngay ngày hôm sau, Phạm Sinh cắt cỏ, đánh tranh, bịt lại những chỗ đột trên mái chùa Tiên.
Ngôi chùa hình chữ Công. Nhà hậu điện thờ các tổ nhỏ hơn, nên vững chắc hơn, nó hầu như không bị phá huỷ. Phạm Sinh dọn dẹp một ngày ròng và ngôi chùa chợt như bừng sáng trở lại. Anh thấy ưng ý, và cảm thấy căn hậu điện trở nên ấm cúng như ngôi nhà đích thực của mình vậy.Chắc chúng ta không quên anh chàng học trò đã gặp gỡ Thiên Nhiên Tăng, Phạm Sư Ôn lúc nhà sư bắt đầu nổi loạn với ba vạn quân du đãng ở lộ Quốc Oai. Người đó chính là Phạm Sinh và cũng chính là con trai ông thày chùa Phạm Sư Ôn và cô nô tỳ cắt cỏ bên bờ đầm năm xưa. Cô nô tỳ sau một tháng ròng giao hoan với nhà sư trẻ cường tráng, thấy trong lòng mình đã đâm hoa kết trái. Cô nô tỳ xinh đẹp từ lâu đã lọt vào mắt ông trại chủ quý tộc Trần Tùng. Kể về dòng dõi, ông là cháu đời thứ bẩy của cụ Trần Liễu. Cụ Trần Liễu là anh ruột cụ Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tôn. Cụ Liễu là cha cụ Trần Hưng Đạo, cụ tính hào hoa phóng đãng. Cụ Liễu một lần Thăng Long bị lụt, chèo thuyền đi chơi. Cụ thấy một cô cung nữ xinh đẹp, liền bắt lại, rồi mây mưa cùng nàng. Cô cung nữ mang thai, vì thế cụ Liễu bị triều thần hạch tội, bị giáng chức. Cụ Trần Thái Tôn muốn cho yên chuyện liền cấp mười mẫu ruộng cho cô cung nữ để cô sinh nở. Cô cung nữ cũng khéo xoay xở nên từ mười mẫu ruộng đã biến thành ba mươi mẫu ở lộ Quốc Oai; và trang trại ấy được truyền tới đời thứ bẩy cho Trần Tùng thì nó đã được mở rộng tới gần trăm mẫu.
Công bằng mà nói, cụ Trần Liễu có cả ưu điểm cả nhược điểm: ưu điểm là sự thông minh, táo bạo quyết đoán còn nhược điểm là tính phóng đãng, quá đa tình. Trí thông minh, và quyết đoán cụ truyền kết cho con trai cả là Trần Hưng Đạo. Còn đứa con hoang với cô cung nữ, ông đại chỉ truyền cho cái tính đa tình dâm loạn. Vì là chúa đất một vùng, có điều kiện thuận lợi nên tính phóng đãng ấy sang đời con đời cháu ở lộ Quốc Oai lại càng phát triển. Chắc người đọc không quên cô quận chúa Trần A Kim trong truyện Hà Ô Lôi (Lĩnh Nam trích quái). Cô quận chúa xinh đẹp goá chồng ấy đã tằng tịu với anh chàng người Chiêm Thành đen như củ súng nhưng đặc biệt hát rất hay và rất cường tráng. Cuộc tình sôi động ấy, thời Trần Dụ Tôn đã làm xôn xao dư luận Thăng Long, đến nỗi được ghi lại thành sách trong cuốn Lĩnh Nam trích quái truyền cho hậu thế. Cô Trần A Kim chính là cô ruột Trần Tùng. Tùng còn có năm anh em trai đều là trại chủ và quan chức ở lộ Quốc Oai. Tùng rất háo sắc, hầu hết nô tỳ trong trang trại đều bắt buộc phải qua tay Tùng.
Hôm ấy Tùng dắt chó đi săn cầy ở đầm Thiên Nhiên. Đến lều vịt, Trần Tùng gặp cô nô tỳ cắt cỏ. Cô bé kia ngẩng đầu lên. Cô chào thế đủ rồi. Cô nô tỳ đang quỳ lạy. từ từ ngẩng bộ mặt nhem nhuốc sợ sệt nhìn ông chủ.
- Cởi chiếc khăn vuông ra. Ôi! Sao đầu tóc lại rối tung, mặt mũi lại đầy bùn.
Bôi bùn vào mặt, để đầu tóc rối bời, là một mưu kế hay của một bà nô tỳ già dậy cho cô để tránh sự dâm loạn của ông chủ. Cô bé cắt cỏ chỉ rửa mặt và chải tóc mỗi khi chiều xuống, để chờ đón ông thày chùa cường tráng của mình. Cô nô tỳ run rẩy khi nhà quý tộc Trần Tùng ra lệnh:
- Xuống hồ rửa mặt ta xem.
Khi bộ mặt trắng hồng với đôi mắt bồ câu đen láy hiện ra, ông chủ cười mỉm:
- Cô đừng sợ! Trông mặt sáng sủa thế này... Người như cô mà phải cắt cỏ ư? Đô quản đâu.. Nhà ngươi cho cô bé này tắm rửa sạch sẽ, phát cho quần áo mới, ngày mai cho chuyển vào làm việc trong nhà chăn tằm...
Cô nô tỳ càng run rẩy hơn. Nhà chăn tằm, đó là nơi ở của những cô gái được ăn sung mặc sướng, hay nói khác đi, đó là nơi ở của bầy thê thiếp của Trần Tùng... Đêm hôm ấy cô nô tỳ bỏ trốn, không kịp một lời báo tin cho Thiên Nhiên Tăng.
Khi Phạm Sư Ôn trốn chùa đi làm giặc ông biết mọi sự đều do Trần Tùng. Việc đầu tiên ông làm khi trở về Quốc Oai là bắt ngay tên chúa quý tộc. Ông không giết mà chỉ cắt phăng bộ “tam sự”. Ông bảo:
- Việc đầu tiên phải làm là cắt bỏ sự dâm loạn của dòng dõi nhà Trần.
Cô nô tỳ trốn thật xa khỏi lộ Quốc Oai, ra trấn Hải Đông, định đi tìm bà nô tỳ già người đã chăm sóc và dậy dỗ cô lúc bé, nay đã được giải phóng, cùng với một ông già khác dắt díu nhau ra vùng biển. Đi ròng rã một tháng trời, một bận cô đói quá vào ăn mày cửa Phật tại một ngôi chùa nhỏ vùng Yên Tử. Thật may mắn cô đã gặp sư cụ Vô Trụ người đã nuôi dạy Thiên Nhiên Tăng khi xưa, sau khi học trò trốn đi làm giặc, ông cũng chuyển chùa ra đây trụ trì. Cô nữ tỳ xin làm tam bảo nô, chăn trâu, cắt cỏ làm ruộng cho ngôi chùa núi. Phạm Sinh được sinh ra ở đây. Sư cụ thấy thằng bé thông minh, dạy cho học chữ. Khác với ông bố Phạm Sư Ôn chỉ phát triển về sức mạnh cơ bắp, Phạm Sinh lại có sức mạnh rất lớn về tinh thần. Cậu bé học đâu biết đấy, ham đọc sách, tham khảo đủ cả Phật và Nho. Một !!!9023_37.htm!!! Đã xem 192526 lần.

Truyện Hồ Quý Ly n ngày nay khi đã là vợ ch Chương 1 Chương 2 Chương 3 Phần II - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Phần III - Chương 1 Chương 2 Phần IV- Chương -1- Chương 2 Chương 3 bạn đồng hành. Ông kiêu hãnh vì sự cô đơn ấy. Thậm chí, ông nghĩ phải có sự cô đơn, ông mới làm nên sự nghiệp ở đời. Thế gian này dễ mấy ai hiểu nổi ông. Nhưng với bà, lại hoàn toàn khác. Ông chưa hề bao giờ nói những chuyện to tát với bà, hầu như bà chẳng biết việc ông làm, nhưng thực ra bà lại rất hiểu ông. Thật nghịch lý! nhưng lại là sự thật, bởi vì bà là một phần của đời ông. Bà là điều ông thiếu, là cái khát khao mà ông không có. Bà là cái mầu trắng mát mẻ luôn tràn vào tâm hồn ông để hoà dịu cái mầu đỏ luôn đêm ngày rừng rực trong ông.
Ôi! Người đàn bà thánh thiện của ông đã ra đi! Bà đã cho ông rất nhiều. Những việc ông làm được, phần nào nhờ bà nên mới có. Ông vật lộn giành giật, bà chẳng trách móc ông. Có lúc ông xé ruột xé gan kẻ thù và xé nát cả tâm hồn mình, bà giơ bàn tay trắng ngần xoa dịu lòng ông. Có lúc ông tàn nhẫn độc ác, bà sám hối thay ông...
Cũng chính vì vậy, hằng đêm ông vẫn đến trước bàn thờ công chúa Huy Ninh, ngồi dưới chân pho tượng đá trắng, để nói chuyện với bà bằng những thì thầm trong tâm tưởng. Có lúc chẳng nói gì, mà chỉ cần nhìn vào gương mặt đá trắng ấy, ông cũng thấy lòng vơi nhẹ. Đêm nay, nhìn pho tượng trắng ngần hai tay giơ ra phía trước như muốn can ngăn ấy, nhìn vào khuôn mặt đá trắng buồn héo hắt và thương xót ấy... Ông mới thấy hết nôi cô đơn của mình mênh mông biết nhường nào! Cứ như thể lòng ông muốn khóc, cứ như thể pho tượng đá trắng kia muốn giục giã cho những giọt nước mắt trong lòng ông tuôn chảy cho vơi nhẹ... song không tài nào được.
“ Ngủ đi! Ngủ đi! Cứ nhắm mắt lại? Hãy quên hết, quên hết đi...” Giọng thì thầm của bà bỗng vang trong lòng ông... như nhiều đêm ông đã gặp. Và người đàn ông hùng mạnh ấy đã gối đầu lên chân pho tượng đá. Ông đi tìm gặp lại bà trong giấc mơ.
--!!tach_noi_dung!!--

Đánh máy: Mỏ Hà Nội - Nguyễn Học
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 4 năm 2007

--!!tach_noi_dung!!-- --!!tach_noi_dung!!-- --!!tach_noi_dung!!--