Dịch giả : Lê Kim
Chương 1
Nguyên bản tiếng Pháp “Nous étions à Dien Bien Phu”,
Nhà xuất bản Presses de la Cité

    
uổi vỡ lòng
Ngày 11 tháng 5 năm 1953, tôi đang đóng quân ở Tây Đức thì nhận được công điện: “Pouget được làm sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Đông Dương”
Từ đó trở đi, tôi được theo tướng Navarre trong các chuyến đi công tác liên tục tại Đông Dương. Tôi được ngồi ngay bên cạnh tướng quân trên máy bay và trong xe ô tô. Trong phòng họp báo cáo tình hình chiến sự có một chiếc ghế dành riêng cho tôi, đặt sát cửa ra vào. Cánh cửa được khép kín ngay sau lưng tôi bên ngoài có treo biển “Họp bàn chiến sự. Tuyệt mật”.
Trong những buổi chiêu đãi chính thức, tôi được báo trước một chỗ ngồi. Nhiều khi vô tình tôi được nghe những lời tướng Navarre bộc lộ từ đáy lòng.
Tôi được cất giữ những hồ sơ mật ngoài bìa ghi rõ “tuyệt đối dành riêng cho Genechef” (tức tổng tư lệnh, viết tắt).
Tại Sài Gòn, tôi sống ngay trong cơ quan Tổng chỉ huy của tướng Navarre. Bàn giấy của tôi trấn ngay phía cửa ra vào. Tướng Navarre cùng ăn cơm với tôi trên một chiếc bàn, giáp mặt nhau.
Giữa đám đông nhân viên các cục, các ban, tôi là người gần gũi tướng quân nhất, có thể nhận xét vị tổng chỉ huy khi ông ngồi lặng lẽ một mình. Tôi cũng là người được chứng kiến một cách bất lực và thầm lặng tất cả những nỗ lực của tướng quân trong công tác miệt mài. Tôi đã theo dõi trên khuôn mặt Đại tướng một khuôn mặt hoàn toàn bộc lộ không cần che đậy trước mắt tôi tất cả cuộc đẩu tranh riêng tư chống lại sự hoài nghi và lo lắng, mà khi đứng trước mặt công chúng ông đã phải che giấu dưới nụ cười làm ra vẻ tin tưởng và những câu chù lạc quan trong những bản thông báo do ông soạn thảo.
Chúng tôi rời Paris đi Tokyo trong cuộc hành trình tới Viễn Đông trên chiếc máy bay mang tên Constellation vào hồi 22 giờ 30 phút cất cánh từ sân bay Orly. Chuyến bay chở rất ít hành khách và chỉ có hai người đáp xuống Sài Gòn là tướng Henri Navarre và viên sĩ quan tùy tùng là tôi.
Tướng Henri Navarre mới chỉ được biết tin được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương được chín ngày. Trong suốt một tuần, ông phải bù đầu rối bận vì những cuộc thăm hỏi tìm hiểu tình hình, nghe những lời khuyên do chính tướng quân yêu cầu hoặc bắt buộc phải nghe. Chỉ tới lúc trên máy bay, tướng quân mới được rảnh rang thoát khỏi những cuộc đón tiếp bạn bè, những người đến cầu cạnh và nhũng cú điện thoại thăm hỏi. Trong máy bay tướng quân ngồi trầm lặng, đầu ngoẹo về một phía, hai ngón của bàn tay phai chống vào má, một động tác quen thuộc giúp ông tập trung tư tưởng.
Bất chợt cô chiêu đãi viên bằng một giọng ngọt ngào báo tin máy bay đang vượt qua đỉnh Núi Trắng. Lúc đó, tướng quân mới chợt bừng tỉnh cơn suy nghĩ. Ông bắt đầu nói chuyện với tôi, nhưng vẫn cứ như nói một mình.
- Số mình thật lắm chuyện bất ngờ. Từ ngày tốt nghiệp trường Cao đẳng quân sự Saint Cyr, sự nghiệp của mình toàn hướng về các chiến trường Đức và châu Âu. Đúng là mình cũng có tham gia các chiến dịch ở Syrie và Ma rốc, nhưng chủ yếu vẫn là ở Alsace và ở Đức. Làm đủ mọi việc: quân báo, tham mưu rồi chánh văn phòng lực lượng Pháp chiếm đóng Tây Đức. Mình đã tưởng sẽ yên vị giữ mãi chức Tổng tham mưu trưởng lục quân khối NATO khu vực Trung Âu.
Thế mà đùng một cái lại được chọn làm Tổng chỉ huy ở Viễn Đông. Quả là không tưởng tượng nổi.
Mình đang được các đồng minh ở châu Âu hiểu rõ và tín nhiệm. Mình cũng đang say mê làn sương mù sông Rhin, cái giá băng vùng châu thổ miền Bắc, vẻ nên thơ của khu rừng Đen trên đất Đức… Thế mà nay lại phải cầm quân trong cái nóng bỏng ở Sài Gòn.
Rồi tướng quân lắc đầu như muốn lộ vẻ khó thông và nói:
- Có lẽ, đến chín mươi phần trăm là mình sẽ ngã gục ở đó mất.
Nói xong câu đó, Đại tướng xoay người nhìn thẳng vào tôi. Thì ra không phải ngài suy tưởng một mình mà là nói chuyện với tôi. Do đó, tôi mới dám hỏi lại:
- Vậy thì, thưa Đại tướng, tại sao ngài lại chấp nhận sang Đông Dương?
Buột miệng xong tôi mới biết thật là một câu hỏi ngớ ngẩn. Thế nào mà chẳng được trả lời một câu chung chung là: “vì nhiệm vụ quân nhân” hoặc “vì vinh dự của trọng trách”. Nhưng tướng Navarre không trả lời ngay. Ông chần chừ, có lẽ đang muốn tìm một câu trả lời nào không có vẻ công thức. Cuối cùng thay cho câu trả lời trực tiếp ông đã kể lại cho tôi nghe cụ thể câu chuyện đã “bị chỉ định sang Đông Dương” như thế nào.
Hồi tháng 5 năm 1953, Đại tướng Henri Navarre đang ở Đức thì nhận được điện thoại của Thủ tướng Réne Mayer từ Paris gọi tới. Hai vị biết nhau từ hồi tướng Navarre làm chánh văn phòng các lực lượng Pháp chiếm đóng Tây Đức và ngài Réne Mayer làm Cao uỷ Pháp phụ trách các vấn đề Đức và Áo khi tướng Navarre chuyển sang chỉ huy một sư đoàn Pháp ở Constantine, Algerie, thì ngài Mayer cũng là nghị sĩ đại biểu tỉnh Constantine thuộc Pháp. Vì vậy đã thân càng thêm thân.
- Thưa tướng quân, theo đề nghị của tôi, ngày mai Chính phủ sẽ họp và ra quyết định cử ngài làm Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương.
Lúc này, tướng De Lattre đã qua đời. Tướng Raoul Salan được cử lên thay cũng đã trở về Pháp từ nhiều tháng nay. Người ta đã tiến cử một loạt các vị tướng khác như Valluy, Morlierès, Magnan, Cherrieres… và nhiều vị nữa, nhưng tất cả đều bị loại bỏ, bởi vì, người thì bị coi là “tả” quá, người lại bị coi là “hữư” quá. Tướng Navarre là người vừa mới được giới thiệu, xếp cuối cùng trong danh sách đề cử. Đúng là khi được báo tin, tướng Navarre đã vin vào nhiều lý do để khước từ, nhưng ngài Thủ tướng vẫn khăng khăng nói:
- Này ông bạn ạ. Nếu tôi báo trước cho ông biết tin này thì… điều đó không phải để hỏi ý kiến ông đâu. Tôi đã quyết định rồi. Tôi biết ông rõ đến mức đủ để hiểu rằng, ông không từ chối một trọng trách đầy khó khăn nguy hiểm như thế này.
Năm đó, tướng Navarre 55 tuổi. Ông đã từng là sĩ quan từ năm 1916, giữa cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhưng, tướng quân vẫn giữ ý kiến, ông chưa được chuẩn bị chút gì cho nhiệm vụ này.
Sở trường của ông, sở thích của ông và cả cuộc đời binh nghiệp của ông đã hướng ông vào các vấn đề thuộc địa cũ kỹ, một căn bệnh bị nhiễm độc do thiếu được chăm sóc đã chuyển thành ung thư.
Bệnh hoại thư đang ngày càng lan đến những tế bào lành của cơ thể. Có lẽ phải cắt bỏ. Tướng Navarre đã nói như vậy với Thủ tướng Mayer và tự coi mình không đảm đương được chức vụ này.
Nhưng Thủ tướng nói:
- Đây không còn là vấn đề thuộc địa nữa. Nhiệm vụ tôi giao phó cho ông không phải là để thiết lập lại chủ quyền của Pháp ở nơi này? Chúng ta đã sa lầy suốt sáu năm trong vụ việc Đông Dương, những tài nguyên quân sự đang kiệt quệ, chính trị đang rối ren. Chúng ta phải tìm ra một giải pháp tháo gỡ trong danh dự. Chính do ông hiểu biết sâu sắc các vấn đề chính trị của châu Âu và chưa biết gì mấy về các vấn đề thuộc địa lại giúp ông nhìn nhận sự việc bằng cặp mắt mới mẻ.
Tôi đề nghị ông đi ngay Sài Gòn sau khi thu xếp xong hành trang, tìm hiểu tình hình tại chỗ rồi trở về báo cáo. Tôi hạn cho ông một tháng. Cần phải hành động gấp.
Trước khi lên đường, tướng Navarre hối hả tìm gặp Thống chế Juin, người kỳ cựu nhất trong quân đội, được coi là bậc lão thành có nhiều kinh nghiệm, có thể đưa ra những lời khuyên tốt. Nghe tướng Navarre giãi bày tâm sự xong, Thống chế Juin thẳng thừng đáp lại như tác phong vốn có:
- Dứt khoát, đây là một cú… gay go cho ông đấy. Nhưng dù sao cũng phải có một người dám tận tụy lao vào.
Tướng Navarre hỏi lại:
- Tình hình quân sự đã tuyệt vọng rồi hay sao, thưa Thống chế!
Thống chế Juin đáp:
- Tôi không thể nghĩ một cách tuyệt đối như vậy. Không tình hình chưa đến mức không còn hy vọng. Tất nhiên, trước hết phải giải quyết là vấn đề chính trị. Ta phải có một đường lối kiên quyết và kiên trì. Với điều kiện phải không ngừng đẩy mạnh nỗ lực trong hai năm. Hai năm đó, có thể đạt được việc phát triển quân đội các quốc gia liên kết trong xứ Đông Dương, có được các lực lượng vũ trang người bản xứ để Việt Minh hiểu rằng họ không có cơ hội giải quyết tình hình bằng biện pháp quân sự. Đó là điều tôi đã trình bày trong bản báo cáo trình Chính phủ sau chuyến đi thị sát của tôi hồi đầu năm. Ông sẽ đọc bản báo cáo này.
Thống chế tóm tắt bản báo cáo đệ trình Chính phủ Pháp sau chuyến đi thanh tra Đông Dương từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 7 tháng 8 như sau:
“Nếu để mất Thượng Lào sẽ dẫn đến những hậu quả không sao kể hết về mặt chính trị… Từ đó, cộng sản sẽ có thể thâm nhập vào Thái Lan mà không gặp khó khăn trở ngại nào. Chính phủ Bang Kok sẽ có thể sụp đổ như một toà lâu đài làm bằng những quân bài, trước sức ép của cộng sản. Chính phủ Campuchia cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến hậu quả là công cuộc bình định ở Việt nam sẽ lại bị đảo lộn.
Đặt trường hợp việc bảo vệ Thượng Lào được bảo đảm chắc chắn, thì phải… hướng các nỗ lực vào vùng đồng bằng Bắc kỳ. Trên thực tế, dù cho người ta có nói hay viết gì đi nữa thì vùng đồng bằng này vẫn chưa bao giờ được bình định hoàn toàn. Năm 1951 đã có nhận định rằng đây là một vùng bị mọt ruỗng không chỉ riêng về mặt chính trị, mà còn cả về mặt quân sự. Bởi vì Việt Minh đã có thể huy động đa số trai tráng trong vùng vào du kích, trang bị vũ khí cho họ. Trong khu vục do ta phụ trách dù càn đi quét lại liên tục kết quả vẫn là số không. Trong vòng một năm qua, về mặt chính trị thì con số những thôn xóm do ta thật sự kiểm soát thường xuyên, chưa được chọn 12%”.
Cuối cùng, Thống chế kết luận:
- Ông đừng tự huyễn hoặc mình. Chiến dịch 1953-1954 sẽ khó khăn đấy. Trước hết ông cần phải tránh giao tranh với Việt Minh ở vùng đồng bằng bằng đủ mọi cách. Mặc dù trong khu vực này ta có ưu thế hơn Việt Minh về máy bay, pháo binh, xe bọc thép, Việt Minh vẫn có điều kiện thuận lợi hơn. Đó là vì, đồng bằng Bắc kỳ hiện nay đang bị các đơn vị bộ đội địa phương Việt Minh làm cho mọt ruỗng. Những đơn vị tại chỗ này có thể làm tê liệt hậu phương của chúng ta, nhằm hỗ trợ cho chủ lực Việt Minh từ bên ngoài, đang sung sức, nguyên vẹn, lại được Trung Quốc giúp đỡ trang bị sẽ tiến công mạnh mẽ vào quân Pháp. Ông phải tìm cách giành lại thế chủ động. Từ ngày tướng De Lattre qua đời, ta không còn giữ được thế chủ động nữa. Ông cũng sẽ phải giành lại thế tiến công vì tiến công là biện pháp tốt nhất để phòng ngự…
Tướng Navarre và tôi tiếp tục đi dạo rồi dừng lại trước một quầy hàng trong sân bay. Một người Italy đứng trong quầy đang rao bán các khăn quàng dệt bằng tơ lụa. Anh ta tận dụng tất cả vốn liếng ngoại ngữ, cố mời chúng tôi mua hàng. Vì tâm trí đang còn đặt vào nhiều chuyện khác, chúng tôi bất giác bị thu hút vào lời mời của anh ta. Tay tôi sờ vào các khăn voan trong khi tướng Navarre vẫn tiếp tục câu chuyện; ông cho biết vài hôm sau thì ông nhận được lời mời của Tổng thống tới điện Elysée theo nghi lễ khá đầy đủ đã ấn định trong những chương trình tiếp khách của Tổng thống Vincent Auriol. Tổng thống nói với tướng Navarre:
- Hội đồng bộ trưởng trong phiên họp cuối cùng đã quyết định cử tướng quân làm Tổng tư lệnh Đông Dương; việc đề cử này đã trình lên tôi là Tổng thống khối Liên hiệp Pháp. Tôi đã đồng ý với Thủ tướng cho tướng quân đi Đông Dương khảo sát tình hình soạn báo cáo trình Chính phủ về các biện pháp thích ứng nhằm phục hồi sức mạnh cho Đông Dương. Tướng quân sẽ trực tiếp báo cáo với tôi sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Liền sau đó Tổng thống chuyển giọng, nói với tướng Navarre một cách thân mật theo ngôn ngữ xứ Languedoc:
- À! Tướng quân này? Tôi biết rất rõ cụ thân sinh ra tướng quân. Cụ là giáo sư Navarre, thầy học của tôi đấy! Thật tình, càng tưởng nhớ tới cụ, tôi càng sung sướng và tự hào được trao nhiệm vụ này cho tướng quân.
Làm sao từ chối được nhiệm vụ vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm? Tất nhiên một vị tổng tư lệnh không chấp hành mệnh lệnh máy móc như một thiếu úy. Nhưng, làm sao từ chối được một sứ mệnh mà tất cả mọi người đều nói là mạo hiểm, nhưng danh dự cá nhân lại thúc giục phải chấp nhận? Làm sao từ chối được khi các bộ trưởng, các nguyên soái, thủ tướng, tổng thống đều mời chào thúc ép, buộc phải chấp nhận.
Cũng như làm thế nào từ chối được lời mời của người bán khăn quàng. cứ nài ép mua chiếc khăn mà mình không thích?
- Đây là một chức năng trang điểm cho quý bà, quý cô, quý tiểu thư, mời các ngài mua tặng vợ con hoặc bạn tình (kèm theo một cái nháy mắt và một nụ cười tinh quái). Xin các quý vị mua ngay cho. Giá rẻ. Tôi nói thật giá. Chỉ có một ngàn Franc. Tôi cam đoan phu nhân ở nhà sẽ hài lòng. Hoặc cứ để lại cho tôi địa chỉ. Tôi sẽ gửi đến tận nơi. Khăn rất hợp thời trang. Đúng mốt Paris cũng như Roma…
Cả tướng Navarre và tôi đều mua mỗi người một chiếc khăn quàng. Sau đó, tôi đã quên phắt người bán hàng thì cũng là lúc tôi nhận được thư của vợ. Cô vợ tôi cảm ơn chồng vì đã mua tặng chiếc khăn nhưng cũng nói rất thật là chiếc khăn nom rất lố lăng nên không bao giờ cô quàng cả!
Trong cuộc hành trình tiến đến chiến trường Đông Dương Sài Gòn đối với tướng Navarre chỉ là một chặng dừng chân nóng nực và nghẹt thở có những bữa tiệc chiêu đãi và những buổi lễ chào đón nghi thức, được ấn định trong thời gian biểu tính toán chi li đến từng phút. Tướng quân không bộc lộ ra ngoài một nét gì tỏ vẻ sốt ruột, nhưng rõ ràng trong lòng ông bực bội vì đã làm ông mất thời giờ.
Vẻ hào nhoáng trong bọ lễ phục của những tên lính gác các dinh thự, vẻ xa hoa lộng lẫy trong phòng làm việc và phòng tiếp khách vẻ trịnh trọng quá đáng của các nhà ngoại giao Pháp và nét nhăn nhó khó hiểu trên gương mặt Thủ hiến Sài Gòn Nguyễn Văn Tâm, tất cả mọi vật mọi người đều không nói lên được một điều gì có liên quan đến cuộc chiến tranh mà tướng quân sẽ phải đảm đương.
Chúng tôi nghỉ tại trụ sở làm việc cũ của tướng Salan. Đó là một biệt thự to lớn, kiến trúc theo kiểu thuộc địa có hàng hiên và nhiều cột chống, mà trước đó tướng Leclere đã trưng thu, đặt đại bản doanh.
Vừa rảnh việc là tướng Navarre rút ngay về phòng riêng. Cuộc hành trình đi Hà Nội được ấn định vào tám giờ sáng ngày hôm sau.
Còn tôi, tôi rất yêu thành phố Sài Gòn. Tôi yêu cái dáng vẻ đường bệ của những công sở và những đại lộ. Tôi yêu cái náo nhiệt của cuộc sống sôi động tại Chợ Lớn. Tôi yêu những mái nhà tranh ở ngoại thành và ở thị trấn Gia Định mà tôi đã từng sống trong những tháng đầu tiên khi tôi đặt chân tới đây lần trước. Tôi đã đi xuyên qua thành phố trong đoàn công xa có hàng rào lính cưỡi mô tô bảo vệ, đi qua đại lộ nào đó mà lần này tôi không nhận ra được nữa.
Vì vậy, ngay sau khi vừa tới Sài Gòn cùng với tướng Navarre, khi ông lui vào phòng riêng của mình thì tôi vội trút bỏ bộ quân phục, mặc chiếc quần dân sự, áo sơ mi trắng - đó là trang phục của “chủ đồn điền” - rồi bước qua cổng sắt có lính gác đêm đang hé mở, đi nhanh ra đường phố mang tên tướng De Gaulle.
Khu phố hành chính chìm trong những vòm lá cây rậm rạp mọc trong vườn, được bố trí bên trong những con đường ngang dọc đều đặn như bàn cờ đang trở nên tĩnh mịch vì trời đã tối khuya. Trên những vỉa hè rộng và dài, những người đi bộ đã thưa thớt. Tới một nơi có con đường đất nhỏ chạy ngoằn ngoèo trên đám cỏ dại, một người phu xe vắng khách đang ngồi trong bóng tối. Nhìn thấy tôi, anh chỉ vào chiếc đệm trắng của chiếc xích lô, ra hiệu mời chào. Tôi đồng ý và nói bằng tiếng Việt:
- Di vé, mao len?(1)
Những tiếng này, tôi vẫn thường xuyên nghe thấy trên đường phố có xe kéo, nhớ lại không khó khăn gì. Nhưng phát âm theo kiểu Pháp và phát đi từ cổ họng cửa những người Âu, đã trở thành méo mó, không thật chính xác. Phải có thêm địa điểm và thời điểm mới thật rõ nghĩa.
- Di vé, mao lên?
Người phu xe đáp ứng theo cử chỉ, điệu bộ, thái độ của khách ngồi trên chiếc xe đẩy bằng xe đạp. Hẳn anh ta đang đoán nghĩ đây là một ông sĩ quan Tây, diện bộ đồ của chủ đồn điền. Vẻ mặt trắng trẻo, hồng hào thế này thì hẳn là từ bên Pháp mới đến. Nhưng vẻ nhàn nhã lại như mách bảo rằng ông ta đã sang đây lần thứ hai rồi. Ông ta không cho địa chỉ nơi cần đến. Có nghĩa là muốn đi dạo mát. Hẳn là một khách sộp, hào phóng hơn các bà đầm da trắng ngồi trên xe với đồ đạc hành lý nặng nề mà cò kè từng một hai đồng. Ông ta nói “đi nhanh lên” nhưng có vẻ như chẳng vội gì cả.
Người phu xe đội nón nở nụ cười tiếp nhận câu nói của tôi. Anh đạp từ từ theo con đường thẳng trước mặt. Trên đường phố vẫn còn vang lên tiếng gõ lách cách của người bán phở đêm. Bóng lá hàng cây me có quả rất chua mọc hai bên đường che lấp cả ánh đèn điện thành phố. Thỉnh thoảng, người phu xe lại rẽ ngoặt theo góc thước thợ vào một đường phố khác, những đường phố đã từng được mang tên các nhà truyền giáo như Pellerin hoặc các vị đô đốc trở thành thống đốc của thời chinh phục thuộc địa như Richaud. Tới một công viên, chúng tôi nghe thấy ở cuối đường phố văng vẳng tiếng đàn, tiếng hát, tiếng kêu, tiếng cười rú của đàn bà bị kích thích. Người phu xe nói bằng một thứ tiếng Pháp ngô ngọng:
- Tôi biết chỗ có con gái xinh lắm. Tốt lắm!
- Không! Để tôi yên.
Người xích lô dừng chân trên bàn đạp. Tôi ra hiệu dừng xe trước một gánh phở rong. Lúc mới chập tối, tôi được dự cùng với tướng Navarre bữa tiệc chiêu đãi toàn các món ăn nấu theo kiểu Pháp. Nhưng tôi chỉ nhấm nháp qua loa vì hoàn toàn không hợp với khí hậu Sài Gòn. Bây giờ tôi cảm thấy đói bụng.
Tôi ngồi chen lẫn với đám bồi bếp đã hết giờ phục vụ tại các dinh thự người Âu, và đám phu xe xích lô đêm ăn một bát phở nóng, rưới thêm nước mắm và điểm thêm ớt màu đỏ. Mùi vị không đâu có được của phở Sài Gòn, thịt bò được ninh rất lâu trong những chiếc nồi cổ lỗ sĩ đến hàng trăm năm, được coi là món ăn thích thú của dân địa phương.
Tôi lại được ngửi thấy mùi mồ hôi, mùi cá khô và ẩm trên da thịt những người dân lao động, đồng thời lại được cảm nhận vẻ duyên dáng và tinh tế, vẻ châm biếm lộ liễu hoặc kín đáo vẻ căm giận hoặc yêu mến mà họ che giấu dưới vẻ bẽn lẽn.
Sau khi thưởng thức xong món phở tôi bước lên xích lô và lúc đó tôi lại hồi tưởng đến một kỷ niệm cũ, mặc kệ người phu xe muốn đưa đi đâu cũng được. Xe đã tới phố Mayer, trên đường đi Đa Kao, một khu phố dài có nhiều căn hộ giống nhau ở hai bên đường mỗi hộ có hai hoặc ba phòng, tiếp nối theo chiều sâu của gian nhà phía trước mặt là khu vườn nhỏ, phía sau cùng là bãi đất bùn lầy dùng làm sân. Tôi có một người bạn cũ tên là Diệu, ở căn hộ trước kia mang biển số 114. Nếu anh ta còn ở đây thì chắc giờ này vẫn còn thức vì gần như anh ta chẳng ngủ đêm bao giờ. Cánh cổng gỗ vẫn còn mở to như thường lệ.
Tôi đi qua khu vườn nhỏ, rộng vài mét, rồi đẩy cửa ra vào. Gian phòng hẹp như xưa, gần như chỉ có một chiếc sập gụ đã sẫm màu và nhẵn bóng. Phía giữa sập đặt một bàn đèn thuốc phiện, hai bên là hai mảnh chiếu cói. Diệu đứng sát tường nhà hầu như không nhìn thấy vì anh mặc bộ đồ đen, nói vọng ra:
- Vào đi, đại úy tôi đang chờ ông.
Lúc này tôi mới nhìn thấy gương mặt anh dưới ánh sáng ngọn đèn thuốc phiện. Đôi mắt anh sau cặp kính gọng kim loại lóe lên niềm vui: anh thích thú được gặp lại tôi hay được bất ngờ tìm thấy tôi? Tôi quen biết Diệu từ năm 1948.
Tôi được biết ít nhiều về cuộc đời anh, ghi trong hồ sơ cảnh sát. Dần dà, chúng tôi trở thành đôi bạn ràng buộc với nhau bằng những sợi dây liên hệ không đàng hoàng chỉ gặp nhau vào lúc tối đêm, hai bên cùng giữ bí mật cho nhau trong sự tin cậy lẫn nhau.
Diệu được gọi là “nhà hiền triết” không phải vì anh có văn bằng triết học mà là do những nhận xét khôn ngoan ít khi bộc lộ ra ngoài. Tôi được biết, sau khi anh được giải thoát khỏi nhà tù Nhật Bản vào năm 1945, hầu như anh không bao giờ bước chân ra khỏi căn hộ của mình ở phố Mayer. Anh đọc rất ít, hầu như không bao giờ hỏi người khác, chỉ ngủ ban ngày, thức ban đêm vậy mà không hiểu sao biết rất rõ tình hình Sài Gòn từ trong các dinh thự đến những nếp nhà tranh. Những tin tức thu lượm được, anh giữ riêng cho mình, thỉnh thoảng cũng trao đổi với một người bạn thân nhằm phát biểu một quan niệm về một lĩnh vực chính trị nào đó hoặc một dự đoán về một chiến dịch quân sự. Nhưng Diệu không làm nghề tình báo gián điệp vì anh coi đó là một nghề nguy hiểm, phù phiếm và thô bạo. Nhà hiền triết này chỉ ăn một bát cơm với mười gam ma túy đủ để giữ thăng bằng nhịp sống và bán lại cho bè bạn vài điếu thuốc phiện hảo hạng trị giá vài đồng bạc còm giá rẻ. Khách hàng của anh phần lớn là các sĩ quan lính thủy từ những tàu chiến đậu trên sông Sài Gòn tìm đến. Vài ông chủ đồn điền người Pháp cũng biết địa chỉ của anh.
Thỉnh thoảng lại có một người Việt nam đến nằm trên sập nhà anh, hầu như bất động, không nói câu gì. Đây là một nơi tạm nghỉ giao tranh, một nơi nương náu, trú ẩn như trong các nhà thờ thời Trung Cổ. Việt Minh lên án ma túy rất nghiêm khắc hơn là đạo lý Phương Tây. Nhưng tại đây, người nào cũng chỉ chìm đắm trong giấc mơ của người đó, không làm phiền người bên cạnh.
Trong gian phòng này người ta thường bắt gập một trung tá hải quân Pháp ngồi đọc một tập thơ. Còn người viết nằm trên sập cứ việc hút thuốc, chẳng suy nghĩ gì cả. Sáng sớm hôm sau, xe xích-lô lại tới, chở khách hút đi các ngả khác nhau.
Năm 1950, tôi đã qua một đêm cuối cùng tại Sài Gòn với Diệu trong gian phòng này. Lần này gặp anh, tôi hỏi:
- Ông đang chờ tôi à? Sao ông biết được rằng tôi đã trở lại đây?
Diệu nở nụ cười rạng rỡ của một người như vừa tìm được của giấu kỹ:
- Anh đến bằng máy bay buổi trưa nay đúng không? Tướng Navarre thấy Sài Gòn thế nào? Chắc ông khổ vì nắng nóng. Phòng tiếp tân ở chỗ ông rất nóng vòi nước tắm hoa sen lại gặp trục trặc. Anh có muốn dùng một hai điếu thuốc phiện không? Tôi rất vui sướng được tự tay chuẩn bị mồi thuốc cho anh.
Diệu nói tiếng Pháp rất thạo, bằng một âm điệu thánh thót như hát của những người An nam cộng với ngữ điệu miền Tây Nam nước Pháp là nơi đã từng là phiên dịch trong xưởng thuốc súng ở Angoulême, hồi chiến tranh 1914-1918.
Trong khi chúng tôi nằm dài trên chiến chiếu, Diệu tiếp tục nói:
- Mãi đến tám giờ sáng mai anh mới bay đi Hà Nội cơ mà. Còn đủ thời giờ.
Ma túy không quyến rũ tôi và tôi đặc biệt rất ghê sợ, không muốn làm nô lệ cho nghiện ngập. Nhưng tôi thích môi trường chung quanh bàn đèn, hương vị toả ra từ khói thuốc phiện, vẻ tĩnh mịch trong căn phòng sau một ngày căng thẳng vì cuộc sống.
Trước kia, tôi thường đến đây cùng với Jacqueline một vài lần. Cô là con gái một quan chức thuộc địa người Pháp say mê đất nước này và một phụ nữ gia đình quyền quý người Nam tại Trung Kỳ. Cô không bao giờ hút thuốc phiện, dù chỉ ướm thủ trên môi. Cô hay kể cho tôi nghe thời thơ ấu nghỉ hè trong dinh thự quan lại của ông bà cô tại Huế, hoặc những câu chuyện cổ tích dân gian nước Lào mà những người hầu đã kể lại cho bố cô là một quan cai trị tại Viêng Chăn. Cô cũng dịch sang tiếng Pháp câu hò mà người “nhà quê” thường hát ví von khi cấy lúa và cả những câu chuyện bậy bạ mà những người dân trên đường phố thường bịa ra để chế giễu những người da trắng. Từ khi trở về Pháp tôi có gửi cho cô khoảng hai ba lá thư.
Chừng như đoán được dòng suy tưởng của tôi, con người ranh ma này nói luôn:
- Anh có biết cô Jacqueline B. đã đi lấy chồng rồi không? Ừ, lấy cậu M. con trai nhà hàng xuất- nhập khẩu. Đẹp đôi, nhiều tiền, nhưng không có con. Cô ta buồn lắm. Họ vừa trở về Pháp. Nghỉ ba tháng ở Vai d' Isère và Paris. Tôi sẽ cho anh số điện thoại.
Tôi lảng sang chuyện khác:
- Tình hình chính trị hiện nay như thế nào? Miền Nam có vẻ như chưa yên ổn, chưa bình định xong.
- Ồ đại úy ơi! Đó là chuyện chính trị, anh đừng bao giờ dính vào đó.
Tuy nhiên, trong câu chuyện trao đổi giữa hai chúng tôi, thỉnh thoảng Diệu của tôi cũng nói về cuộc chiến tranh Đông Dương, nhất là ở miền Nam Việt nam, trước tình hình tranh cử đang khá sôi nổi. Các giáo phái: Cao Đài ở Tây Ninh, Hoà Hảo ở Mỹ Tho, những dân quân Thiên Chúa giáo của trung tá Le Roy tại các tỉnh cũ chung quanh Sài Gòn đang tranh giành nhau ngoạm lấy những miếng bánh ngon nhất của lúa gạo Nam Bộ. Còn Việt Minh thì đang trấn giữ vùng đầm lầy rộng lớn ở khu vực Đồng Tháp Mười và một chiến khu trong rừng ở phía Bắc Biên Hoà.
Diệu nói thêm:
- Bảy Viễn, tướng giặc Bình Xuyên đã duy trì được quyền lực ngay tại Sài Gòn-Chợ Lớn, đã thiết lập được an ninh trật tự chung quanh việc mở sòng bạc kiếm tiền. Nhưng cũng chẳng có điều gì cần phàn nàn cả, bởi vì hiện nay tướng Viễn đang chăm chú vào việc kinh doanh. Ngài Lê Văn Viễn đã thay đổi cách thức làm giặc cướp. Việc tống tiền hiện nay thay bằng việc biết nộp thuế một cách có lý có kiểm soát, chính thức và… biết hợp pháp.
Dưới ánh đèn dầu lạc, Diệu chậm rãi nhào nặn sái thuốc phiện bằng một chiếc kim nhọn làm bằng bạc. Anh đưa ra nhận xét, không thay đổi giọng nói:
- Nhìn chung thì việc bình định cũng có đôi chút kết quả.
Chỉ đến khi Diệu nói hết câu, tôi mới nhận ra sự châm biếm trong nín lặng. Nhưng rồi lại nói tiếp như giải thích:
- Đường xá được tự do đi lại. Chủ nhật, có thể từ Sài Gòn đi tắm biển ở Vũng Tàu hoặc đi săn bắn ở Đà Lạt. Chúng tôi đã thiết lập được một “tạm ước” để sống không cần thương lượng cũng chẳng cần hội họp. Tình thế có vẻ như vững hơn năm 1947. Bây giờ là chuyện kinh doanh. Hoà bình trong tờ giấy bạc.
Được hơ nóng trên ngọn lửa, viên thuốc phiện bắt đầu cháy phát ra những tiếng xèo xèo. Diệu lại nói:
- Đất Nam Kỳ ngày nay ít quan tâm đến chính trị. (Diệu là một trong số rất ít dân Sài Gòn còn dùng từ Cochinchine, có nghĩa là Nam Kỳ, trong khi những người khác đều gọi là Nam Việt nam). Vận mệnh của chúng tôi là do miền Bắc định đoạt. Nhưng tôi không biết tình hình Bắc kỳ ra sao. Chỉ biết là ở Trung Quốc, sáu trăm triệu dân đang sống dưới chế độ cộng sản. Ở đây, chúng tôi vẫn còn vài tháng nữa.
Tôi quay trở về nhà nghỉ. Bảy giờ sáng hôm sau tôi đã thấy tướng Navarre đứng trong vườn chờ đợi giờ khởi hành. Ông nói với tôi:
- Một đêm kinh khủng! Nóng quá đi mất. Tôi không chợp mắt được chút nào. À mà này anh đã nói với viên quản lý dinh thự của tướng Salan là vòi hoa sen trong phòng tắm bị hỏng chưa?
- Thưa tướng quân, đã!
Tướng Navarre nhìn tôi một cách tò mò.
Ông vốn không ưa tính đuểnh đoảng trong công việc phục vụ. Nhưng ông đổ lỗi tất cả cho khí hậu nóng nực.
Đến buổi trưa chúng tôi tới Hà Nội.
Trên sân bay Bạch Mai chói chang ánh nắng mặt trời những binh sĩ mặc bộ đồ ra trận lập hàng rào danh dự đón chào. Hà Nội nghênh đón Tổng tư lệnh Navarre theo đúng nghi lễ đã tiến hành tại Sài Gòn. Chỉ khác một điều, binh sĩ không mặc lễ phục. Cũng không phải là đội Cảnh vệ mà toàn là lính chiến đấu, thắt lưng đeo đầy băng đạn, súng sẵn sàng nhả đạn. Chỉ nhìn thấy vài bộ lễ phục màu trắng trong số các quan chức dân sự người Việt..
Đoàn xe chúng tôi xuyên qua sân bay, trên con đường đầy bụi, hai bên có những bốt gác rào kẽm gai những lô cốt tua tủa nòng súng tự động. Chung quanh lô cốt là những binh lính cởi trần, mặc quần cộc đang tắm nắng, bình thản chẳng quan tâm gì đến đoàn công xa đi qua trước mặt.
Vào đến trung tâm thành phố, trên những đại lộ trồng cây toả bóng mát chúng tôi bắt gặp những chiếc xe taxi phủ đầy bụi. Hà Nội là thủ đô của chiến tranh Đông Dương. Cuộc sống chợ búa, buôn bán lùi sâu trong những phố nhỏ có người Hoa sinh sống làm ăn, hoặc chỉ thể hiện trong những tủ kính phố Paul Bert.
Đoàn xe đua chúng tôi tới khu hành chính của Pháp gồm một loạt biệt thự xây theo kiểu thuộc địa có những công viên rợp bóng cây xanh. Đây là một quần thể do tướng De Lattre trước kia có sáng kiến quy hoạch nhằm làm cho Hà Nội có vị trí tương xứng với tầm vóc. Tuy nhiên, dinh Toàn quyền cũ trước kia gọi là lâu đài Puccini thường dùng làm dinh thự của các quan cai trị hàng đầu của Pháp ở Đông Dương, nay đã trao lại cho Thủ hiến Nguyễn Văn Trị, khâm sai đại thần, gọi là món quà của nước Pháp tặng Nhà nước Việt nam của Bảo Đại.
Vì vậy, ông Letourneau sáng nay mở tiệc chiêu đãi chào mừng Tổng tư lệnh mới đến tại trụ sở cơ quan đại sứ quán Pháp. Bữa cơm được dọn trong phòng ăn nhỏ hẹp. Khách mời không nhiều, dĩ nhiên có mặt tướng Salan đang giữ chức quyền Tổng tư lệnh, tướng Allard Tổng tham mưu trưởng, tướng Linarès Tư lệnh chiến trường Bắc bộ, cuối cùng là hai tướng Dodelier và Cogny tư lệnh các chiến trường.
Tháng 5 là tháng nóng nhất. Chúng tôi uống nước giải khát có đá, đựng trong những chiếc cốc dài do các chủ khách sạn người Hoa dọn tiệc mang đến.
Đại úy Saint Julien đã từng là sĩ quan tùy tùng của Thống chế De Lattre, nay chuyển sang làm thư ký riêng cho Bộ trưởng Letourneau, giữ nguyên một bộ đồ ăn “theo kiểu Pháp” trong ngôi nhà này.
Linarès cùng đến với Salan. Mọi người đã quen thuộc với dáng cao cao kiểu quí tộc của ông.
Từ hơn hai năm nay ông đã đáp máy bay, hoặc ngồi trên xe Jeep, hoặc đi bộ bằng đôi chân dài của người sĩ quan pháo thủ, tới thăm các đồn bốt, khen thưởng trấn an, cổ vũ các binh lính chiến đấu suốt từ Lai Châu tới Phát Diệm. Các bác sĩ buộc ông nghỉ ngơi nhưng ông từ chối. Sau những chuyến đi vất vả này người ta thường nhìn thấy ông xuất hiện ban đêm trong bộ đồ thường phục của chủ đồn điền, tại các hộp đêm có ca sĩ và gái điếm trong thành phố, chăm chú lắng nghe giọng hát của một cô gái lai Âu. Vì tướng Navarre là bạn học cùng một khoá tốt nghiệp với tướng Linarès nên Linarès đã ôm chặt lấy vai Navarre, gọi Tổng tư lệnh bằng tên nhỏ một cách thân mật:
- Ôi! Anh bạn Henri thân mến! Mình nghe tín cậu đang chỉ huy ở Fontainebleau cơ mà? Sang cái đất chết tiệt này làm gì?
- Mình cũng đã từng ngạc nhiên như cậu đấy!
Tướng Navarre kể lại vắn tắt câu chuyện được chỉ định sang Đông Dương như thế nào.
Trong khi đó, tướng Salan, sau khi trao đổi vài câu với Bộ trưởng Letourneau, tỏ ve hoàn toàn hờ hững không muốn nghe tướng Navarre nói. Còn Linarès thì ngồi vắt vẻo ngay trên tay vịn của chiếc ghế bành rộng rãi mà tướng Navarre đang ngồi, chăm chú lắng nghe người bạn cùng khoá, rồi hỏi lại:
- Nhưng mà cậu sang đây có một mình thì xoay sở thế quái nào được. Cậu đã biết, bọn mình chuồn hết cả rồi. Không phải chỉ có Salan với mình, mà cả các tham mưu trưởng Allard và Dulac với hầu hết các trưởng ban. Điều đó cũng bình thường và đã được dự kiến từ trước vì bọn mình đã sang đây cùng với De Lattre. Nhiệm kỳ đã kéo dài tới ba mươi mốt tháng, có người tới ba mươi ba tháng. thế là đủ bào mòn một con người rồi quá niên hạn được ấn định rồi. Này anh bạn già? Cậu đã biết rõ rồi đấy, mình không có nhiều thời gian để tổ chức một bộ máy mới. Tướng Valluy là người nghĩ rằng sẽ được chỉ định, có khuyên mình chọn Bodet làm phó và Gambiez làm tham mưu trưởng. Vài ngày nữa họ sẽ tới đây Bodet thì được rồi. Hắn là một phi công đứng đắn, đã biết rõ đất nước này. Còn Gambiez làm tham mưu trưởng thì cần phải suy tính lại. Hắn không thể thay Allard được đâu. Nghe này hồi De Lattre mới đến Hà Nội, Gambiez đã là tham mưu trưởng rồi. Vừa nhìn thấy Gambiez, ông vua “Jean” đã nói ngay: “Sao? Anh làm gì ở đâu? Tham mưu trưởng cơ à? Này ông cố đạo, nghe tôi nói đây? Với cái mồm cha cố của anh tôi sẽ cử anh đi Bùi Chu. Phát Diệm chỉ huy ở đó. Nếu trong vòng ba tháng anh không làm tròn nhiệm vụ, tôi sẽ tống khứ anh. Mười lăm ngày sau Gambiez phải rời khỏi chức tham mưu trưởng để đi Phát Diệm…
Tướng Navarre không nói gì. Tướng Linarès hỏi tiếp bằng một giọng nghiêm chỉnh:
- Thế ai sẽ thay tôi làm Tư lệnh Bắc kỳ?
Tướng Navarre cũng nghiêm chỉnh đáp lại:
- Tôi hy vọng là anh đã dự kiến người thay thế rồi. Còn nếu anh để tôi tự quyết định thì tôi cũng khó tìm chọn được nhiều người. Ở Paris, hình như không ai còn thích hợp được với chức vụ tổng tham mưu trương chiến trường Đông Dương. Còn ở đây thì người nào yên vị người ấy rồi. Langlade, Leblanc, Bondis không thể rời khỏi các chiến trường hiện đang phụ trách. Ở Lào cũng đang thiếu người chỉ huy. Còn ở Bắc kỳ sau anh chỉ còn có Cogny, nhưng mới chỉ là thiếu tướng và hãy còn quá trẻ để chỉ huy một trăm hai lăm ngàn quân.
Linarès chăm chú nghe không nói chen ngang. Chờ Navarre nói hết ông mới nhìn thẳng vào Navarre, nói khẽ nhưng rất rành rọt bòi vì ông vẫn có thói quen bộc lộ thẳng thừng quan điểm của mình:
- Đừng! Henri! Đừng chọn Cogny. Nó là một thằng tồi. Hãy hỏi Salan xem.
Nhưng Salan lộ rõ vẻ không muốn bắt chuyện. Ông ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành lơ đãng nhìn về phía công viên bên ngoài. Tôi có cảm giác thái độ đó làm tướng Navarre phật ý. Ông nói với tướng Linarès:
- Thế đấy? Các anh ra đi, bỏ lại tất cả các vị trí trống rỗng, không có người phụ trách. Thế rồi. anh lại khuyên tôi không nên sử dụng một con người đang cần để phụ trách một vị trí chỉ huy rất khẩn thiết, một con người thích ứng và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ, cũng không tiến cử cho tôi người nào.
Linarès đứng lên đi ra bàn rượu, rót một cốc Whisky nhẹ và vẫn không trả lời. Navarre tiếp tục nói:
- Vài phút nữa Cogny sẽ tới đây. Tôi không biết anh ta nhưng qua lời Bộ trưởng Letourneau thì Cogny là một chỉ huy năng nổ. Vả lại Cogny tình nguyện ở lại thêm một nhiệm kỳ. Nếu anh không giới thiệu cho tôi một người nào khác, hoặc ở đây hoặc ở Pháp thì khi gặp Cogny tôi sẽ báo tin sẽ giao chiến trường Bắc kỳ cho anh ta chỉ huy.
Salan tiếp tục mơ màng. Linarès tiếp tục uống tùng ngụm nhỏ. Letourneau chen vào câu chuyện bằng một giọng nói vui vẻ và một nụ cười làm dịu bầu không khí:
- Tướng Linarès bao giờ cũng nói những câu gay gắt hợp với tính khí chiến đấu của ông. Nhưng mà thôi, thưa các ngài theo tôi thì tướng Cogny đúng là có một. Vài điều đáng chê trách nhưng dù sao đây cũng là một vị tướng có khả năng.
Câu chuyện về Cogny kết thúc. Tướng Navarre quay sang phía tôi, nói:
- Anh ra cổng đón tướng Cogny rồi dẫn vào phòng làm việc của tôi.
Tướng Cogny đã gặp tướng Navarre. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa hai người. Sau khi gặp nhau xong, tôi thấy cả hai người đều tươi cười vui vẻ bước ra khỏi phòng làm việc. Tróng Cogny mặc bộ quân phục mùa hè bằng vai kaki, quần cộc, áo sơ mi ngắn tay, cầm trong tay chiếc mũ mềm gắn phù hiệu pháo binh và chiếc gậy chống to tướng.
Khi bước ra cửa phòng làm việc trước khi tới ngưỡng cửa phòng khách trong đó có đội ngũ của ê-kíp De Lattre vẫn đang ngồi nói chuyện, tướng Cogny dừng lại và nói to với tướng Navarre, cốt để mọi người cùng nghe thấy:
- Thưa Đại tướng, xin đa tạ ngài đã tin cậy tôi. Tôi xin đảm bảo ngài sẽ không hối tiếc sau khi trao nhiệm vụ này cho tôi.
Ngày 25, tướng Cogny dọn lên Hà Nội. Sau khi được tướng Allard báo tin đã gửi điện về Paris để có quyết định của Bộ Quốc phòng Pháp, tướng Cogny đáp lại bằng một giọng rắn rỏi:
- Tôi đồng ý ở lại tiếp tục công tác. Nhưng phải được đền bù xứng đáng.
Cuộc mặc cả công xá đã xong. Trong phòng làm việc quét vôi màu đỏ mà trước kia tướng Salan đặt bàn giấy tại một nhánh của dinh thự mang tên Norodom ở Sài gòn, tướng Allard tự tay thảo một bức điện gửi Chính phủ Pháp đề nghị nâng thiếu tướng Cogny lên cấp trung tướng.
Tướng Navarre và tôi ở lại Hà Nội cho tới ngày 24 tháng 5. Tiết trời quả thật rất nóng và ẩm.
Trong phòng tôi, hơi ẩm thoát ra từ vách tường và cả gạch lát sàn. Thi thoảng có những cơn dông ập đến nhưng cũng không giải phóng được hết sự nóng nực. Sau những buổi tiếp khách đến chào và làm việc chính thức ngay từ ngày đầu mới tới, lúc này tướng Navarre bắt đầu rảnh rỗi. Sau khi được tướng Salan cho biết sẽ bàn giao công tác tại Sài Gòn chứ không phải ở đây tướng Navarre quyết định đi thăm một số nơi tìm hiểu một số địa phương và tiếp xúc với các sĩ quan ở đó. Khu tự trị Tây Bắc (gọi tắt là Zano hoặc thượng du) và Bắc Lào đã từng là những khu vực có hoạt động chiến sự chủ yếu trong các chiến dịch trước. Tên các địa danh Lai Châu, Nà Sản, Sầm Nưa, Cánh đồng Chum đã chiếm hàng đầu trong các thông báo chiến sự và phòng tin báo chí. Cuộc chiến đấu phòng ngự tuyệt vọng ở Mường Khoa đã thu hút sự chú ý của mọi người.
Cứ điểm Mường Khoa được xây dựng trên ba quả đồi bố trí theo hình tam giác giữa nhánh sông Nậm Hu chảy xuống Luang Prabang và nhánh sông Nậm Bạc chảy đi Mường Sài, bị tiến công đêm 13 tháng 4. Đại úy Teulier với ba trăm quân lính đã chống giữ được tới ba mươi nhăm ngày.
Báo chí phương Tây gọi đây là một chiến công lịch sử. Còn Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles thì ca ngợi đây là một “tinh thần cố thủ” theo phương châm: “Không lùi một thước đất, không bỏ rơi một con người cho chủ nghĩa cộng sản”. Pháo đài nhỏ bé xây dựng trên đất Lào này được thế giới tự do coi là cột mốc cuối cùng không đê chủ nghĩa cộng sản vượt qua.
Quả thật, nếu Mường Khoa giữ được tám ngày nữa thì Việt Minh sẽ mất thể diện. Nhưng trong đêm 17 rạng ngày 18 tháng 5, cả ba qua đồi này đã bị quân lính của trung đoàn 148 Việt Minh đánh chiếm.
Tướng Navarre muốn tận mắt nhìn thấy trận địa này. Ông chi thị cho tướng Linarès đưa một sĩ quan tham mưu tới để trả lời các câu hỏi do ông đề ra. Sáng ngày 21 tháng 5, tướng Navarre cùng chúng tôi ngồi trên một chiếc máy bay Dakota, lượn trên vùng trời thượng du.
Cầm một tập bản đồ địa hình trong tay, tướng Navarre ngồi ngay trong chiếc ghế của lái phụ, bên cạnh lái chính, trong phòng lái đặt ở phía mũi máy bay. Sĩ quan tham mưu Boisredon và tôi ngồi ở phía sau. Tiếng động cơ nổ ầm ĩ rất khó nói chuyện. Tôi trầm ngâm nhìn ra ngoài trời. Đôi cánh máy bay màu bạc đung đưa nhẹ nhàng giữa những đám mây màu trắng và mặt đất phủ cây rừng màu xanh thẫm như một tấm thảm len trải rộng.
Đột nhiên, tôi thấy một quầng lửa kỳ lạ khoan thủng một chiếc cánh. Tôi hiểu ngay đó là một mảnh đạn phòng không vừa mới bắn lên, chỉ cách khoang chứa chất đốt vài centimet. Hai tiếng nổ tiếp theo làm thủng sàn khoang sau. Ngay từ phát nổ đầu tiên Boisredon đã lập tức nằm soài trên sàn, chân duỗi thẳng cẳng, hai tay ôm chặt lấy đầu. Tôi nhay bổ vào buồng lái, thấy tướng Navarre đang đánh dấu trên bản đồ vị trí ổ súng trọng liên đặt dưới đất căn cứ vào vệt lửa đạn từ phía dưới bắn lên. Thợ máy lập tức kiểm tra. Vết thủng không có gì nghiêm trọng, nhưng dù sao cũng phải hạ cánh khẩn cấp. Mười phút sau, chúng tôi bay tới Nà Sản.
Tổng tư lệnh Navarre đột ngột “rơi” xuống giữa cứ điểm như một viên đá ném xuống mặt đất đang ngủ yên. Sở chỉ huy Nà Sản lập tức gọi điện thoại tới các đồn bốt chung quanh. Chỉ vài giây sau các đường dây đã truyền tin này tới mọi người ở vành ngoài cứ điểm. Một chiếc Jeep phóng thật nhanh tới chiếc máy bay bị thương. Trung tá Berteil chỉ huy cứ điểm Nà Sản, nhảy vội xuống xe, chạy đến trình diện. Lúc này tướng Navarre vẫn chưa biết viên sĩ quan trong bộ quần cộc áo sơ mi ngắn tay, dáng người hơi khô, đã được giữ lại để đảm đương một chức vụ quan trọng tại Tổng hành dinh đặt tại Sài Gòn và sau này trở thành phó ban tác chiến của ông. Trong số sĩ quan tại Nà Sản hôm đó. Ông chỉ mới quen có thiếu tá Vaudrey với bộ mặt thanh niên rám nắng, bộ giò rắn rỏi của người leo núi, được coi là một chuyên gia vùng thượng du. Thiếu tá Vaudrey đã báo cáo rành rọt với tướng Navarre về toàn bộ diễn biến chiến dịch năm trước, những khó khăn của binh lính, những cảnh đẹp của xứ Thái, và nói một cách say sưa về dân tộc Thái.
Trong cuộc gặp mặt hôm đó tại Nà Sản có ba sĩ quan: Vaudrey sau này chết vì tình, Berteil thất bại vì quá kiêu căng, còn Boisredon thì được lên cấp tướng.
Hai giờ sau chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình trên một chiếc máy bay khác, vẫn quan sát như cũ. Tướng Navarre mang theo từ Nà Sản nhiều suy nghĩ. Từ nay, ông đã hiểu thế nào là một cuộc chiến tranh vùng rừng núi, trong một địa hình mà ông đã nhìn thấy tận mắt và đã hiểu rõ hơn.
Để tiến quân từ lưu vực sông Hồng tới lưu vực sông Mêkông, xứ Thái hoặc Thượng Lào, đối phương phải chọn một trong hai con đường giao thông đã được làm theo địa hình. Con đường phía Nam từ Mộc Châu đi Sầm Nưa, cao nguyên Trấn Ninh, Cánh đồng Chum dẫn đến Viêng Chăn. Con đường phía Bắc qua Điện Biên Phủ đến Luang Prabang, Mường Khoa và lưu vục sông Nậm Hu.
Công binh của tướng Giáp có thể thay đổi hình thức chiến đâu, nhưng không thể thay đổi được địa hình vẫn buộc phải tiến theo hai con đường này. Những chiến dịch tiến công năm 1952, 1953 đã chứng minh rõ điều đó.
Giai đoạn đầu của chiến dịch được tiến hành trong mùa thu 1952. Ngay sau khi vừa chấm dứt mùa mưa, nhiều tiểu đoàn chủ lực của Việt Minh đã từ nơi đóng quân bí mật ở Phú Thọ, giữa hai con sông Hồng và sông Thao tiến vào xứ Thái, đập đổ hệ thống đồn bốt nho bé làm nhiệm vụ bình định của Pháp, như những lâu đài bằng cát biển sụp đổ dưới lớp sóng.
Tướng Salan lúc đó đã bị “bất ngờ một nửa” vì tính chất mãnh liệt của cuộc tiến công này. Trước mặt các nhà báo tướng Navarre đã tuyên bố về “phòng tuyến sông Đà” nhưng thật lòng chẳng tin tưởng gì về các phòng tuyến này. Vì vậy ông đã phải vội vã xây dựng thêm một cứ điểm phòng ngù chung quanh đường băng có thể cho phép các máy bay vận tải loại Dakota hạ cánh. Tập đoàn cứ điểm này được gọi là căn cứ lục - không quân Nà Sản, là nơi tập trung các đơn vị nhỏ bị thất lạc trong rừng rậm và được tăng cường thêm bằng những đơn vị từ đồng bằng sông Hồng đưa tới bằng máy bay.
Cứ điểm Nà Sản nằm liền trục đường giao thông số 41, có thể ngăn cản không cho các đoàn xe vận tải chở hàng tiếp viện của Trung Quốc qua lại trên đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên. Là thủ phủ của xứ Thái, thị xã Lai Châu cũng được tăng thêm lực lượng phòng thủ. Các vị trí phòng ngự vành ngoài đều được củng cố thêm. Suy cho cùng vị trí này chưa thật vững chắc lắm nhưng dù sao cũng đủ làm cho đối phương phải ngần ngại tiến công. Có thể, tướng Giáp cũng hiểu Lai Châu nằm quá xa tầm với, còn Nà Sản ở ngay ven đường. Vì vậy, đã thử tiến công Nà Sản nhưng đã không thành công.
Vì vậy, trước khi mùa mùa bắt đầu, lại bùng nổ giai đoạn thứ hai của chiến dịch, hướng về phía Thượng Lào. Cùng trong lúc làm một con đường mới từ Tạ Khoa đi Sơn La, tránh con đường 41 ra; Việt Minh đã chuẩn bị các căn cú xuất phát từ Mộc Châu và Điện Biên Phủ. Từ bảy năm nay Việt nam vẫn đang ủng hộ giúp đỡ một Chính phủ dân chủ của Pathet Lào đứng đầu là Hoàng thân Souphanuvông. Đây là lúc Việt Minh cần phải bám chân trên một mảnh đất Lào để thúc đẩy cách mạng Lào tiến triển.
Với hướng tiến công mới này, Nà Sản không trở ngại lắm đối với Việt Minh. Chỉ cần bao vây, vô hiệu hoá Nà Sản là đủ. Còn Lai châu thì ở mãi đầu cùng xứ Thái. Đèo Văn Long đứng đầu lực lượng thân Pháp hiện nay không dũng cảm bằng Đèo Văn Tri đã từng làm tướng giặc và là ông nội của Đèo Văn Long.
Từ tháng 4 năm 1952, các đoàn quân Việt Minh hầu như xuất phát cùng một lúc trên hai tuyến đường lên Tây Bắc. Từ Điện Biên Phủ những tiểu đoàn chủ lực được bộ đội địa phương đi trước dẫn đường tiến theo con đường phía Bắc. Trước của ngõ thung lũng Nậm Hu: cứ điểm Mường Khoa cố chống cự được vài tuần, quá mức chờ đợi. Nhưng trên đường từ Mường Khoa đến sát Luang Prabang, Việt Minh hầu như chỉ gặp khó khăn về vận chuyển tiếp tế.
Từ năm 1952, lúc mới chi là thiếu uý, Salan đã đóng quân trong vùng này nên ông hỏi rất rõ những con đường mòn ở đâu. Trong cuộc tiến quân của Việt Minh năm 1953, tướng Salan lúc đó là quyền chỉ huy Trưởng tư lệnh Đông Dương quyết định lui quân về tập trung tại kinh đô Vương quốc Lào được bảo vệ bằng hai trăm kilômét rừng rậm vây quanh. Mùa mưa đang tới. Trong bẩy mươi ngôi chùa ở Luang Prabang, khói hương bay nghi ngút để cầu mưa. Tổng tư lệnh Salan (2) đi thị sát các công trình phỏng ngự rồi nói chuyện rất lâu với một vị sư già mắt đã mù nhưng vẫn còn sáng suốt, có thể đoán được tương lai hậu vận. Sau đó, tướng quân ra đi, có vẻ yên tâm.
Trên tuyến đường tiến công từ hướng Nam hoạt động của Việt Minh có thể gây nhiều rủi ro nguy hiểm lâu dài. Những chiếc xe tô vận tải Molotova do Liên xô sản xuất có thể đi được đến tận Mộc Châu. Vị trí phòng ngự đầu tiên của Pháp đặt tại Sầm Nưa là một tỉnh lỵ. Trung tá Maxim Maieplate chỉ huy một doanh trại có một nghìn bẩy trăm quân, phần lớn thuộc quân địa phương.
Nhưng không ai hiểu rằng Sầm Nưa khó có thể chống lại một cuộc tiến công của Việt Minh.
Tháng 2 năm 1953. Thống chế Juin là Tổng thanh tra quân đội đã lên thăm các công trình phòng ngự Sầm Nưa. Trước vẻ bi quan của Thống chế Juin, tướng Salan đưa ra phương án nếu Việt Minh tiến công thì sẽ rút ngay khỏi Sầm Nưa để bảo toàn lực lượng. Công việc bảo vệ Viêng Chăn được tổ chức tại Cánh đồng Chum gần Xiêng Khoảng cách Viêng Chăn một trăm năm mươi kilômét. Bộ tộc Mèo ở đây đều nằm dưới quyền một tộc trưởng tên là Tu Bi làm nghề buôn thuốc phiện. Trên cao nguyên này có một đường băng cất cánh, hạ cánh cho loại máy bay Dakota, nằm giữa cứ điểm phòng ngự kiên cố.
Cuộc rút bỏ Sầm Nưa đối với Pháp là một cuộc rút lui thất bại, nhưng đã được dù liệu từ trước. Ngày 12 tháng 4 khi những đơn vị xung kích đầu tiên của Việt Minh còn cách Sầm Nưa hai ngày đường đi bộ, Salan đã ra lệnh di tản Sầm Nưa ngay lập tức.
Trong đêm đen được soi sáng bởi những đám cháy phát đi từ những tiếng nổ phá huy các kho tàng, trung tá Maxim Maìeplate với đôi chân ngắn của mình dẫn đầu các đại đội tháo chạy.
Tám ngày sau chỉ còn lại được khoảng hai trăm hai mươi người tả tơi hỗn độn kéo về Cánh đồng Chum. Số còn lại: vừa mới chạm trán với các đơn vị bộ đội địa phương của Việt Minh hoạt động trong dẫy núi Mương Sơn đã vội chạy vào rừng rồi tan biến hết. Nhiều tuần sau, những người của Tu Bi đã thu nhặt được khá nhiều sĩ quan Pháp bị rơi rụng chạy vào các bản Mông hoặc lạc trên đỉnh núi. Riêng Maleplate bị liệt vào danh sách mất tích.
Một tháng sau khi phát động chiến dịch Thượng Lào, tướng Giáp đã chiếm được Xiêng Khoảng nhưng không đủ sức để đánh chiếm hoặc bao vây Cánh đồng Chum. Trong lưu vục sông Nậm Hu, bộ đội Việt Minh cũng dừng lại trước tuyến phòng ngự Luang Prabang.
Như vậy là Salan đã có phương án đúng. Sau khi rút khỏi Sầm Nưa, Salan đã làm cho tuyến đường vận chuyển tiếp tế của Việt Minh kéo dài trên mấy trăm kilômét đường rừng núi. Ban tham mưu của Salan đã trở nên già dặn khi viết “Quãng đường xa mà Việt Minh phải hành quân trên địa hình rùng núi này đòi hỏi phải mất tám ngày đi bộ. Nêu trung bình mỗi dân công mang theo từ hai muơi đến hai mươi nhăm ki lô gạo một người, thì suốt dọc đường họ đã ăn hết mười lăm kilô, chỉ còn lại mỗi người từ sáu đến chín ki lô gạo tiếp tế cho bộ đội. Có thể từ đó suy ra số dân công cần phải huy động”.
Tướng Salan hồi đó còn dựa vào một đồng minh nữa là thời tiết. Ông viết “Trong phương án phòng ngự, ban chỉ huy Pháp đã tính đến mùa mưa và cho rằng Việt Minh sẽ buộc phải rút quân chậm nhất vào những ngày đầu tháng 5”.
Lúc tướng Navarre và tôi bay trên vùng trời này đã là ngày 21 tháng 5 năm 1953. Trong chuyến bay về Hà Nội, chiếc Dakota chở chúng tôi đã cẩn thận bay cao để đảm bảo an toàn. Trong khoang lái, tướng Navarre vẫn trầm ngâm suy nghĩ. Vùng rùng rậm ông bay qua đang ẩm ướt vì những trận mùa đầu mùa. Việt Minh đã bắt đầu hướng về phía trung du để lại những cán bộ chính trị lại vùng thượng du để làm công tác dân vận gieo mầm và bí mật ủ men trong suốt mùa mưa.
Cù điểm Nà Sản nằm trên đường 41 giữa hai tuyến tiến công của Việt Minh, trở thành một tên lính gác vô tích sự.
Tướng Navarre đã rút ra được nhiều kết luận từ niềm suy tư của mình. Ông nhận định việc rút quân khỏi Sầm Nưa là một bằng chứng cụ thể, nói lên rằng ta không thể tiến hành được một cuộc vận-động-chiến trong địa hình rừng núi. Những đơn vị quân đội của chúng ta, cho dù đó là những binh lính người địa phương đi nữa, cũng quá nặng nề, có thói quen ăn uống theo đồ hộp mang sẵn trong người, đi giầy vừa với bàn chân, hành quân phải dùng xe ôtô, tác chiến phải có hoả lực yểm trợ. Trong khi đó, các tiểu đoàn chủ lực Việt Minh đã có bảy năm trong nghề. Họ đi chân đất, ăn hai bát cơm một bữa, thức ăn là măng rừng, tiến công vào ban đêm. Tướng Navarre buộc phải thừa nhận, biện pháp duy nhất để bảo vệ không gian chiếm lĩnh là phải áp dụng chiến lược “con nhím”, tổ chức các cứ điểm phòng ngự thật kiên cố để tự bảo vệ. Chiến lược “con nhím” co mình lại để phòng ngự không mang lại chiến thắng nhưng cũng đảm bảo được sự tồn tại để chở thời cơ. Phải chăng, một phần là phải lo bảo toàn lực lượng theo kiểu “con nhím”?
Những diễn biến thời cuộc vẫn bám chặt suy tư của tướng Navarre.
Khi về đến sân bay Bạch Mai, tướng Navarre được báo cáo, đã tìm thấy trung tá Maleplate còn sống trong một bản Mông. Một chiến máy bay được lệnh đi đón Maleplate, đưa về Hà Nội.
Trong trụ sở làm việc của tướng Salan hiện vẫn giữ chức Tổng tư lệnh, chưa bàn giao cho tướng Navarre, những người thân cận rất ít.
Salan không có ai tâm sự, ngoài vợ ông và vài nhà sư già trông nom những ngôi chùa nghi ngút khói hương. Lúc này, ông rất khó nghĩ vì không thể đối xử với Maleplate theo lôgic thông thường và duy nhất. Ông phải áp dụng biện pháp như thế nào đối với Maleplate đây? Maxim Maleplate là một đòng đội của ông từ thời thanh niên và người ta thường rỉ tai nhau thầm thì rằng Salan với Maleplate là bạn đường theo cùng một phe phái.
Người lính già thuộc lực lượng bộ binh thuộc địa Maleplate quả là một dân quê có sức khỏe nên đã sống sót được suốt một tháng trong rừng rậm mà không mất tinh thần. Nhưng Maleplate vẫn phải chịu trách nhiệm về sự hoảng loạn trong cuộc lui quân đã làm tan rã toàn đơn vị do ông chỉ huy.
Dư luận hồi đó đã bàn tán rùm beng về chuyện này. Khi dư luận vừa mới tạm lắng xuống thì người chịu trách nhiệm là Maleplate lại vụt xuất hiện trở lại, có thể sẽ thức tỉnh những lời phê bình chỉ trích, có nguy cơ tổn hại đến Salan trong những ngày cuối cùng ở Đông Dương.
Tất nhiên sự rủi ro đối với với Maleplate không lớn lắm. Chưa bao giờ quân đội Pháp xử bắn một đại tá. Các đại tá phạm lỗi, nặng nhất, cũng thường chỉ bị thải hồi, đưa về Pháp giữa một nhiệm kỳ.
Tướng Salan, thường được gọi là “Quan cai trị”(3) ngồi suy nghĩ trong phòng làm việc khép kín.
Sáng nay, ngay trước khi ra khỏi nhà riêng bên bờ hồ Tây để đi làm, tướng Salan trong bộ quân phục chỉnh tề đã đặt đĩa quả và thắp hương trước tượng Phật bằng đồng trên bàn thờ Phật chiếm cả một góc phòng khách của ông.
Tại Pháp, dư luận báo chí hồi đó phê phán nghiêm khắc Salan. Hai nhà báo Lucien Bodard và Max Clos của tờ Nước Pháp buổi chiều và tờ Thế giới cùng cho rằng Salan phải chịu trách nhiệm về việc rút bỏ Sầm Nưa. Bây giờ thời tiết đang ủng hộ ông. Mùa mưa đã tới. Việt Minh đã rút khỏi Lào.
Salan đang chuẩn bị cãi lại những lời buộc tội trước khi rời khỏi sân khấu Đông Dương.
Trên chiến trường Cánh đồng Chum và Luang Prabang, Salan đã phát động những chiến dịch mang tên các loài hoa, gọi là “cuộc hành quân Myosotis” và “cuộc hành quân Mimosa”. Dọc những con đường mòn lầy bùn, bộ binh Lào và lính dù Pháp đang tiến dần theo những dấu vết của địch. Ngày 15 tháng 5 Salan đã cho chụp ảnh ông theo đội quân hậu bị tiến vào Xiêng Khoảng.
Buổi trưa ngày 22 tháng 5, tướng Salan từ trụ sở làm việc tại Hà Nội trở về nhà riêng. Với gương mặt thanh thản và giọng nói bình tĩnh ông chỉ thị cho văn phòng chuẩn bị một loạt huân chương và gửi giấy mời quan khách đến dự tiệc Cocktail.
Đúng 19 giờ trước mặt đông đủ chức sắc Hà Nội cả dân sự lẫn quân sự, là lễ gắn huy chương thưởng công cho trung tá Maleplate. Qua là một lễ khen thưởng lỳ lạ! Maleplate được thưởng huy chương không phải vì thắng trận mà chỉ cốt để đánh lừa dư luận là đám thượng lưu tập hợp trong phòng này. Chiếc “Chiến công bội tinh”, gắn cho Maleplate được mang đến cùng một lúc với chai rượu sâm-banh.
Buổi lễ thưởng công rực rỡ hào nhoáng bởi số đông quan khách sang trọng tới dự, nhưng khá buồn tẻ. Một cô gái Pháp chưa chồng, vừa già, vừa xấu hình như muốn sử dụng vóc người cao lớn quí tộc như một sự thách thức, cứ sán lại gần Tổng tư lệnh Navarre, càng làm cho ông sợ hãi, chỉ có Linarès là người duy nhất dám đánh bạt cô ta. Sau khi cô gái già đã lánh đi nơi khác, tướng Linarès bèn kéo tướng Navarre ra một chỗ, nói nhỏ:
- Ông tìm một chánh văn phòng à? Tôi sẽ chọn cho. Đó là đại tá Revol xuất thân là sĩ quan bộ binh thuộc địa đã bổ túc chính trị tại Paris. Tôi nghĩ anh ta sẽ đáp ứng được ý muốn của ông.
Tướng Salan được hỏi ý kiến, cũng đồng ý với nhận xét của tướng Linarès. Thế là đại tá Revol được cử làm chánh văn phòng của tướng Navarre ngay lập tức.
Chánh văn phòng của Tổng tư lệnh là một người phức tạp, khó gợi mở. Tôi nghĩ, ông thường che giấu sự thiếu hiểu biết của mình về cuộc chiến tranh này cũng như ông vẫn che giấu tính khí nóng nảy hung hãn của ông dưới một vẻ ngoài khắc khổ.
Trong bữa cơm tại Sứ quán Pháp, tướng Navarre và tôi lại ngồi đối diện nhau, vì Bộ trưởng Letourneau đã quay về Pháp hôm trước, khi được tin chính phủ Réne Mayer vừa sụp đổ.
Mười bảy tháng trước đây, ông Letourneau đã có quyết định thay tướng De Lattre làm Cao uỷ Đông Dương. Bây giờ làm Bộ tướng các nước liên kết, ông có vẻ muốn thúc đẩy chính phủ xúc tiến cuộc chiến tranh. Ông là một người chân thật, trung thực, nhân hậu, không thiếu đầu óc sáng suốt và giàu trí tưởng tượng. Ông cũng là người dám hy sinh và vì thế đã được nhiều người tín nhiệm. Ngày 22 tháng 5 năm 1953 ông đã rời Hà Nội với một sự vui vẻ bộc lộ khá lõ, và không bao giờ quay trở lại đây nữa.
Như vậy là chỉ còn lại tướng Navarre và tôi trong gian nhà này. Đến bữa ăn, tướng Navarre không nói câu nào vì có đông người hầu bàn bên cạnh. Ông chỉ kêu rên vì trời nóng. Khi vừa ăn xong ông lập tức kéo tôi ra vườn hóng mát.
Đến buổi chiều, tướng Navarre đáp một chiếc máy bay Morane nhỏ bé đi Hải Dương. Tướng Cogny đang đợi ông ở đó. Tướng Navarre vừa tới nơi đã được tướng Cogny dẫn luôn vào Sở chỉ huy, tại đó đã chuẩn bị sẵn một buổi “báo cáo tình hình” trong gian phòng treo kín bản đồ.
Với dáng vẻ vội vã, tôn kính, lễ phép, tướng Cogny triển khai tất cả sự hấp dẫn của mình để chinh phục Tổng tư lệnh mới. Đúng là lúc nào muốn, Cogny cũng có thể tỏ ra cám dỗ được cấp trên. Trước kia, ông đã được tướng De Lattre ưa thích, ~éo về làm chánh vàn phòng rồi làm cục trưởng các cơ quan dân sự và quân sự, những De Lattre bao giờ cũng để Cogny ở xa một khoảng cách. Đối với tướng De Lattre, Cogny là một sĩ quan cấp dưới có những ham thích tầm thường, không thể để vuột quá mức cho phép được.
Thỉnh thoảng, vào giờ nghỉ trưa, nếu có ai đó ví dụ như Royer hoặc Dannaud muốn tìm gặp Chánh văn phòng Cogny vì một việc cần kíp thì De Lattre giơ tay ngăn lại nói bằng một câu đôn hậu:
- Đừng quấy rầy. Cứ để ông ta đi kiếm một cái hôn. Việc đó sẽ làm cho ông ta thêm thông minh.
Đến 5 giờ chiều Cogny mới quay về nhiệm sở, tươi tỉnh, sung sức.
Cogny là người đã làm việc lâu trong các văn phòng chính trị, cho nên quen biết nhiều người, nhiều việc. Trên thực tế, ông thong thạo nhiều lĩnh vực, trừ có lĩnh vục tác chiến do không được De Lattre giao cho phụ trách. Vì thông minh nên Cogny cũng hiểu rõ điều đó. Hồi còn làm tư lệnh chiến trường đồng bằng đặt sở chỉ huy ở Hải Dương người ta thường nhìn thấy ông trên sân bãi, trên đường phó, trong buồng giấy và trong các hộp đêm. Ông khôn khéo không bao giờ tự chỉ huy một chiến dịch nào mà thường tin cậy giao cho các phó của mình là các đại tá Vannuxen, Castries, Gilles và vài đại tá có tham vọng khác. Từng người được trao nhiệm vụ, tự tìm lấy quyền lợi của mình trong đó. Cái quyết định của một trận đánh, không phải chỉ nhờ ở sự thông minh.
Khi tiếp chuyện tướng Navarre ở Hải Phòng thì Cogny không còn là “ông tướng vùng đồng bằng” nữa mà đã là người chỉ huy chiến trường toàn bộ Bắc kỳ. Ông đã được tướng Navarre chỉ định vào chức vụ này. Ông muốn tỏ cho quan thầy mới của mình biết ông là người xứng đáng với chức vụ đó ông biết rõ vấn đề của mình và đã dễ dàng trinh bày trước Tổng tư lệnh Navarre tình hình khu vực mà ông phụ trách. Cogny hoạt bát nói:
- Vùng châu thổ sông Hồng, thực tế là một khu tam giác đông dân, có nhiều ruộng nước, nhiều sông ngòi, tiếp giáp với bở biển. Con đường nối liền Hà Nội với Sài Gòn là một trục bộ giao thông có tính chất sống còn. Từ năm 1951 ta đã bị mất dân trong khu vục này. Trong khi ta dồn quân tiến đánh Hoà Bình thì Việt Minh đưa nhiều tiểu đoàn chủ lực thâm nhập vùng châu thổ: tiến đánh các đồn bốt, phá hủy hạ tầng cơ sở chính trị của ta.
Cho tới nay Việt Minh có tới bảy mươi ngàn quân chính quy biên chế thành các đơn vị tiểu đoàn và đại đội đang tung hoành khắp nơi, làm cho vùng đồng bằng của ta mọt ruỗng. Ba trung đoàn chủ lực của Việt Minh, cụ thể là các trung đoàn 42, 46, 50 gồm tổng cộng chín sư đoàn tự do ra, vào vùng đồng bằng không gì ngăn trở nổi. Vành đai phòng thủ bê tông mà tướng De Lattre có sáng kiến xây dựng bằng một loạt đồn bốt ngoại vi che chở cho vùng châu thổ, thục tế đã trở thành ảo tưởng, chẳng khác gì dùng tấm lưới sắt để ngăn nước. Ba mươi tiểu đoàn chủ lực của ta đã phải chôn chân trong các đồn bốt này mà cũng chẳng làm được việc gì ra trò. Trong khi đó lại phải huy động thêm ba mươi tiểu đoàn nữa dùng vào việc bảo vệ các cứ điểm trọng yếu và cả việc thường xuyên phải đi càn quét bình định. Như vậy phần lớn tiềm lực của ta đã phảii sử dụng một cách lãng phí vào việc chiếm đóng, tiếp tế, bảo vệ. Đúng là ta có ưu thế về máy bay, pháo binh có thể tạo ra một lưới lửa đạn chéo khắp vùng đồng bằng, nhưng không đạt kết quả mong muốn. Còn việc xây dựng một đội quân người Việt cho chính quyền Bảo Đại thì mới chỉ đang trong thời kỳ thai nghén. Cho tới nay mói chỉ có được một binh đoàn cơ động gồm các tiểu đoàn khinh quân trang bị nhẹ vừa mới thành lập, đang cần huấn luyện thành thạo trong các khu vực bình ổn và tôi luyện dần trong chiến đấu. Hiện nay, những tiểu đoàn này đang nằm ở vùng Phát Diệm và Bùi Chu.
Trong vùng châu thổ, tương quan lực lượng đang tạm thời cân bằng. Nhưng ở bên ngoài, tình hình có thể nghiêm trọng tại Phú Thọ, Thanh Hoá hiện nay Việt Minh có một lực lượng tác chiến chủ lực được trang bị tốt do Trung Quốc giúp đỡ. Lực lượng tác chiến này có tới năm sư đoàn bộ binh: sư đoàn 308 và sư đoàn 312 được coi như hai mũi lao xung kích của tướng Giáp, sư đoàn 320 và sư đoàn 304 đang thâm nhập vào vùng đồng bằng, sư đoàn 316 đang hướng các hoạt động về phía xứ Thái ở Tây Bắc và Lào. Bắt đầu từ tháng tư năm nay, phát hiện thêm sư đoàn 351, gồm hai trung đoàn pháo binh, một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn công binh. Lực lượng tác chiến này của Việt Minh hiện nay đang nằm im trong vùng đóng quân ngoài tầm đánh phá của ta, nhưng sẽ có thể tung ra hoạt động từ tháng 10. Trong khi đó, hiện nay ta mới chỉ có sáu binh đoàn cơ động và tám trung đoàn dù.
Ở khu vực Tây Bắc, hiện quân ta đang chiếm đóng Lai Châu và Nà Sản. Lai Châu là lãnh địa của Đèo Văn Long, có thể tung biệt kích đi phá hoại hậu phương của Việt Minh. Những về mặt quân sự, Lai Châu rất yếu. Đó là một địa điểm vây quanh đều là núi cao bốn phía và chỉ có một sân bay nhỏ. Chỉ một trung đoàn 148 của Việt Minh cũng có thể đánh chiếm Lai Châu. Cho nên phải tính đến chuyện rút bỏ địa điểm này. Còn Nà Sản lại chẳng có giá trị gì về chính trị cũng như về quân sự, cũng nên tính đến chuyện thay Nà Sản bằng một cứ điểm khác. bởi vì ta không thể bỏ được xứ Thái. Chúng ta phải chọn trong vùng Tây Bắc một căn cứ dễ phòng ngự, dễ tiến công, có thể từ đó tung biệt kích khắp nơi và toả khắp Lai Châu. Chỉ có duy nhất một địa điểm có thể đáp ứng tất cả mọi điều kiện này: đó là thung lũng lòng chảo Điện Biên Phủ.
Chú thích:
(1) Đi về mau lên
(2) Salan đã học và nói được tiếng Lào
(3) Trong đợt công tác đầu tiên tại Đông Dương từ 1924 đến 1937, Salan là một sĩ quan cấp uý đã đảm nhiệm nhiều chức vụ cai trị hành chính ở Việt nam và Lào