Dịch giả: Nguyễn Duy Chính
Hồi 1 (a)
TUNG HOÀNH CÂU ĐẢNG THANH LƯU HỌA
TIÊU THIẾN PHONG KỲ NGUYỆT ĐÁN BÌNH

Gió bấc như dao cắt, băng tuyết đóng đầy mặt đất.
Trên con đường cái quan cạnh bờ biển Giang Nam, một đội Thanh binh tay cầm đao thương, áp giải bảy cỗ tù xa, bất kể gió lạnh đi về hướng bắc. Ba chiếc xe tù đi đầu giam riêng biệt ba người đàn ông, người nào cũng ăn mặc theo lối thư sinh, một ông già tóc bạc, hai người còn lại tuổi trung niên. Bốn cỗ xe đi sau nhốt toàn đàn bà, tù xa sau cùng là một thiếu phụ, trong tay bế một đứa bé gái, đang khóc dãy nảy lên.
Người mẹ dịu giọng ru con nhưng đứa trẻ vẫn khóc không ngừng. Tên Thanh binh đi bên cạnh nổi nóng, giơ chân đá vào tù xa, quát lớn:
- Có giỏi khóc nữa đi! Ông cho một đá chết tươi bây giờ.
Đứa bé sợ hãi, càng khóc già.
Bên đường cách chừng vài mươi trượng là một tòa nhà lớn, có một nho sinh trung niên đứng dưới hàng hiên cùng một đứa trẻ chừng mười một mười hai tuổi. Người nho sinh nhìn thấy tình cảnh đó, không khỏi thở dài một tiếng, mắt đỏ hoe chép miệng:
- Thật đáng thương thay! Đáng thương thay!
Đứa bé hỏi:
- Cha ơi, họ phạm tội gì thế?
Nho sinh đáp:
- Còn phạm tội gì nữa? Hôm qua và sáng nay đã có đến hơn ba chục người, đều là những nho sĩ nổi tiếng mạn Chiết Giang, có người nào tội tình gì đâu.
Ông ta nói đến “tội tình gì đâu”thì hạ giọng xuống, sợ quan binh áp giải tù xa nghe được. Thằng bé lại hỏi tiếp:
- Thế đứa bé con kia còn bú mẹ, không lẽ cũng có tội hay sao? Thật chẳng phải chút nào.
Nho sinh nói:
- Ngươi cũng biết quan binh chẳng phải, quả là đứa con ngoan. Ôi, người ta như dao như thớt, còn ta như cá như thịt, người ta như đỉnh như chảo, còn ta như hươu như nai.
Thằng bé nói:
- Cha ơi, mấy bữa trước cha có dạy con “nhân vi đao trở, ngã vi ngư nhục[1]” có nghĩa là để mặc cho người ta chém giết gì cũng phải chịu. Người ta là dao thái rau, là phiến gỗ thớt còn mình thì là cá là thịt. Còn câu “nhân vi đỉnh hoạch, ngã vi mi lộc[2]” chắc cũng chẳng khác bao nhiêu, phải không?
Nho sinh kia đáp:
- Đúng thế!
Y thấy quan binh và xe tù đi đã xa bèn cầm tay con nói:
- Bên ngoài này gió lớn, thôi mình vào trong nhà.
Nói rồi hai cha con liền đi vào thư phòng.
Người nho sinh cầm bút, chấm mực, viết lên giấy một chữ Lộc (鹿) rồi nói:
- Hươu là một loài dã thú, tuy to lớn nhưng tính nết cực kỳ hiền hòa, chỉ ăn cỏ ăn lá, xưa nay không làm hại giống khác bao giờ. Những giống thú hung mãnh đều muốn bắt nó mà ăn, hươu chỉ biết chạy, nếu chạy không kịp thì sẽ bị giết làm mồi cho giống khác.
Ông lại viết thêm hai chữ Trục Lộc (逐鹿) nói tiếp:
- Thành thử người xưa thường lấy chữ Lộc để chỉ thiên hạ. Dân đen thường hiền lành dễ bảo, chỉ khiến cho người ta ức hiếp sát hại. Hán Thư có viết: “Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi[3]”. Câu ấy có nghĩa là nhà Tần mất thiên hạ, quần hùng nổi lên tranh đoạt, sau cùng Hán Cao Tổ đánh bại Sở Bá Vương, lấy được con hươu vừa to vừa béo.
Thằng bé con gật đầu:
- Hài tử hiểu rồi. Trong tiểu thuyết cũng có viết: “Trục Lộc Trung Nguyên[4]”, ấy nghĩa là mọi người tranh nhau để lên làm hoàng đế.
Người nho sinh vui vẻ, gật đầu vẽ trên giấy hình một chiếc đỉnh nói:
- Cổ nhân nấu ăn, không dùng nồi để trên bếp mà dùng loại vạc ba chân như thế này, đốt củi bên dưới, khi bắt được con hươu thì bỏ vào nấu lên. Vua chúa và các quan to đều cực kỳ tàn nhẫn, nếu ghét ai thì vu cho người đó có tội, bỏ vào vạc luộc sống. Sử Ký có chép là Lạn Tương Như nói với Tần Vương: “Thần tri khi đại vương chi tội đương tru dã, thần thỉnh tựu đỉnh hoạch[5]”. Nói như thế có nghĩa là: “Tội tôi đáng chết, xin đem bỏ vào vạc mà nấu đi”.
Thằng bé con nói:
- Trong tiểu thuyết cũng thường hay nhắc đến “Vấn Đỉnh Trung Nguyên[6]”, so với “Trục Lộc Trung Nguyên” nghĩa lý cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.
Nho sinh đáp:
- Con nói đúng lắm. Đời Hạ Vũ nhà vua thu kim loại chín châu, đúc thành chín cái đỉnh lớn. Thời đó tuy gọi là “kim”nhưng đích thực chỉ là đồng. Trên những đỉnh đó có khắc địa danh chín châu và hình vẽ sông núi, hậu thế nói giữ chín cái đỉnh có nghĩa là làm chủ thiên hạ.
Tả Truyện có chép: “Sở Tử[7] duyệt binh ở biên giới nhà Chu. Định Vương sai cháu là Vương Tôn Mãn đến ủy lạo. Sở Tử hỏi xem đỉnh nhà Chu nặng nhẹ, to bé như thế nào”.
Chỉ có ai làm chủ thiên hạ mới được quyền giữ đỉnh mà thôi. Sở Tử chỉ là chư hầu một nước mà dám hỏi xem đỉnh đó to nhỏ nặng nhẹ ra sao, ấy là có dạ bất lương, muốn chiếm ngôi nhà Chu rồi.
Thằng bé con lại nói:
- Như thế “vấn đỉnh”, “trục lộc”đều chỉ việc muốn làm hoàng đế. Còn “không biết hươu chết về tay ai”có nghĩa là không biết ai sẽ lên làm vua.
Nho sinh nói:
- Đúng thế! Về sau, bốn chữ “vấn đỉnh”, “trục lộc”còn được dùng với nghĩa khác, nhưng gốc điển tích mà ra thì chỉ thuần túy nói về việc muốn làm hoàng đế.
Ông ta nói đến đây thở dài một tiếng tiếp:
- Mình chỉ là dân đen, thật chỉ có một đường chết. “Không biết hươu chết về tay ai”ấy là không biết người nào sẽ giết con hươu kia, còn con hươu đó thì chắc chắn là chết rồi.
Ông ta nói xong đi đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài, thấy trời u ám dường như sắp đổ tuyết bèn than:
- Trời già sao ác thế, mấy trăm người vô tội đi trên đường đầy băng sương thế này, nếu lại còn có tuyết thì khổ sở biết là dường nào?
Bỗng thấy từ đường cái phía nam có hai người đội nón, mặc áo tơi đồng hành, gần đến nơi nhận ra diện mạo, nho sinh mừng rỡ nói với con:
- Có Hoàng bá bá và Cố bá bá đến kìa!
Ông ta vội vàng bước ra nghênh tiếp, cất tiếng chào:
- Lê Châu huynh, Đình Lâm huynh, chắc trận gió này thổi các quan bác đến chơi chứ gì?
Người bên phải hơi đẫy đà, dưới cằm râu đen, họ Hoàng tên Tông Hy, tự Lê Châu người đất Dư Diêu, Chiết Giang. Người bên trái vừa cao vừa gầy, da ngăm đen, họ Cố tên Viêm Võ, tự Đình Lâm, người Côn Sơn tỉnh Giang Tô. Hoàng Cố hai người đều là đại nho đương thế, sau khi nhà Minh mất rồi, trong dạ lo buồn vận nước đảo điên nên ẩn cư không ra làm quan, hôm nay cùng đến Sùng Đức. Cố Viêm Võ tiến lên mấy bước nói:
- Vãn Thôn huynh, có một việc quan trọng nên đặc biệt đến để bàn thảo với tôn huynh.
Nho sinh đó họ Lã, tên Lưu Lương, hiệu Vãn Thôn, là một dật sĩ cực kỳ danh tiếng thời Minh mạt, Thanh sơ đã nhiều đời sống ở huyện Sùng Đức, Hàng Châu, Chiết Giang. Ông ta thấy hai vị Hoàng, Cố mặt mày trịnh trọng, vẫn biết Cố Viêm Võ xưa nay cực kỳ quyền biến, gặp việc rất trấn tĩnh mà lại nói là có việc khẩn cấp, ắt hẳn không phải chuyện thường nên chắp tay đáp:
- Xin hai vị trước hết vào đây uống ba chén rượu để cho bớt lạnh đã.
Sau đó mời hai người vào phòng, dặn đứa trẻ:
- Bảo Trung, con xuống nói với mẹ có Hoàng bá bá và Cố bá bá đến chơi, mau mau dọn hai đĩa thịt cừu lên nhắm rượu.
Chẳng bao lâu, thằng bé Lã Bảo Trung và em là Nghị Trung đã dọn lên ba bộ đũa bát, bày trên bàn trong thư phòng. Một người lão bộc bưng đồ ăn thức uống lên, Lã Lưu Lương đợi cho ba người lui ra rồi mới ra đóng cửa phòng lại nói:
- Hoàng huynh, Cố huynh, xin uống ba chén trước đã rồi hãy tính.
Hoàng Tông Hi vẻ mặt buồn bã, lắc đầu. Cố Viêm Võ tự rót lấy một mình, một mạch uống luôn sáu chén. Lã Lưu Lương nói:
- Hai vị đến đây có phải vì vụ án Minh Sử hay không?
Hoàng Tông Hi đáp:
- Chính thế.
Cố Viêm Võ cầm chén lên, cao giọng ngâm:
“Thanh phong tuy tế nan xuy ngã,
Minh nguyệt hà thường bất chiếu nhân?[8]”
(Lay ta gió nhẹ làm chi được,
Bóng người trăng sáng vẫn soi thôi.)
- Vãn Thôn huynh, hai câu đó của tôn huynh, quả là tuyệt cú. Mỗi khi uống rượu ta đều phải ngâm nga cho thêm hoài cảm.
Lã Lưu Lương dạ hoài cố quốc nên không chịu ra làm quan với nhà Thanh. Quan sở tại ngưỡng mộ thanh danh của ông, tiến cử ông là một dật sĩ ở sơn lâm lên triều đình, Lã Lưu Lương thà chết chứ không chịu nhận khiến viên quan kia không dám ép nữa. Về sau lại một đại quan khác tiến cử ông lên làm “bác học hồng nho”, Lã Lưu Lương thấy nếu còn cự tuyệt ắt sẽ bị mang tôi khinh mạn triều đình, hẳn sẽ có họa sát thân, nên cạo đầu đi tu, giả làm hòa thượng. Quan lại địa phương thấy ông ta kiên quyết như thế nên sau đó không còn đến yêu cầu ông xuất sơn nữa. Hai câu thơ “thanh phong, minh nguyệt”có ý mỉa mai Mãn Thanh, hoài niệm nhà Minh, tuy chưa từng in ra nhưng trong giới đồng đạo, đồng chí ai ai cũng truyêàn tụng, bây giờ Cố Viêm Võ lại đọc lên. Hoàng Tông Hi nói:
- Thơ hay thật!
Ông ta cầm chén rượu lên, uống cạn. Lã Lưu Lương đáp:
- Hai vị quá khen.
Cố Viêm Võ ngửng đầu lên thấy trên tường treo một bức tranh sơn thủy lớn cao chừng năm thước, dài khoảng hơn một trượng, bút thế tung hoành, khí tượng hùng vĩ, không khỏi tấm tắc, thấy trên tranh chỉ vỏn vẹn bốn chữ: “Như Thử Giang Sơn[9]”, bèn nói:
- Xem nét bút đây hẳn là nét đan thanh của Nhị Chiêm tiên sinh.
Lã Lưu Lương đáp:
- Chính thế!
Vị Nhị Chiêm kia họ Tra, tên Sĩ Tiêu là một họa gia nổi tiếng thời Minh mạt Thanh sơ, có giao tình rất hậu với Cố, Hoàng, Lã ba người.
Hoàng Tông Hi nói:
- Bức tranh đẹp thế này sao không thấy đề bạt nhỉ?
Lã Lưu Lương thở dài:
- Nhị Chiêm tiên sinh vẽ bức tranh này cũng có thâm ý. Có điều y là người cẩn trọng nên không để lạc khoản, cũng không đề bạt. Tháng trước y đến thăm tệ xá, bỗng nổi hứng nên vẽ tặng cho đệ, hai vị đề thêm vài câu, nên chăng?
Cố, Hoàng hai người đứng dậy, đi đến trước bức tranh xem xét kỹ càng, thấy vẽ một dòng sông cuồn cuộn chảy về hướng đông, hai bên bờ núi non trùng điệp, đầy những cây đá lạ lùng, có điều phong cảnh tuy đẹp nhưng mây giăng khắp nẻo khiến người coi xong không khỏi uất nghẹn trong lòng. Cố Viêm Võ nói:
- Như thử giang sơn, luân ư di địch. Giang sơn như thế này mà rơi vào tay di địch! Bọn chúng ta ngậm đắng nuốt cay, lê cuộc sống thừa, thực khiến cho người bi phẫn xiết bao. Vãn Thôn huynh sao không đề một bài thơ, để làm lộ cái ý của Nhị Chiêm tiên sinh?
Lã Lưu Lương liền đáp:
- Phải lắm!
Ông lập tức gỡ bức tranh xuống, trải lên trên bàn. Hoàng Tông Hi mài mực, Lã Lưu Lương cầm bút trầm ngâm một hồi rồi hạ bút viết lên, chỉ trong khoảnh khắc đã xong một bài thơ. Thơ rằng:
“Giang sơn hoa gấm thế này?
Triệt binh đành để về tay người ngoài.
Non sông ai chẳng quan hoài?
Nhai sơn một thác chôn vùi lòng son.
Ai kia vẽ cảnh núi non,
Ta đem tiếng khóc mà lồng vào đây.
Cảnh xưa nhìn lại hôm nay,
Hỏi ai ngậm đắng nuốt cay sao đành.
Tranh kia nước mắt vẽ thành,
Lệ ta pha mực đan thanh đôi hàng.
Xem tranh chua xót bẽ bàng,
Ngậm trong bốn chữ há màng thêm văn.
Ước gì Hồng Võ tái sanh,
Mù kia sáng mắt, què lành đôi chân.
Ngọc lại sáng, mây mù tan,
Muôn dân vui sướng ca vang đất trời.”
(Kỳ vi Tống chi nam độ da?
Như thử giang sơn chân khả sỉ.
Kỳ vi Nhai sơn dĩ hậu da?
Như thử giang sơn bất nhẫn thị.[10]
Ngô kim thủy ngộ tác họa ý,
Thống khốc lưu thế hữu nhược thị.
Dĩ kim thị tích tích do kim,
Thôn thanh bất dụng mai hàm chủy.
Họa tương Cao Vũ tây đài lệ.
Nghiên nhập đan thanh đề bút thử.
Sở dĩ hữu họa vô thi văn,
Thi văn tận tại tứ tự lý.
Thường vị sinh phùng Hồng Võ sơ,
Như cổ hốt đồng phả khả lý.
Sơn xuyên khai tế cố bích hoàn,
Hà xứ đăng lâm bất cuồng hỉ?)
Viết xong, Lã Lưu Lương vứt bút xuống đất bùi ngùi rơi lệ. Cố Viêm Võ nói:
- Quả là thống khoái lâm li, tuyệt diệu hảo từ.
Lã Lưu Lương đáp:
- Bài thơ này chẳng có gì hàm súc, không thể coi là hay được, chỉ vẽ lại cái nguyên ý của Nhị Chiêm tiên sinh, để người xem tranh có thể hiểu được đấy thôi.
Hoàng Tông Hi nói:
- Đến bao giờ nước non tươi sáng trở lại, khi đó “sơn xuyên khai tế cố bích hoàn”, thì dẫu có núi nghèo nước dở thế nào chăng nữa thì mình coi cũng không chán mắt, lúc ấy đúng thật là “hà xứ đăng lâm bất cuồng hỉ”.
Cố Viêm Võ đáp:
- Bài thơ này kết thực hay! Thể nào rồi cũng có ngày mình đuổi được quân Hồ Lỗ, lấy lại sơn hà cho Đại Hán chúng ta thì niềm vui đó hùng tráng gấp bao nhiêu lần cái bi phẫn hôm nay.
Hoàng Tông Hi chậm rãi cuốn bức tranh lại nói:
- Bức tranh này không còn treo được nữa rồi, Vãn Thôn huynh nên cất kỹ đi là hơn. Nếu để những kẻ gian ác như Ngô Chi Vinh trông thấy, rồi quan phải đến tra xét, lẽ dĩ nhiên Vãn Thôn huynh bị làm phiền mà còn liên lụy đến cả Nhị Chiêm tiên sinh.
Cố Viêm Võ vỗ bàn chửi:
- Cái tên cẩu tặc Ngô Chi Vinh, ta thực hận không được ăn sống nuốt tươi nó.
Lã Lưu Lương nói:
- Hại vị hạ cố đến chơi bảo là có việc quan trọng. Bọn thư sinh như mình xưa nay chỉ quen làm thơ đề họa, còn chuyện chính lại chẳng lo, không hiểu có chuyện chi thế?
Hoàng Tông Hi đáp:
- Hai chúng ta đến hôm nay cũng vì người nhà của Nhị Chiêm tiên sinh là Y Hoàng tiên sinh. Tiểu đệ và Cố huynh hôm trước được tin, hóa ra vụ án Minh Sử có liên can đến cả Y Hoàng tiên sinh nữa.
Lã Lưu Lương kinh hãi hỏi lại:
- Y Hoàng huynh cũng có liên quan ư?
Hoàng Tông Hi đáp:
- Quả thế. Chiều hôm qua hai chúng ta lật đật đi qua Viên Hoa trấn ở Hải Ninh, Y Hoàng tiên sinh không có nhà, nói là đi thăm bạn rồi. Viêm Võ huynh thấy sự tình cấp bách, dặn người nhà Y Hoàng tiên sinh trốn ngay đi, lại nghĩ Y Hoàng tiên sinh với Vãn Thôn huynh có giao tình rất hậu nên vội đến báo tin.
Lã Lưu Lương lắp bắp:
- Y...  y không đến đây, chẳng biết đi đâu.
Cố Viêm Võ nói:
- Nếu ông ta có mặt trong quí phủ thì hẳn đã ra gặp nhau rồi. Tại hạ cũng có đề một bài thơ trên tường thư phòng của y, nếu đã về nhà thì cũng minh bạch mà tìm đường trốn tránh, chỉ sợ không biết tin nên lộ diện ra bên ngoài, để quan quân bắt được, ấy mới là khốn khổ.
Hoàng Tông Hi nói:
- Vụ án Minh Sử này khiến cho tất cả danh sĩ ở Chiết Giang đều rơi vào độc thủ. Dụng ý của Thanh đình cực kỳ ác độc, tên tuổi của Vãn Thôn huynh lại quá lớn, cứ như ý của Đình Lâm huynh và của tiểu đệ, muốn khuyên Vãn Thôn huynh tạm thời xa nhà đi chơi đâu để tránh khỏi cơn phong ba này.
Lã Lưu Lương hậm hực nói:
- Hoàng đế Thát tử nếu như muốn bắt tại hạ giải về Bắc Kinh, lăng trì xử tử thì cũng phải chửi cho y một trận cho hả dạ, rồi có chết cũng cam lòng.
Cố Viêm Võ nói:
- Hào khí của Vãn Thôn huynh quả là ngất trời khiến cho ai cũng bội phục. Chỉ sợ rằng chưa gặp được hoàng đế Thát tử mà lại chết dưới tay một đứa nô tài hạ tiện. Hơn nữa, hoàng đế Mãn Thanh chỉ là một đứa bé con, chẳng hiểu biết gì, triều chính đại quyền đều ở trong tay đại thần Ngao Bái. Huynh đệ và Lê Châu huynh cũng đã nghĩ, lần này sở dĩ vụ án Minh Sử bọn chúng đánh trống khua chiêng, sấm ran chớp giật, hẳn là Ngao Bái muốn đập cho tan nhuệ khí của sĩ phu Giang Nam chúng ta đấy thôi.
Lã Lưu Lương đáp:
- Sở kiến của hai vị quả là chính đáng. Từ khi Thanh binh nhập quan đến nay, nơi Giang Bắc hoành hành không ai ngăn trở, thế nhưng đến Giang Nam thì nơi nơi đều phản kháng, những kẻ đọc sách chẳng ai là không biết cái khác biệt của Hoa Di nên đều cố tình gây hấn. Ngao Bái nhân cơ hội này nên cố tình trấn áp sĩ phu Giang Nam một chuyến cho bõ ghét.
Ôi!
Lửa đồng tuy dập nhưng nào tắt,
Gió xuân dứt đợt lại trồi lên.[11]
Trừ phi y giết sạch những kẻ đọc sách đất Giang Nam không còn một mống lúc đó mới thôi.
Hoàng Tông Hi nói:
- Đúng thế! Chính vì vậy mà chúng mình cần giữ lại tấm thân hữu dụng để một mai sống mái với quân Thát tử cho đến nơi đến chốn, chứ nếu chỉ vì cái huyết khí chi dũng nhất thời thì lại rơi vào cái bẫy của bọn chúng.
Lã Lưu Lương lúc ấy mới hiểu ra, Hoàng Cố hai người đội mưa chịu lạnh đến đây, một là đi tìm Tra Y Hoàng, hai là bảo mình lánh đi, e ngại mình nhịn không nổi, bỏ mạng một cách uổng phí, cái lòng của người bạn tốt quả thật cảm kích không biết chừng nào, bèn đáp:
- Những lời khuyên chí tình vàng đá của hai vị, huynh đệ nào dám không tuân theo? Ngay sáng sớm mai, toàn gia huynh đệ sẽ tránh đi một bước.
Hoàng Cố hai người mừng rỡ, cùng nói:
- Thôi thì cứ thế.
Lã Lưu Lương trầm ngâm nói:
- Thế nhưng không biết muốn trốn tránh thì đi đâu mới xong?
Ông chỉ thấy trời đất bao la nhưng chỗ nào cũng là đất của Thát tử, không một chỗ nào có thể bình an. Ông ngâm lên:
“Tìm đâu ra chốn Đào Nguyên?
Để ta tránh được bạo quyền một phen.[12]”
Cố Viêm Võ đáp:
- Trên cõi đời bây giờ lấy đâu ra được chỗ Đào Nguyên? Chúng ta chẳng nên tính chuyện “độc thiện kỳ thân”, trốn lánh lo cho một mình mình...
Lã Lưu Lương không để cho y dứt lời, vỗ bàn đứng dậy lớn tiếng nói:
- Đình Lâm huynh trách cứ như thế phải lắm, quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, tạm thời trốn lánh thì nên thế nhưng nếu lại kiếm một chỗ cây reo suối chảy, tiêu dao tự tại, mặc cho bách tính sinh linh chịu khổ dưới móng ngựa của bọn Thát Đát thì lòng mình sao yên? Huynh đệ quả là lỡ lời.
Cố Viêm Võ mỉm cười đáp:
- Huynh đệ những năm gần đây lang bạt kỳ hồ, kết giao được không ít bằng hữu. Từ nam chí bắc sông Trường Giang mắt thấy tai nghe đã nhiều, không phải chỉ kẻ đọc sách phản đối Thát tử, mà cả dân ngu khu đen, phu phen chợ búa, đâu đâu cũng có kẻ máu nóng dâng tràn, khẳng khái hào hiệp. Vãn Thôn huynh cũng là có ý, ba chúng ta cùng đi Dương Châu để huynh đệ dẫn kiến tôn huynh với vài anh em đồng đạo, liệu có nên chăng?
Lã Lưu Lương mừng rỡ nói:
- Thế thì còn gì bằng! Anh em mình ngày mai đi Dương Châu, hai vị ngồi chơi, huynh đệ vào từ biệt chuyết kinh để bảo tiện nội thu xếp hành lý.
Nói rồi hấp tấp đi vào nội đường. Chẳng bao lâu Lã Lưu Lương trở lại thư phòng hỏi:
- Vụ án Minh Sử tuy bên ngoài người ta bàn tán xôn xao nhưng những tin đồn miệng vị tất đã xác thực, thứ nữa người nói lại cực kỳ dè dặt, không dám nói hết, huynh đệ thui thủi một mình ở đây nên chỗ biết chưa tường tận, không biết nguyên do là thế nào?
Cố Viêm Võ thở dài một tiếng nói:
- Bộ Minh Sử đó, anh em ta cũng đã coi qua rồi, bên trong đối với bọn Thát tử không có gì cung kính, quả là có thật. Sách này vốn dĩ do tướng quốc Đại Minh chúng ta là Chu Quốc Trinh soạn ra, viết về việc ở quan ngoại thì làm gì có chuyện nể nang cho được?
Lã Lưu Lương gật đầu:
- Nghe nói nhà họ Trang ở Hồ Châu tốn mất đến mấy ngàn lạng bạc mới mua được nguyên cảo của con cháu nhà Chu tướng quốc, lấy tên mình in ra, có ngờ đâu gây ra đại họa thế này.
°
Ở phía tây Chiết Giang là ba phủ Hàng Châu, Gia Châu, Hồ Châu nằm bên bờ Thái Hồ, địa thế bằng phẳng, đất đai màu mỡ, sản xuất nhiều thóc gạo tơ tằm. Huyện đứng đầu ở Hồ Châu là Ngô Hưng, đời Thanh chia làm hai huyện Ô Trình, Qui An. Nơi đó vốn là chốn văn chương chữ nghĩa, xưa nay lắm danh sĩ xuất thân, đời nhà Lương có Thẩm Ước chia tiếng Trung Quốc ra làm bốn thanh bình thượng khứ nhập, đời Nguyên thì có Triệu Mạnh Phủ cả thư lẫn họa đều đứng đầu, hai người đều từ Hồ Châu mà ra. Đương địa lại sản xuất bút nổi tiếng, bút Hồ Châu, mực Huy Châu, giấy Tuyên Thành, nghiên Đoan Khê Triệu Khánh là những món thiên hạ trì danh trong văn phòng tứ bảo.[13]
Phủ Hồ Châu có trấn Nam Tầm, tuy tiếng chỉ là một trấn nhưng so với những châu huyện tầm thường còn lớn hơn nhiều. Trong trấn phú hộ rất đông, trong đó có một gia tộc nổi tiếng họ Trang. Khi đó nhà phú hộ họ Trang tên là Trang Duẫn Thành, sinh được mấy người con, trưởng tử tên là Đình Long, thích đọc thi thư từ nhỏ, kết giao rất đông đảo danh sĩ Giang Nam. Đến đời Thuận Trị, Trang Đình Long vì đọc sách quá nhiều nên đột nhiên bị lòa, đã tìm đủ loại danh y nhưng không sao chữa khỏi, trong lòng uất ức không vui.
Một hôm kia, có một thanh niên họ Chu ở gần bên đem tới một bộ thủ cảo[14], nói là di cảo của tổ phụ Chu tướng quốc muốn dùng làm vật thế chân để mượn vài trăm lượng bạc. Họ Trang xưa nay vốn khẳng khái, vẫn thường giúp đỡ con cháu Chu tướng quốc, nay đến mượn tiền cũng không cần y phải lấy vật gì cầm cố. Thế nhưng thanh niên họ Chu kia nói rằng sau khi mượn tiền rồi sẽ đi xa, nếu bộ di cảo này đem theo trong người e rằng thất lạc, còn để ở nhà thì lại không yên tâm nên muốn giữ tại nhà họ Trang. Trang Duẫn Thành nghe thế mới bằng lòng. Sau khi gã họ Chu đi khỏi, Trang Duẫn Thành muốn con đỡ buồn mới sai những người có chút chữ nghĩa trong nhà đọc sách đó cho con nghe.
Bộ Minh Sử Cảo của Chu Quốc Trinh phần lớn đã in ra thành sách lưu truyền nhân thế. Thế nhưng lần này người cháu ông ta đem đến nhà họ Trang để cầm là nhiều thiên liệt truyện viết sau cùng. Trang Đình Long nghe đọc mấy hôm cảm thấy hứng thú đột nhiên nghĩ ra: “Xưa kia Tả Khâu Minh cũng lòa đôi mắt, vậy mà chỉ viết một bộ Tả Truyện nên tiếng để muôn đời. Ta hiện nay mắt cũng mù, nhàn cư không có việc gì làm, sao không viết một bộ sử để lưu truyền hậu thế?”.
Con nhà đại phú làm chuyện gì cũng dễ dàng. Y có hứng làm chuyện đó lập tức mời ngay mấy người học thức đến đem bộ Minh Sử Cảo đó từ đầu đến cuối đọc cho y nghe một lượt, thấy chỗ nào cần thêm vào, chỗ nào cần bỏ bớt liền nói ra để cho tân khách chép lại.
Thế nhưng nghĩ bụng mắt mình đã lòa rồi không còn thể nào đọc hết các sách vở được nữa, bộ Minh Sử này soạn ra nếu còn nhiều chỗ sai lầm thì đã chẳng được tiếng tăm gì mà lại làm trò cười cho thiên hạ thành thử y không ngại bỏ tiền bạc mời những danh sĩ hồng nho, hết sức sửa sang để sao tận thiện tận mỹ mới vừa lòng. Nếu có những bậc đại học vấn tiền tài không thể mua chuộc được, Trang Đình Long lại khẩn khoản nhờ người khác, dùng lời lẽ nhún nhường mời mọc. Đất Thái Hồ vốn dĩ nhiều danh sĩ, được Trang gia mời đến, phần vì thương y mù lòa cảm kích tấm lòng thành, hai nữa việc giúp một tay tu bổ Minh Sử cũng là một việc tốt nên hầu hết đều đến nhà họ Trang làm khách dăm bữa nửa tháng, hoặc giú việc sửa lại những sai lầm, hoặc thêm bớt cho thêm văn vẻ, hoặc chép giùm một vài chương. Thành thử bộ Minh Sử đó quả là tập trung được nhiều đại thủ bút. Cuốn sách làm xong chưa bao lâu thì Trang Đình Long tạ thế.
Trang Duẫn Thành thương xót đứa con bạc mệnh nên lập tức lo việc in ra. Đời Thanh muốn in một quyển sách quả không phải dễ mà phải gọi thợ khắc thành mộc bản, lúc ấy mới in thành sách được. Bộ Minh Sử đó rất dày, tiền công khắc bản gỗ và in ấn rất tốn kém. Thế nhưng nhà họ Trang lắm bạc nhiều tiền, lập tức dọn ngay mấy căn phòng lớn làm xưởng việc, gọi thêm thợ chỉ mấy năm sau sách đã in xong. Cuốn sách đó có nhan đề là Minh Thư Tập Lược, người soạn là Trang Đình Long, lại mời danh sĩ Lý Lệnh Triết đề tựa. Tất cả những người đã từng giúp đỡ hoàn thành cuốn sách đều được in ở đầu, nào là Mao Nguyên Minh, Ngô Chi Minh, Ngô Chi Dung, Lý Nhưng Đào, Mao Thứ Lai, Ngô Sở, Đường Nguyên Lâu, Nghiêm Vân Khởi, Tưởng Lân Trưng, Vi Kim Hựu, Vi Nhất Viên, Trương Tuấn, Đổng Nhị Dậu, Ngô Viêm, Phan Sanh Chương, Lục Kỳ, Tra Kế Tá, Phạm Tương...  tổng cộng cả thảy mười tám danh sĩ.
Trong sách cũng ghi là bộ này căn cứ thêm bớt vào bản nháp của Chu thị mà thành, có điều Chu Quốc Trinh là tướng quốc nhà Minh, danh tiếng quá lớn nên không tiện để thẳng tên nên chỉ nói lập lờ là “Chu thị nguyên cảo”.
Minh Thư Tập Lược qua biết bao nhiêu tay danh sĩ học giả sử đổi chọn lựa nên quả cực kỳ đầy đủ, nói đâu ra đấy, văn chương lại chau chuốt thanh nhã, in ra rồi rất được người trong sĩ lâm tán thưởng. Trang gia lại cốt để được tiếng tăm nên giá bán thật hạ. Trong nguyên cảo mỗi khi nhắc đến người Mãn Châu, vốn dĩ không thiếu gì những đoạn chê bai, nhưng người tu đính đều đem bỏ đi hết nhưng những đoạn tán dương triều Minh không thể không có. Lúc đó nhà Minh mất chưa lâu, người đọc sách dạ hoài cố quốc nên sách in ra ai nấy đều mát lòng mát dạ, tên tuổi của Trang Đình Long nổi như cồn khắp Giang Nam, Giang Bắc. Trang Duẫn Thành tuy đau lòng nhưng thấy con người tuy mất nhưng danh vẫn còn, cũng thấy an ủi cho tuổi già.
Thế nhưng vào thời loạn, tiểu nhân đắc chí khiến người quân tử gặp tai ương. Tri huyện Qui An ở Hồ Châu tên là Ngô Chi Vinh, làm quan tham lam chẳng kể gì đến phép nước, trăm họ hận y tận xương tủy, khiến cho có người tố cáo nên bị triều đình cách chức. Ngô Chi Vinh làm tri huyện Qui An tuy bòn rút được đến trên vạn lạng bạc nhưng khi lệnh cách chức xuống rồi, y chạy đôn chạy đáo khắp nơi để khỏi bị tù tội nên bao nhiêu tiền bạc tích cóp được đều hết nhẵn, đến cả gia nhân cũng bỏ đi đâu không biết. Y quan chức lẫn tiền bạc đều chẳng còn, chỉ còn cách đến các nhà có máu mặt tả oán, than rằng làm quan thanh bạch, nay bị về vườn, chẳng còn đồng xu dính túi để ăn đường nên không thể nào qui cố hương được.
Những phú hộ đó chẳng muốn rầy rà, nên ai cũng cho y ít nhiều, kẻ mười lạng người tám lượng. Khi y đến nhà họ Chu, chủ nhân Chu Hựu Minh vốn là người chính nhân quân tử, ghét kẻ ác như kẻ thù, đã chẳng cho đồng nào thì chớ lại mắng cho một trận, bảo là các hạ làm quan, bách tính trăm điều khổ sở, họ Chu này dù có tiền thì cũng đem đi giúp cho những người bị các hạ hút máu hút mủ còn hơn. Ngô Chi Vinh tuy giận lắm nhưng cũng chẳng làm gì được, y bị cách chức rồi, quyền không mà thế cũng không, đâu có dám cà khịa với một phú gia bát ăn bát để? Sau đó y bèn nuốt hận đi sang bái phỏng Trang Duẫn Thành.
Trang Duẫn Thành bình thời chỉ kết giao với thanh lưu danh sĩ, vẫn chẳng coi bọn quan lại vào đâu, thấy y đến mè nheo, cười nhạt một tiếng, thí cho y một lượng bạc nói:
- Cái thứ người như các hạ, đúng ra một lượng cũng chẳng đáng cho, có điều nhân dân Hồ Châu chỉ mong các hạ đi sớm ngày nào khuất mắt ngày ấy, cho một lượng để cút sớm một khắc, cũng là điều hay.
Ngô Chi Vinh trong bụng tức lắm, liếc qua thấy trên bàn có để một bộ Minh Thư Tập Lược, nghĩ thầm: “Tên họ Trang này tính thích phỉnh phờ, người ta chỉ cần khen bộ Minh Thư Tập Lược này vài câu là lập tức đem tiền dâng ngay, không hề ngần ngại”. Y bèn cười cầu tài nói:
- Trang công hậu tứ, không nhận thì không cung kính. Huynh đệ hôm nay từ biệt Hồ Châu, điều đáng tiếc nhất là không mang được một bộ Hồ Châu chi bảo về quê để cho những kẻ cô lậu quả văn nơi tệ hương được mở mắt.
Trang Duẫn Thành hỏi lại:
- Cái gì mà gọi là Hồ Châu chi bảo?
Ngô Chi Vinh cười đáp:
- Trang công quả là khiêm tốn quá! Trong chốn sĩ lâm, ai ai cũng đều tấm tắc, lệnh lang Đình Long công tử thân bút soạn ra bộ Minh Thư Tập Lược, sử tài, sử thức, sử bút cả ba điều tự cổ đến nay hiếm ai hơn được, Tả Mã Ban Trang, đó là cổ kim lương sử tứ đại gia. Hồ Châu chi bảo chính là bộ Minh Sử do lệnh lang thân bút soạn ra chứ còn gì nữa.
Ngô Chi Vinh nhắc đi nhắc lại “do chính lệnh lạng soạn ra”khiến Trang Duẫn Thành nghe mà như nở hoa trong bụng. Ông biết rõ bộ sử này nào có phải do chính con mình “thân bút”đâu, trong lòng không khỏi áy náy nhưng Ngô Chi Vinh nói thế quả là gãi đúng chỗ ngứa, nghĩ thầm: “Ai ai cũng bảo gã này tham lam, là một tên tiểu nhân hèn hạ, hóa ra y cũng là người đọc sách có chút kiến thức. Thì ra bên ngoài người ta bảo tập sách của Long nhi là Hồ Châu chi bảo, bây giờ ta mới nghe lần đầu”.
Trang công mặt mày tươi rói nói:
- Vinh công nói gì mà Tả Mã Ban Trang, cổ kim tứ đại lương sử, huynh đệ có điều chưa rõ, mong được chỉ giáo.
Ngô Chi Vinh thấy Trang Duẫn Thành dịu hẳn lại, biết rằng cá đã cắn câu, trong bụng mừng thầm, liền đáp:
- Trang công chẳng nên quá khiêm tốn. Tả Khâu Minh soạn Tả Truyện, Tư Mã Thiên soạn Sử Ký, Ban Cố soạn Hán Thư đều là những danh tác truyền từ nghìn xưa, thế nhưng sau Ban Cố, đại sử gia chẳng còn ai nữa. Âu Dương Tu soạn Ngũ Đại Sử, Tư Mã Quang soạn Tư Trị Thông Giám, văn chương tuy xuất sắc nhưng tài ba, kiến thức có phần chưa đủ.
Mãi đến thời thịnh thế nhà Đại Thanh ta, lệnh lang thân bút soạn ra một bộ Minh Thư Tập Lược bừng bừng như thế mới có được người cùng Tả Khâu Minh, Tư Mã Thiên, Ban Cố ba vị tiền bối tịnh giá tề khu, thành thử người đời mới có câu “Tứ Đại Lương Sử, Tả Mã Ban Trang”.
Trang Duẫn Thành cười híp cả mắt, hai tay xoắn tít lại luôn mồm:
- Nói quá thôi! Nói quá thôi! Cái câu Hồ Châu chi bảo quả là không dám nhận.
Ngô Chi Vinh nghiêm mặt nói:
- Cái gì mà không dám nhận? Bên ngoài ai ai cũng nói: “Trong Hồ Châu tam bảo sử, lụa và bút thì Trang sử đứng đầu.”
Tơ tằm và bút lông của Hồ Châu là hai đặc sản nổi danh, Ngô Chi Vinh tuy phẩm hạnh bết bát nhưng được cái nhanh mồm nhanh miệng, xuất khẩu thành chương, ghép ngay Trang sử chung với Hồ ti, Hồ bút; Trang Duẫn Thành nghe thế hết sức vừa lòng.
Ngô Chi Vinh lại tiếp:
- Huynh đệ đến quí xứ làm quan, hai bàn tay trắng chẳng tơ hào gì. Hôm nay đành muối mặt đến xin Trang công một bộ Minh Sử để đem về làm bảo vật truyền gia, sau này con cháu nhà họ Ngô ngày đêm dùi mài, may ra tài nghệ kiến thức tiến triển, làm rạng rỡ cho tổ tiên, âu cũng là nhờ hậu tứ của Trang công.
Trang Duẫn Thành cười đáp:
- Thế thì xin phụng tặng.
Ngô Chi Vinh lại đẩy đưa thêm vài câu nữa, không thấy Trang Duẫn Thành tỏ ý gì khác, lại đem bộ Minh Sử ra ca ngợi một hồi. Thực ra bộ sách đó y chưa đọc đến một trang, nên chỉ nói lòng vòng nào là sử tài cao siêu hiếm có, sử thức phong phú, trác tuyệt. Trang Duẫn Thành nói:
- Vinh công xin ngồi nán lại một chút.
Nói xong đi vào hậu đường. Qua một lúc sau, một gia đinh bưng một cái bọc ra, để lên bàn. Ngô Chi Vinh thấy Trang Duẫn Thành chưa xuất hiện, vội vàng cầm cái bao lên nhắc nhắc thử, bao đó tuy to nhưng nhẹ hều, hiển nhiên bên trong chẳng có tiền bạc gì, trong lòng hết sức thất vọng. Một hồi sau, Trang Duẫn Thành trở lại đại sảnh, bưng cái bọc lên, cười nói:
- Vinh công coi trọng thổ sản của chúng tôi quá vậy xin kính tặng.
Ngô Chi Vinh tạ ơn, cáo từ đi ra, chưa đến khách điếm đã cho tay vào mò thử, quả nhiên là một bộ sách, một cuộn tơ tằm và vài mươi cây bút. Y mất bao nhiêu công lao miệng lưỡi, vẫn tưởng Trang Duẫn Thành ngoài bộ Minh Sử ra, thể nào cũng tặng thêm cho vài trăm lượng bạc, ngờ đâu món quà chỉ đúng có “Hồ Châu tam bảo”mà y thuận miệng bịa ra, bèn chửi thầm: “Con mẹ nó, cái bọn tài chủ ở Nam Tầm này đều tính khí nhỏ nhen. Âu cũng là tại mình nói sai, chứ nếu như nói Hồ Châu tam bảo là vàng bạc và Minh Sử thì có phải đã khá rồi không?’.
Y hậm hực quay về khách điếm, cầm chiếc bao vứt toẹt lên bàn, rồi lăn ra ngủ, khi tỉnh dậy thì trời đã tối, giờ ăn của quán cũng qua rồi, y cũng không buồn gọi mang cơm lên, vừa buồn bực vừa đói lòng càng thêm day dứt nên không sao ngủ được, khi ấy mới cởi chiếc bao, lật bộ Minh Thư Tập Lược ra xem. Vừa xem được vài trang bỗng thấy ánh vàng lấp lánh, hóa ra có một lá vàng. Tim Ngô Chi Vinh đập thình thình, vội vàng đưa lên xem kỹ, chẳng phải vàng y thì là gì? Y vội vàng cầm lên giũ giũ, trong sách rơi ra đủ mười lá vàng, mỗi lá ít nhất cũng phải năm tiền, mười trương vàng lá ấy là năm lượng hoàng kim. Thời đó vàng quí, năm lượng vàng tính ra bằng bốn trăm lượng bạc.
Ngô Chi Vinh mừng không đâu kể xiết, nghĩ thầm: “Lão họ Trang quả là giảo quyệt, y sợ mình xin bộ sách này rồi về quăng đi, không thèm mở ra, thành ra mới cài vàng lá vào trong sách, để nếu ai chịu đọc sách của con y thì người ấy có phúc nhặt được tiền. Đúng rồi, ta phải đọc vài trang học thuộc vài đoạn, sáng mai đến nhà y tạ y tặng vàng, tiện thể sẽ ca tụng văn chương thêm một chập nữa. Y sung sướng không chừng lại cho thêm vài lạng vàng nữa”.
Y bèn khêu đèn cho sáng, mở sách ra đọc, đọc đến đời Vạn Lịch năm thứ bốn mươi bốn, Thái Tổ nhà Hậu Kim Nỗ Nhi Cáp Xích tức vị, quốc hiệu là Kim, niên hiệu Thiên Mệnh, đột nhiên hơi giật mình: “Năm Bính Thìn Vua Thái Tổ lên ngôi, từ năm đó trở đi, không còn dùng niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh nữa, phải dùng Thiên Mệnh nguyên niên mới phải”.
Y tiếp tục đọc xuống dưới thấy năm Đinh Mão Kim Thái Tông tức vị rồi, trong sách vẫn để năm thứ bảy Thiên Khải đời Minh chứ không đề Đại Kim Thiên Thống nguyên niên. Từ năm Bính Tí trở đi nhà Hậu Kim đổi quốc hiệu là Thanh, cải niên Sùng Đức, vậy mà trong sách vẫn đề Sùng Trinh năm thứ chín chứ không chép là Đại Thanh Sùng Đức nguyên niên, năm Giáp Thân trong sách viết năm Sùng Trinh thứ mười bảy chứ không viết Đại Thanh Thuận Trị nguyên niên. Đến sau khi Thanh binh nhập quan rồi, năm Ất Dậu sách vẫn chép Long Võ nguyên niên, năm Đinh Hợi thì chép Vĩnh Lịch nguyên niên mà hai niên hiệu Long Võ, Vĩnh Lịch chẳng qua chỉ là của Đường Vương, Quế Vương, người viết sách rõ ràng tôn lên như những vị vua chính thống của Minh triều, chẳng coi Thanh triều vào đâu. Y đọc đến chỗ này, nhịn không nổi vỗ bàn kêu lên:
- Phản tặc! Phản tặc! Rõ rành rành ra đây rồi!
Y vỗ mạnh quá chiếc bàn rung rinh khiến ngọn đèn lật nghiêng, dầu sóng ra dính đầy bàn tay y. Trong đêm tối y chợt nghĩ ra, hết sức mừng rỡ như điên cuồng: “Cái này chẳng phải là ông trời cho mình một món hoạnh tài hay sao? Thăng quan phát tài cũng ở đây mà ra cả”.
Y nghĩ thế trong lòng sướng quá bất giác kêu ầm lên. Bỗng nghe điếm tiểu nhị gõ cửa hỏi vọng vào:
- Khách quan! Khách quan! Có chuyện gì thế?
Ngô Chi Vinh cười đáp:
- Không có gì cả.
Y đốt đèn dầu lên, đọc lại một lần nữa. Tối hôm đó y đọc suốt tới khi gà gáy mới để nguyên quần áo lên giường nằm nhưng vì mới tìm thêm ra đến bảy tám chục chỗ văn tự cấm kỵ thành thử trong giấc mơ cũng vẫn thỉnh thoảng cười sằng sặc.
Mỗi khi thay đổi một triều đại, niên hiệu của tân triều cực kỳ quan trọng rất dễ phạm cấm vì ngôn ngữ văn tự dễ khiến cho người ta nhớ lại cựu trào. Minh Thư Tập Lược chép chuyện đời Minh, dùng niên hiệu nhà Minh đúng ra không có gì sai quấy nhưng trong khi việc nghiêm cấm còn gay gắt thì chỉ sơ xẩy một chút cũng mang họa vào thân. Những người tham gia tu sử, đại đa số chỉ giúp vài quyển, chẳng ai đọc hết từ đầu chí cuối, lại thêm những ai giúp việc sửa đổi mấy quyển cuối là những người hận Thanh triều thấu xương, có ai chịu dùng niên hiệu Đại Thanh. Trang Đình Long là con nhà giàu có, hai mắt lại lòa không khỏi sơ xuất khiến cho kẻ tiểu nhân có dịp nước đục thả câu.
Trưa hôm sau, Ngô Chi Vinh lập tức xuống thuyền đi về hướng đông đến Hàng Châu, ở trong khách điếm viết một lá thư cáo giác, kèm luôn bộ Minh Sử đưa vào trong phủ Tùng Khôi tướng quân. Y chắc mẩm Tùng Khôi khi nhận được lá thư rồi thể nào cũng gọi y vào gặp mặt. Khi đó người Mãn Châu tra xét những âm mưu phản nghịch rất nghiêm nhặt, ban thưởng rất hậu, y lập được công to như thế này, được phục chức làm quan thể nào cũng chắc, có khi còn thăng lên mấy cấp nữa.
Ngờ đâu y ở tại khách điếm chờ đợi mỏi mòn, luôn đến hơn nửa năm, ngày ngày đến cửa phủ tướng quân nghe ngóng hỏi han nhưng chỉ như ném hòn đá xuống biển, chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Về sau y bị những kẻ canh cửa trách mắng đuổi đi không cho y đến mè nheo nữa.
Ngô Chi Vinh trong lòng bồn chồn, mấy lá vàng Trang Duẫn Thành tặng cho đã đổi ra bạc tiêu sạch rồi mà việc cáo giác chưa đi đến đâu cả, vừa buồn bực, lại vừa kinh ngạc.
Hôm đó y lang thang trong thành Hàng Châu đi ngang qua nhà sách Văn Thông Đường mới đi vào định coi ké cho qua ngày giờ, thấy trên giá sách có bày ba bộ Minh Thư Tập Lược, nghĩ thầm: “Không lẽ những chỗ mình tìm thấy không đủ để làm tội Trang Duẫn Thành hay sao? Phải tìm thêm vài chỗ đại nghịch bất đạo khác, sáng mai viết thêm một bản cáo trạng trình lên phủ tướng quân lần nữa”. Tuần phủ Chiết Giang là người Hán, còn tướng quân là người Mãn Châu, y sợ tuần phủ không muốn gây ra vụ đại án văn tự ngục này nên định bụng sẽ cáo giác với tướng quân người Mãn.
Y lật một bộ ra xem, mới coi vài trang đã hết hồn hết vía, chẳng khác gì rơi tọt vào một hầm nước đá, hoang mang vô định, không còn biết đâu vào đâu, bao nhiêu chỗ cấm kỵ trong sách tuyệt nhiên biến mất không thấy tăm hơi, từ khi Thái Tổ nhà Đại Thanh khai quốc trở về sau đều biến thành niên hiệu của Mãn Châu cả, đến cả việc Vệ đô đốc đánh vào Kiến Châu (thân thích của tổ tông nhà Mãn Thanh), cùng các nơi chép về Long Võ, Vĩnh Lịch cũng chẳng còn gì nữa. Thế nhưng văn chương từ trước tới sau đều liền lạc, những tranh sách đều mới tinh không thấy dấu vết gì tẩy xóa, không hiểu sao lại biến hóa ra thế này thực là hết sức quái lạ.
Y tay cầm bộ sử đứng trong hiệu sách ngơ ngẩn như trời trồng, qua một hồi sau mới buột miệng kêu lên:
- Đúng rồi!
Y thấy bộ sách này ngoài bìa cũng như giấy bên trong đều mới tinh mới quay qua chủ tiệm hỏi kỹ thì ra nhà buôn từ Hồ Châu mới giao lại chỉ độ bảy tám ngày gần đây. Y nghĩ bụng: “Tên Trang Duẫn Thành kia ghê gớm thật! Quả đúng là “có tiền mua tiên cũng được”, y thu hồi sách cũ, in lại bản mới làm như sách vừa in xong, còn bao nhiêu sách cũ những đoạn cấm kỵ xé bỏ cả rồi. Ôi, không lẽ mình đành bỏ cuộc hay sao?”.
Những gì Ngô Chi Vinh suy nghĩ quả đúng như thế. Thì ra Tùng Khôi tướng quân của Hàng Châu không biết chữ Hán, người sư gia trong phủ đọc được bản cáo giác của Ngô Chi Vinh ai nấy toát mồ hôi lạnh, biết rằng chuyện này liên qua cực kỳ lớn lao, cầm lá thư mà hai tay run bần bật.
Người đề lại đó họ Trình, tên Duy Phiên, là người Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Thời hai triều Minh Thanh, đề lại trong các phủ huyện mười người đến chín là người Thiệu Hưng, thành thử hai chữ “sư gia”bao giời cũng thêm “Thiệu Hưng”để thành “Thiệu Hưng sư gia”. Người đề lại đó học được kinh nghiệm của những người đi trước, thành thử làm việc đâu ra đấy cực kỳ chín chắn. Trong phủ quan mỗi khi có công văn đều do sư gia xem trước, đa số là văn thư từ các cấp hạ liêu đồng hương trình lên để khỏi có điều trách móc chê bai. Thành ra quan chức lớn nhỏ mới đáo nhiệm sở, cần nhất là phải bỏ tiền mua chuộc những vị đề lại Thiệu Hưng. Hai triều Minh Thanh tuy đất Thiệu Hưng không mấy người làm quan lớn thế nhưng lại thao túng bút mực hành chánh suốt cả trăm năm, là một kỳ tích trong lịch sử chính trị Trung Quốc.
Gã Trình Duy Phiên bụng dạ trung hậu, tin tưởng vào điều “một đời làm lại gia hại ba đời”, đã mang thân vào chốn công môn thì nên khéo đường tu. Cũng phải nói thao túng sinh sát bách tích tuy trong tay quan lại thật, nhưng đề lại chỉ thêm bớt vài chữ là có thể làm cho người ta tan cửa nát nhà, còn như khai đường mở lối một câu, cũng có thể là chết đi sống lại, thành thử nếu ở cửa quan cứu người còn to lớn gấp mấy lần nương thân thiền môn tụng kinh gõ mõ. Y thấy vụ án Minh Sử này có thể gây nên đại họa, không biết vùng Tô Chiết bao nhiêu người táng mạng phá gia, nên vội vàng xin tướng quân cho nghỉ vài ngày, lập tức ngày đêm đi thuyền đến trấn Nam Tầm Hồ Châu đem chuyện này cáo tri Trang Duẫn Thành.
Trang Duẫn Thành thấy đại họa đổ ập xuống đầu mình, kinh hãi đến mất hồn mất vía, miệng há hốc, nước dãi chảy lòng thòng, không còn biết tính làm sao, một hồi lâu mới vội vàng đứng lên quì gập xuống lạy tạ đại ân của Trình Duy Phiên rồi vấn kế y xem phải làm gì.
Trình Duy Phiên trên đường đi từ Hàng Châu đến Nam Tầm đã suy đi tính lại, tìm ra được một cách thật hay, nghĩ thầm bộ Minh Thư Tập Lược này lưu truyền đã lâu, có dấu cũng không được, chi bằng thi hành kế “phủ để trừu tân”, một mặt sai người đi khắp các tiệm sách, thu hồi tất cả các bộ Minh Sử về tiêu hủy, một mặt thuê công nhân ngày đêm in lại bản mới, bỏ hết những chỗ húy kỵ rồi đem ra lưu hành. Nếu như quan phủ có truy cứu, tra xét bản mới thấy những lời cáo giác của Ngô Chi Vinh không đúng sự thực, thế là thoát được một mối họa bất ngờ.
Y bèn nói kế đó cho Trang Duẫn Thành nghe khiến ông lão vừa mừng vừa sợ, liên tiếp rập đầu tạ ơn. Trình Duy Phiên lại chỉ hết mọi đường đi nước bước, nơi nào chỗ nào cần đút lót bao nhiêu, cửa nào quan nào cần đấm mõm, Trang Duẫn Thành vâng vâng dạ dạ nghe theo cả.
Trình Duy Phiên quay trở về Hàng Châu, chờ đến hơn nửa tháng rồi mới đem lá thư của Ngô Chi Vinh và bộ sách trình lên cho tuần phủ Chiết Giang là Chu Xương Tộ, viết thêm vài hàng vào công văn, nói là người cáo buộc ấm ức vì chuyện bị mất chức tri huyện, xin xỏ không cho để bụng thù hằn, vậy xin phủ đài tra xét minh bạch.
Trong khi Ngô Chi Vinh mòn con mắt ở khách điếm đợi chờ thì tiền bạc Trang Duẫn Thành đổ ra như nước mua chuộc khắp nơi. Hậu lễ của họ Trang đã rải khắp cửa tướng quân, cửa tuần phủ, cửa học chính rồi, nên Chu Xương Tộ nhận được văn thư, cho rằng loại sách vở như thế này là chuyện của học chính ti cai quản, lại dìm đó thêm mươi ngày nữa mới gửi sang bên ti học chính. Đề lại bên học chính ngô môn lại bỏ xó thêm nửa tháng nữa, rồi cáo ốm nghỉ ở nhà một tháng, sau đó mới viết nhì nhằng gửi cho phủ Hồ Châu. Quan phủ Hồ Châu lại ngâm tôm thêm hai mươi ngày mới gửi sang học quan huyện Qui An và Ô Trình, yêu cầu hai người xem xét. Hai viên học quan này vốn đã được Trang Duẫn Thành dấm dúi cho một món tiền to, khi đó bản mới đã in ra xong, hai người liền đem bộ đó trình lên rằng:
“Bộ sách này tầm thường sơ sài, chẳng có gì là xách động được nhân tâm, đã xem xét thật kỹ từ đầu chí cuối, không thấy chỗ nào phạm cấm cả.”
Nơi nào trình lên cũng đều thế cả, chuyện kể như xong.
Ngô Chi Vinh phát hiện bản Minh Sử mới trong thư quán, nghĩ thầm chỉ có cách nào kiếm ra được một bộ nguyên bản thì mới xin tái thẩm được thôi. Những bộ Minh Sử bản cũ ở tất cả các nhà sách tại Hàng Châu Trang Duẫn Thành đều đã mua lại hết rồi nên y vội vàng sang miền đông huyện Tích Châu lùng sục thế nhưng cũng không tìm đâu ra. Y hết sức thất vọng đành phải bỏ cuộc về quê. Thế nhưng việc cũng lạ đời, trên đường đi tại một khách điếm trông thấy chủ quán đang đọc sách, vừa đọc vừa lắc đầu, nhìn kỹ lại hóa ra y đang đọc bộ Minh Thư Tập Lược. Y mượn coi qua, té ra đó là nguyên bản. Y mừng không đâu cho xiết, nghĩ bụng nếu như đòi mua lại chắc gì y đã chịu bán, huống nữa trong túi lại hết tiền lấy gì mà mua, chi bằng ăn cắp cho xong.
Đến đêm khuya y len lén trở dậy, trộm được bộ sách liền trốn đi ngay, thấy tỉnh Chiết Giang chỗ nào quan lại cũng bị Trang Duẫn Thành mua chuộc hết rồi, thôi thì đâm lao phải theo lao, đành lên tận Bắc Kinh cáo giác.
---
[1] Người là dao thớt, ta là cá thịt
[2] Người là vạc đỉnh, ta là hươu nai
[3] Nhà Tần mất con hươu (cũng có nghĩa là mất lộc phúc), thiên hạ hè nhau đuổi nó.
[4] Đuổi hươu Trung Nguyên
[5] Thần biết rằng tội khinh nhờn đại vương quả là đáng giết, xin được bỏ vào vạc mà đun.
[6] Hỏi đỉnh Trung Nguyên
[7] Sở Tử (lúc ấy là Sở Trang Vương): Tử là một trong năm tước. Thật ra thì khi ấy Sở đã tự xưng vương (tức ngang hàng với nhà Chu) từ lâu.
[8] Hai câu này trên lấy chữ Thanh, dưới lấy chữ Minh đứng đầu ý nói hoài vọng nhà Minh, bất phục nhà Thanh.
[9] Giang sơn hoa gấm
[10] Bốn câu này nói về cuối đời Tống, Trung Hoa rơi vào tay người Mông Cổ, vua nhà Tống phải nhảy xuống biển tự tận ở Quảng Châu (Xem thêm Vó Ngựa và cánh cung, Hậu Cảnh Thiên Long Bát Bộ của Nguyễn Duy Chính)
[11] Dã hỏa thiêu bất tận, Xuân phong xuy hựu sinh.
[12] Đào Nguyên hà xứ, khả tị bạo Tần?
[13] Xem thêm Bút Nghiên, Thư Họa của Nguyễn Duy Chính
[14] Sách viết nháp, chưa in