Dịch giả: Hà Mai Anh
Chương X
TRƯỚC CỬA CÔNG

Thành phố Pô đã để lại cho tôi một kỷ niệm rất êm đềm. Mùa đông, trời ít gió. Ngày nào chúng tôi cũng diễn trò trong các phố, trong các công trường, trên các đại lộ và thu thập được khá nhiều.
Suốt mùa đông, chúng tôi ngày nào cũng có một số khán giả rất đông, phần nhiều là trẻ con Anh, những em trai da thịt hồng hào, những em gái nhỏ xinh tươi với đôi mắt dịu dàng như đôi mắt Thùy-Nhi. Các em xem mãi và không kêu: “cứ mãi một trò”. Các em thường đem sẵn các thứ bánh ngọt trong túi để lúc xem phân phát cho Hảo-Tâm, cho các con chó và cho cả tôi nữa, do đó tôi mới biết mùi những thứ bánh ngon.
Mùa xuân đến. Ngày bắt đầu nóng thì chúng tôi cũng bắt đầu thưa khách dần. Một chiều, sau khi diễn trò, các em bé lần lượt bắt tay Hảo-Tâm và Lãnh-Nhi như để vĩnh biệt chúng tôi.
Hôm sau, chúng tôi thấy trơ trọi trong công trường không một khán giả. Chúng tôi nghĩ phải rời đi nơi khác.
Một buổi sáng, chúng tôi lên đường. Ngoảnh lại thì những ngọn tháp thành Pô đã xa mờ. Chúng tôi tiếp tục cuộc sống lang thang trên đường cái. Chúng tôi cứ thẳng trước mặt mà đi, khi xuống lũng lên đồi, khi qua rừng lội suối, cứ đi như thế không biết bao nhiêu là ngày, bao nhiêu là tuần, bên tay phải chúng tôi vẫn thấy dẫy Py-rê-nê xa trông như đám mây thành.
Rồi một buổi chiều, chúng tôi đến một thành phố lớn, ở trên dòng sông con, trong miền ruộng đất phì nhiêu. Nhà cửa xây toàn bằng gạch đỏ trông không đẹp mấy. Đường xá rải bằng sỏi vừa rắn vừa nhọn làm đau chân những kẻ lữ hành, đã mỏi mệt vì đi mỗi ngày mười dặm.
Thầy tôi bảo chúng tôi đã tới tỉnh Tu-lu và sẽ lưu trú ở đó ít lâu.
Theo lệ thường, công việc thứ nhất của chúng tôi là phải tìm chỗ để hôm sau ra mắt công chúng. Chúng tôi tìm được ngay vì công trường ở Tu-lu không hiếm, nhớ là về phía vườn Bách-Thảo. Ở đó có một hoa viên đẹp và râm mát bốn ngả có đại lộ đổ vào. Chúng tôi chọn một chỗ rất tốt bên lề đại lộ đó. Và buổi diễn đầu tiên đã được nhiều người thưởng thức.
Không may, người cảnh binh coi phố đó không đồng ý cho chúng tôi diễn tại chỗ ấy, hoặc vì ông ta không thích cho, hoặc chúng tôi làm ngăn trở công vụ của ông ta, hoặc vì một lẽ khác nên ông ta cố tình đuổi chúng tôi đi.
Ở hoàn cảnh của chúng tôi, nên nhượng bộ viên cảnh sát là phải, là khôn vì cuộc chiến đấu giữa những kẻ diễn trò rong với cảnh sát viên là một cuộc chiến đấu không đồng sức, cầm chắc cái thua. Nhưng, không hiểu sao thầy tôi ngày thường nhẫn nại là thế, bỗng nổi phẫn khí lên và không chịu bãi trò.
Tuy là người diễn trò nghèo túng – bây giờ mới phải thế – thầy tôi vẫn hào hãnh. Hơn nữa, thầy tôi lại cho mình là phải, sẽ được bênh vực vì không làm gì hại đến luật pháp hoặc mệnh lệnh cảnh sát cả.
Thầy tôi nhất định không nghe khi người cảnh sát đến đuổi đi.
Khi thầy tôi muốn nén tức giận, thầy tôi thường có tính tỏ ra quá lễ phép. Cứ nghe những lời bẩm gởi của thầy tôi, người ta tưởng thầy tôi đang đứng trước mặt một vị cao cấp.
Thầy tôi, mũ cầm tay, nghiêng mình trả lời người cảnh sát:
- Kính thưa vị đại diện của Nha Cảnh Sát, xin ngài sẵn lòng làm ơn cho chúng tôi xem bản sắc lệnh của Quý Nha nói về việc cấm những lẻ làm trò hèn mọn như chúng tôi không được trình diễn cái tiểu xảo của chúng tôi trên công trường này.
Người cảnh binh bảo không phải là việc cãi vã mà là việc tuân lệnh.
Vỹ-Tiên đáp:
- Đành thế. Tôi đã hiểu rõ. Tôi xin cam đoan là tuân lệnh ngay lập tức, nếu ngài đại diện cho tôi biết ngài đã thi hành khoản nào trong mệnh lệnh cảnh sát?
Hôm đó người cảnh sát quay ra, thầy tôi, mũ cầm tay giả bộ lễ phép theo tiễn chân và cúi rạp xuống chào.
Nhưng hôm sau, người cảnh sát lại đến, bước qua dây và nhảy vào giữa vòng trò đang diễn. Người cảnh sát hầm hầm bảo:
- Giàm miệng chó lại!
- Giàm miệng chó?
- Đó là luật cảnh sát, ông phải biết.
Lúc đó chúng tôi đang diễn “Liều thuốc tẩy”. Vì tấn kịch đó khai diễn hôm nay là lần thứ nhất tại thành phố này nên đông người xem lắm. Bởi thế, sự can thiệp của người cảnh sát làm cho công chúng xôn xao và bất mãn.
- Đừng phá đám!
- Để họ diễn xong đã!
Vỹ-Tiên giơ tay yêu cầu yên lặng.
Xong, cất mũ cúi chào quá thấp, lông mũ quét cả đất. Vỹ-Tiên lại trước mặt viên cảnh sát, kính cẩn nghiêng mình ba xá và hỏi:
- Kính thưa ngài đại diện khả kính của Nha Cảnh sát có phải ngài truyền tôi phải giàm miệng chó lại không?
- Phải, giàm ngay lại. Còn lôi thôi cái gì?
Vỹ-Tiên liền hướng vào công chúng và cả viên cảnh sát nói to:
- Giàm miệng Lãnh-Nhi, Hiệp-Nhi, Thùy-Nhi! Đó là ngài chưa soi xét cho. Hiện Bác sĩ Lãnh-Nhi, nổi tiếng và thông thái khắp hoàn cầu đang cho bệnh nhân uống thuốc, nếu giàm miệng bệnh nhân lại thì uống làm sao được? Kính thưa ngài, tôi xin thất lễ trình ngài biết cho rằng chính do đằng miệng mà Y học đã dùng để dẫn thuốc trị bệnh. Nay Bác sĩ Lãnh-Nhi không dám tự tiện dùng lối khác để dẫn thuốc trước mặt các vị khán giả ưu tú này.
Đến câu này, tiếng cười nổi lên vang dậy. Ai cũng khen ngợi Vỹ-Tiên và còn chế nhạo viên cảnh binh. Họ thích nhất khi thấy con Hảo-Tâm cũng làm trò trêu cợt. Nó đứng đằng sau vị đại diện cảnh sát cuộc. Nó bắt chước đúng điệu bộ của vị này, khi khoanh tay trước ngực, khi khuỳnh tay hai bên sườn, khi ngã đầu về đằng sau và nhăn nhó mặt mũi, trông không nhịn cười được.
Khó chịu về những câu nói của Vỹ-Tiên, lại bực tức bởi những tiếng cười của công chúng, viên cảnh sát coi bộ không phải là người kiên nhẫn, quay phắt ra.
Viên cảnh sát gặp ngay con khỉ đứng khuỳnh tay hai bên sườn ra vẻ đắc chí. Người và vật trừng mắt nhìn nhau trong mấy giây đồng hồ như để xem ai phải cúi mặt chịu thua.
Tiếng cười rộ lên làm viên cảnh sát bỏ đi ra, còn ngoái lại giơ nắm tay đe rằng:
- Đến mai nếu ông không giàm miệng chó, tôi sẽ biên bản trình Tòa. Bảo ông biết thế.
Vỹ-Tiên đáp:
- Đến mai! Thưa ngài, đến mai!
Rồi Vỹ-Tiên lại khúm núm cúi chào rất lễ phép. Cuộc diễn lại tiếp tục.
Tôi yên trí thế nào thầy tôi cũng đi mua “giàm” cho chó, nhưng không, suốt cả buổi chiều, thầy tôi chẳng nói gì đến chuyện cảnh sát cả. Tôi đánh bạo nhắc thầy tôi:
- Thầy nên mua giàm đeo trước cho con Lãnh-Nhi quen đi, kẻo đến lúc làm trò mới dùng sợ nó dứt ra.
- Con tưởng ta phải đeo giàm cho chó chăng?
- Trời! Thầy không xem ông Cảnh binh cố ý hành ta?
- Con cứ yên tâm. Mai ta sẽ thu xếp để khỏi phải biên bản và cũng để cho những con chó của ta khỏi phải khổ. Về mặt khác, cũng nên nhân dịp đó làm cho công chúng vui thêm. Người Cảnh binh đó có lẽ sẽ giúp chúng ta thu được nhiều tiền, vì hắn sẽ vô tình đóng một trò trong tấn hài kịch mà ta đang dự bị. Muốn thế, ngày mai con sẽ chăng giây và dạo một vài bản thụ cầm. Khi công chúng dự khá đông và người Cảnh binh đến thì sẽ có mặt ta và các con chó ở đấy. Lúc đó, hài kịch sẽ mở màn.
Tôi kém vui và thấy ngài ngại. Tôi không muốn ra chỗ diễn một mình. Nhưng biết tính thầy tôi một khi đã quyết điều gì thì khó ai lay chuyển được. Tôi đành phải vâng lời.
Sáng hôm sau, tôi đến chỗ diễn cũ xếp đặt và chăng dây. Tôi vừa dạo đàn vài tiếng đã thấy công chúng kéo đến rộn rã chung quanh vòng dây.
Mấy tháng gần đây, nhất là trong thời gian ở Pô, thầy tôi đã dạy tôi đánh thụ cầm. Tôi học không đến nỗi dở lắm. Tôi thuộc được nhiều bài, duy có khúc “Dân ca Ý” là tôi đàn và hát trội hơn cả, nhiều lần được công chúng vỗ tay tán thưởng.
Sở dĩ sáng nay công chúng đến đông như vậy là vì họ biết chuyện xảy ra hôm trước. Họ đem theo cả bạn hữu đi. Ở Tu-lu, họ không thích Cảnh binh. Họ tò mò muốn xem ông già Ý khu xử thế nào. Mặc dầu Vỹ-Tiên ngọt ngào nói: “Thưa ngài, đến mai!”, người ta cũng đoán được rằng sự gặp gỡ hôm nay sẽ có nhiều trò vui thích do ông già “cương” ra để trêu người cảnh binh vụng về và bẳn tính.
Vì thế khi thấy có một mình tôi với con Hảo-Tâm, mấy người khách đã hỏi tôi:
- Ông già Ý không đến à?
- Ông sắp đến.
Rồi tôi tiếp tục hát bài “Dân ca” của tôi. Một lát sau, không phải thầy tôi đến mà là viên cảnh binh đến. Hảo-Tâm nhìn thấy trước, nó liền khuỳnh tay lên sườn, ngửa đầu về đằng sau, đi đi lại lại nghênh ngang trong vòng dây.
Công chúng vỗ tay cười nhiều lần.
Viên Cảnh binh bực tức tròn xoe mắt nhìn tôi.
Công chúng lại cười ầm.
Tôi cũng buồn cười, nhưng lo quá, không biết chuyện này sẽ đi đến đâu. Nếu thầy tôi ở đây, thầy tôi sẽ đối đáp với viên cảnh binh. Nhưng tôi có một mình, không biết ăn đối làm sao nếu người cảnh binh hỏi tôi.
Người cảnh binh trông mặt hầm hầm, có ý tức giận lắm.
Ông ta đi đi lại lại ngoài dây, mỗi khi qua mặt tôi, ông lại liếc qua vai lườm tôi, tôi sợ có điều chẳng lành.
Con Hảo-Tâm không hiểu tình hình rất khẩn trương đó, cứ trêu người cảnh binh mãi. Nó cũng đi đi lại lại, qua mặt tôi, nó cũng ngẹo cổ lườm tôi và nhăn nhó làm cho công chúng cười phá lên.
Không dám để cho người cảnh binh khích nộ đến cực điểm, tôi gọi con Hảo-Tâm vào, nhưng nó không chịu vì cái trò đó đang làm nó đắc chí. Tôi đuổi bắt nó thì nó lại tuột đi.
Người cảnh binh đang lúc nổi sung, lóa cả mặt, tưởng tôi thúc giục con khỉ làm trò trêu ông ta, liền nhảy tót vào trong dây.
Chỉ hai bước là ông ta đến bên tôi và tát tôi một cái ngã gục xuống.
Tôi lóp ngóp bò dậy, mở mắt ra thì – ủa! Lạ quá! Không biết thầy tôi đến lúc nào mà đã đứng giữa tôi và người cảnh binh mà ông đang nắm chặt lấy cổ tay. Thầy tôi nói:
- Tôi cấm ông không được đánh đứa trẻ này nữa. Cái cử chỉ vừa rồi của ông rất hèn!
Người cảnh binh giật tay ra nhưng ông già không chịu buông.
Hai người giáp mặt nhau, nhìn nhau chòng chọc.
Người cảnh binh lúc đó mặt vàng như nghệ. Thầy tôi trông vẻ cao quý, ngữa hẳn cái đầu tóc trắng như tuyết để lộ nét mặt phẫn khái và oai hùng.
Đứng trước thái độ đó, tôi tưởng người cảnh binh phải xấu hổ lắm. Nhưng không thế, ông ta giật mạnh tay ra, túm luôn cổ thầy tôi và đẩy về phía trước một cách rất hung hãn.
Thầy tôi ức quá, đứng thẳng người, lấy cánh tay quất mạnh vào cổ tay người cảnh sát để gỡ ra.
Vỹ-Tiên hỏi:
- Ông muốn làm gì tôi?
- Tôi muốn điệu ông về bót. Ông phải đi ngay.
Vỹ-Tiên nói:
- Muốn đuổi chúng tôi, ông không cần phải đánh thằng bé.
- Không cần phải nói. Đi theo tôi.
Vỹ-Tiên, trấn tĩnh ngay, không sợ sệt gì, quay lại dặn tôi:
- Con hãy về nhà trọ. Cứ ở đó với bạn con. Ta sẽ gởi tin tức cho con hay.
Thầy tôi không nói thêm gì được nữa vì bị người cảnh binh lôi tuột đi.
Cuộc diễn của chúng tôi đã kết thúc như thế đó. Thầy tôi tưởng làm cho nó vui hơn, ai ngờ lại sinh nỗi nước này!
Cử chỉ đầu tiên của các con chó là chạy luôn theo chủ. Nhưng thầy tôi vẫy tay bắt chúng lộn lại với tôi. Tôi ngạc nhiên thấy con nào cũng đeo một cái giàm bằng giải lụa thắt thành những bông hoa rất đẹp. Lãnh-Nhi lông trắng đeo giàm đỏ, Hiệp-Nhi lông đen đeo giàm trắng bạch. Còn Thùy-Nhi lông xám đeo giàm xanh. Đó là những cái giàm phường tuồng.
Công chúng giải tán rất nhanh. Một vài người ở lại sau, bàn tán về chuyện vừa xảy ra:
- Ông già phải.
- Ông già trái.
- Tại sao người cảnh binh lại đánh thằng bé con? Nó chả có tội gì!
- To chuyện đấy! Nếu người cảnh binh khép tội kháng cự quan lệnh, ông già tất phải tù!
Tôi về nhà trọ, buồn rầu và lo lắng.
Bây giờ tôi không còn ở thời kỳ sợ ông Vỹ-Tiên như buổi đầu nữa. Nói cho đúng cái thời kỳ đó cũng ngắn thôi. Vì dần dần tôi thấy mến ông một cách thành thực và mỗi ngày tình yêu càng khắng khít hơn lên. Chúng tôi cùng sống một đời du mục. Chúng tôi ở bên nhau từ sáng đến chiều, và từ chiều đến sáng nằm chung một ổ rôm. Một người cha săn sóc con vị tất đã được như thầy tôi chăm nom cho tôi. Thầy tôi dạy tôi viết, dạy tôi làm tính, dạy tôi hát và đánh đàn. Trong những cuộc đường trường, thầy tôi cho tôi những bài học khi về điều này, khi về điều khác, tùy theo trường hợp hay sự ngẫu nhiên đưa đến vấn đề. Những ngày đông giá lạnh, chúng tôi cùng đắp chung một chăn. Những ngày trời nắng như thiêu, thầy tôi mang bớt những hành lý cho tôi khỏi đeo nặng trên đường xa. Khi ngồi bàn ăn, nói đúng ra là đến bữa ăn vì chúng tôi không có bàn ăn bao giờ, thầy tôi không bao giờ ăn lấy một mình và dành miếng không ngon cho tôi. Chúng tôi chia đều những miếng ngon cũng như những miếng không ngon. Tóm lại, chúng tôi vui buồn có nhau, ngọt bùi cay đắng có nhau. Thực ra cũng có khi thầy tôi beo tai tôi hay tát tay tôi, nhưng không phải vì những hình phạt vặt đó mà tôi quên được sự săn sóc, lời ngọt ngào và lòng âu yếm của thầy tôi – đối với tôi từ ngày tôi theo thầy tôi. Nói vắn tắt: thầy tôi thương tôi và tôi cũng mến thầy tôi. Bởi thế, cuộc chia ly này làm cho tôi đau đớn vô cùng.
Bao giờ tôi lại trông thấy thầy tôi?
Người ta đã nói đến “ngồi tù”. Thời gian ngồi khám, ước độ bao lâu? Trong thời gian đó, tôi sẽ làm gì? Sống thế nào? Sống bằng gì?
Thầy tôi có thói quen giữ tiền trong mình. Trước khi bị bắt không kịp giao tiền cho tôi.
Tôi chỉ còn một vài xu trong túi. Số tiền này đủ nuôi cả bọn, Hảo-Tâm, ba con chó và tôi không?
Mất hai ngày, tôi ngồi yên trong nhà lo lắng, không dám thò ra sân nhà trọ, săn sóc các con chó và Hảo-Tâm, xem chừng con nào cũng ngơ ngác và buồn rầu.
Ngày thứ ba, một người đem phong thư của thầy tôi cho tôi.
Thầy tôi nói trong thư rằng thầy tôi bị giữ để đến thứ bảy tới đưa ra Tòa án về tội kháng cự công chức đang thi hành nhiệm vụ và về tội làm thương tổn đến thân thể viên chức đó.
Thầy tôi nói thêm: trong khi cả giận, ta đã làm một lỗi lớn, nó sẽ làm ta khổ não. Ngày phiên tòa, con sẽ đến để lĩnh một bài học. Đoạn thầy tôi khuyên tôi mấy câu về cách cư xử. Cuối thư, thầy tôi không quên hôn tôi và bảo tôi vuốt ve các con Lãnh-Nhi, Hảo-Tâm, Thùy-Nhi và Hiệp-Nhi thay cho thầy tôi.
Trong khi tôi đọc thư, Lãnh-Nhi ngồi dưới chân tôi nghếch mõm lên ngửi hít rồi ve vẩy đuôi, thì ra nó đã đánh hơi biết được tờ giấy qua tay chủ nó. Đã ba hôm nay, bây giờ tôi mới thấy nó tươi tỉnh lên một chút.
Sáng thứ bảy, hỏi người ta tôi biết Tòa án sẽ họp 10 giờ. Nhưng mới có 9 giờ tôi đã đến Tòa trước tiên và lén vào ngồi trong một góc. Dần dần phòng đầy người. Trong đám đến xem tôi nhận thấy nhiều người quen mặt vì họ đã chứng kiến tấn kịch hôm nọ.
Tôi chẳng hiểu Tòa án và Công lý là gì. Nhưng khi vào Tòa, tôi cảm thấy một mối lo sợ mặc dầu người ta sắp xử thầy tôi chứ không phải tôi. Tôi lẩn vào ngồi sau một cái lò sưởi lớn và sát tường để không ai chú ý đến tôi.
Vụ thứ nhất không phải việc của thầy tôi. Tòa xử những người ăn cắp, những người đánh nhau. Ai cũng kêu oan và bị án cả. Cuối cùng, hai người Hiến binh kèm thầy tôi ra và để ngồi xuống chỗ ghế những người bị cáo trước.
Đầu tiên, người ta làm gì, hỏi gì và thầy tôi trả lời thế nào, tôi cũng không biết, vì tôi cảm xúc quá không nghe thấy gì và cũng chẳng hiểu gì cả. Vả lại, tôi không có ý nghe, tôi chỉ để mắt trông thầy tôi. Thầy tôi đứng đó, mái tóc bạc vuốt về đằng sau, trông có vẻ ngượng ngùng và buồn bã. Tôi lại nhìn quan tòa. Quan tòa hỏi:
- Như vậy ông thú nhận có thoi viên cảnh binh đến bắt ông nhiều cái?
- Thưa ông Chánh án. Không phải nhiều cái. Có một thoi thôi cốt để gỡ tay ông ấy túm lấy cổ tôi. Khi tôi đến chỗ diễn trò, gặp ông ấy đang tát đứa bé trong đoàn tôi.
- Đứa bé không phải con ông chứ?
- Thưa ông Chánh án, không, nhưng tôi coi nó như con tôi. Khi tôi trông thấy nó bị đánh đập, tôi tức giận, có chạy lại nắm tay ông cảnh binh để khỏi hành hung nữa.
- Chính ông có đánh viên cảnh binh?
- Nghĩa là khi ông cảnh binh nắm lấy cổ tôi, tôi phẫn uất quên hẳn ông ta là ai, chỉ thấy có người ức hiếp thì tôi chống lại. Đó là một cử động tự nhiên, không dụng tình…
- Với tuổi ông, không nên nóng giận quá thế.
- Người ta không nên nóng giận thật. Nhưng khốn nỗi nhiều khi người không làm được những điều phải làm. Ngày nay, tôi nhận thấy đúng như thế.
- Bây giờ đến lượt thầy cảnh binh.
Viên cảnh binh ra khai đúng những việc đã xảy ra, nhưng nhấn mạnh về chỗ người ta đã nhạo báng người ông ta, tiếng ông ta, điệu bộ ông ta và nhất là chỗ ông bị đánh vào cánh tay.
Khi người cảnh binh cung khai như thế đáng lẽ thầy tôi phải chú ý nghe xem có xuyên tạc không, nhưng thầy tôi nhìn xuống phòng và khắp các phía. Tôi hiểu thầy tôi tìm tôi. Tôi liền lén lên hàng nghế đầu.
Thầy tôi trông thấy tôi và nét mặt sáng bừng lên. Tôi nhận thấy thầy tôi rất mừng rỡ được gặp tôi. Bất giác, hai hàng nước mắt của tôi chảy ra.
Cuối cùng ông Chánh án hỏi:
- Đó là tất cả những gì ông khai để bào chữa? Ông còn nói thêm gì nữa không?
- Riêng về phần tôi, tôi không nói thêm gì nữa. Nhưng về phần đứa trẻ mà tôi thương như con tôi, nó sẽ phải sống một mình. Vì đứa trẻ đó, tôi kêu gọi lượng khoan hồng của Tòa và xin Tòa đừng để tôi xa cách nó lâu ngày.
Tôi tưởng thầy tôi kêu thế, thì Tòa sẽ tha bổng. Nhưng không phải thế.
Một quan Tòa nữa đứng lên nói vài phút. Xong, ông Chánh án, giọng nghiêm nghị tuyên án:
- Xét rằng Vỹ-Tiên đích xác có xúc phạm đến danh dự và thân thể của một viên chức đang thi hành phận sự, tòa phạt Vỹ-Tiên hai tháng tù ngồi và 100 phật-lăng tiền vạ.
Hai tháng tù ngồi!
Tôi đưa mắt đầy lệ nhìn thầy tôi. Cái cánh cửa đã mở cho thầy tôi vào bây giờ lại mở cho thầy tôi ra với người hiến binh đi theo rồi lại đóng sập lại.
Hai tháng trời xa cách!
Biết đi đâu bây giờ!