Dịch giả: Khanh Khanh
- 1 -

    
ương mù phủ trên mặt Đại Tây Dương, dày như một biển bông xám trắng và chỉ loãng ra thành những vệt hơi nước nhợt nhạt bên bờ. Tiếng còi tàu trầm đục vẳng về từ rất xa. Tiếng nhạc rên rỉ phát ra từ ngôi nhà xây trước khách sạn, điếm gặp gỡ hàng đêm của đám trai trẻ trong vùng, điểm hội tụ của những phút giây nhảy nhót và vui nhộn.
Wilbur Staten giơ tay quệt mồ hôi lạnh trên trán. Những ngón tay run run khi anh cầm lấy va-li. Chốc chốc ánh mắt anh ta lại liếc thật nhanh về hướng cửa sổ. Một ánh mắt đầy kinh hãi. Wilbur Staten cố gắng làm chủ nỗi sợ đang dâng đầy trong tâm khảm, nhưng chỉ uổng công.
Có thể chúng không tới. Có thể chúng chưa phát hiện ra sự biến mất của anh. Có thể…
Ở đâu đó có ai khẽ cất tiếng hát.
Wilbur Staten giật mình. Dạ dày anh thít chặt. Người đàn ông đờ đẫn đứng lại, chỉ trong một giây đồng hồ toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi, anh ta lắng nghe bầu trời đêm bên ngoài.
Tiếng hát ngưng một thoáng, rồi lại cất lên. Wilbur Staten biết giai điệu đó:
“Song of Death” (Bài ca cái chết).
Wilbur Staten biết cái giai điệu đang khiến cho đám trẻ con phát điên phát khùng lên trong các sàn nhảy từ vài tuần nay, anh thuộc cả lời bài hát quái gở. Và anh ta biết cả người đàn ông đang lẩm nhẩm bài hát đó một mình, lẩm nhẩm bất cứ nơi nào gã xuất hiện một cách không ngơi nghỉ, không mệt mỏi như muốn dứt đứt tới sợi dây thần kinh cuối cùng của người nghe.
Gã đến rồi.
Gã đã nhận được lệnh, đã tìm dấu vết và sẽ thực hiện công việc của gã.
Wilbur Staten run bần bật. Trong một thoáng, anh ta đã muốn với lấy điện thoại và gọi số cấp cứu. Nhưng anh ta biết giờ thì quá muộn rồi. Anh ta phải tự lo lắng lấy một mình, phải tận dụng cơ hội cuối cùng, phải chiến đấu.
Cố nén cơn run rẩy đang rung lắc cả người anh ta như một đợt sốt cao, Wilbur vội vàng mở va li ra, nâng nắp lên cao và gạt một vài áo sơ mi sang bên. Những ngón tay của anh ta bao quanh cán khẩu Beretta. Một món vũ khí tốt, đáng tin cậy và được chăm sóc hoàn hảo. Ra vẻ kiểm tra, anh kéo cần gạt. Anh ta chưa bao giờ sử dụng khẩu súng này. Anh ta sợ tới lúc phải nổ súng. Nhưng lần này anh ta không còn con đường nào khác, nếu anh ta muốn sống sót.
Hai làn môi mím chặt, Wilbur Staten nhỏm dậy, tắt ngọn đèn nhỏ trên bàn, lướt tới bên cửa sổ.
Vạn vật bên ngoài yên tĩnh. Chỉ có ngọn gió từ Đại Tây Dương rì rào khe khẽ trong bụi cây.
Với một cử chỉ uyển chuyển, nhanh nhẹn, Wilbur Staten nhào người lên trên bậu cửa số. Gương mặt người đàn ông có vẻ căng thằng, góc cạnh và tàn nhẫn, khi anh ta nhảy ra ngoài nền đất, lẹ làng không một tiếng động, rồi ngay lập tức dán lưng vào sát tường. Tư thế của anh ta bây giờ có nét tỉnh táo, căng thẳng, chăm chú như một người thợ săn.
Ánh mắt của Jenna Becks  rời chiếc đồng hồ treo tường lòe loẹt sang phía máy điện thoại. Những khuôn cửa kính phản chiếu rõ hình ảnh của cô: mái tóc để thẳng màu vàng, hai con mắt thẫm màu, một thân hình thon mảnh săn chắc trong quần jeans, áo T-Shirt và áo khoác bằng da màu đen. Jenna thoáng rùng mình. Trận mưa giông đã khiến không khí lạnh hơn. Ngoài ra cô cũng bị thấm nước mưa, cô sẽ cảm lạnh nếu không uống thuốc kịp thời. Đột nhiên, cơn giận dữ trong cô bùng dậy. Giận dữ Bernie, giận dữ người bạn lạ mặt của anh ta, giận dữ cái khách sạn tồi tệ này và giận dữ cả cái sáng kiến điên khùng mà bây giờ cô thấy chẳng còn thật sự hay ho như trước nữa.
Cô đã cân nhắc lâu rồi mà vẫn chưa quyết định xem có nên gọi điện cho người đàn ông béo phị bên dưới quầy tiếp tân, hỏi thăm tình hình của vị khách ở Bungalow số 9. Cô biết tên anh ta, nhưng không biết mặt. Rất có thể anh ta không tới. Rất có thể gã trai mà cô quan sát là một người khác, là một khách qua đường hoàn toàn bình thường, hiền lành. Và Bernie sẽ không phải là lần đầu tiên bỏ trốn trước chính sáng kiến của mình.
Mặc dù vậy, Jenna vẫn quyết định không gọi điện cho quầy tiếp tân. Cô không tin gã đàn ông béo phị đó. Hắn ta thuộc dạng người ở bất cứ xó xỉnh nào cũng sẽ rất thính nhạy đánh hơi ra ngay cơ hội kiếm những đồng dollar thật nhanh, và sẵn sáng bán cả bà nội của mình cho đối phương nếu nhận đủ tiền. Mà số tiền gã trai ở Bungalow số 9 đang mang bên mình có thể hấp dẫn bất kỳ ai mặc dù nếu suy cho cùng, chúng cũng chẳng có giá trị hơn những mẩu giấy được dùng để in chúng.
Jenna lại nhìn xuống đồng hồ. Khốn nạn, còn phải chờ bao lâu nữa?
Ánh mắt cô hướng về phía chiếc túi đựng máy ảnh đang đặt trên bàn, bên cạnh số báo đang mở rộng của tờ “Buổi sáng Manhattan”. Bài trên trang nhất của tờ báo địa phương để cập đến số lượng tiền giả hiện đang như một con ma ám ảnh toàn bộ khu vực New York. Một giọng văn giận dữ thâm hiểm, chất đầy những lời trách móc hướng về phía cảnh sát, phần còn lại chỉ là  những tiên đoán mù mờ, vô căn cứ. Nếu Jenna gặp may tối hôm nay, thì sáng ngày mai cũng trên chỗ đó sẽ là một câu chuyện đầy thú vị với những dữ liệu chắc chắn. Thỉnh thoảng quá khứ của Bernie cũng có giá trị riêng của nó. Nhưng mà chỉ thỉnh thoảng thôi. Cô em gái anh ta sẵn sàng từ bỏ câu chuyện giật gân này, nếu thay vào đó cô có thể đưa Bernie ra khỏi New York, nơi cái hiểm họa bị quá khứ săn đuổi và tóm gáy luôn luôn hiện hữu.
Thở dài, Jenna lại quan sát đống đầu mẩu thuốc lá gom đầy trong gạt tàn.
Khi tiếng huýt sáo cất lên ở thảm cỏ rộng phía bên ngoài phòng, cô gái bất giác giật mình. Ngay sau đó, cô tự rủa thầm mình là đồ ngu. Chẳng lẽ cô đã quá sợ mà quáng gà ư? Chỉ là một trong những vị khách đi dạo đêm để hít thở không khí trong lành sau một ngày nóng nực thì đã có chuyện gì bất bình thường. Chỉ có ý thích về âm nhạc của kẻ lạ mặt kia là Jenna không thể thông cảm. Gã ta đang hát bài ca tử thần. Bài “Song of Death” quái gở đã vọt lên vị trí dẫn đầu bảng Chart và dai dẳng bám trụ trên đó như một con bạch tuộc đã hóa ma.
“Hãy  ném cây đàn guitar đi và cầm lấy vũ khí”, đó là câu đầu. Ném guitar, cầm vũ khí. Toàn bộ những lời nhạc quái gở đạt đến đỉnh cao điên khùng của nó trong lời thúc gọi: “Giết, giết, giết!”
Đồ ngu, Jenna nghĩ thầm. Cô rất hiểu tại sao một số đài radio thẳng thừng tuyên bố không bao giờ đưa bài nhạc này lên làn sóng của họ. Trong một thoáng, cô lắng nghe, trán nhăn lại, cho tới khi tiếng huýt sao ngưng. Thế rồi cô gái nhún vai, châm cho mình điếu thuốc mới.
Sau một hồi, cô lại nghe thấy tiếng bước chân trên con đường rải sỏi, những âm thanh đã được làm dịu xuống phần nào qua lớp cửa sổ đóng kín. Thêm một lần nữa, vị khách đi dạo tối lại lẩm nhẩm hát một mình. Lần này gã ta hát thành lời. Jenna thậm chí còn hiểu và nghe thấy một vài câu.
“Hãy ném cây đàn guitar đi
Và cầm lấy vũ khí.
Bạn được sinh ra để giết
Bạn là một chiến binh giữa chiến trường…”
Được sinh ra để giết… Đúng là một trò điên không thể tả! Jenna lắc đầu dữ dội, mái tóc vàng bay tung lên. Cô là người có bản tính bộc phát, rất dễ nổi giận, có thể bực tức vì cả những chuyện bị người khác coi là vặt vãnh. Cái tay mê âm nhạc quái gở ngoài kia hiện thời là chuyện hết sức vặt vãnh, cô gái tự nhắc nhở mình. Theo thói quen, cô đưa tay vuốt một lọn tóc bướng bỉnh và cài ra sau vành tai. Và trong khi nữ nhà báo vẫn còn tiếp tục suy nghĩ về bài ca thần chết kỳ quặc kia thì tiếng hát mù mờ đã ngưng lại ngay ngoài cửa sổ.
Đúng lúc Jenna muốn uống nốt ngụm Gin Tonic còn lại trong cốc thì việc xảy ra.
Như một vụ nổ dữ dội, tiếng súng xé rách màn đêm tĩnh lặng. Cô gái trẻ giật mình, buông bật lửa xuống, lắng nghe.
Phía ngoài công viên lại có tiếng nổ của súng lục lớn nòng. Và hòa vào tiếng của phát súng thứ hai là tiếng thét.
Một tiếng thét gay gắt, kéo dài, rung hàng giây đồng hồ trong không khí rồi hạ xuống ngập ngụa trong rên rỉ để rồi ngừng bặt như bị cắt giữa chừng.
Tiếng thét của một con người lọt vào tay Tử Thần…
°
°°
Sương mù phía trời Đông nằm như một bức tường bằng bông trắng và dày, với những đường viền hơi loãng ra, tưa lởm chởm. Còn bên bờ biển New Jersey, lớp hơi nước đó đã tan ra phần nào và bị xé thành những đám mây mỏng, tạo nên những hình ảnh kỳ quặc đang nhợt nhạt sáng lên dưới ánh trăng. Chiếc mô-tơ  (moteur) chạy điện của con thuyền nhỏ không mui rù rì khe khẽ. Cánh cảnh sát bờ biển thuộc khu vực Sandy Hook đã cho chúng tôi mượn con thuyền này. Nó cho phép người ta chuyển động trên mặt nước mà hầu như không gây tiếng động. Thay vào đó, chúng tôi phải canh chừng thời gian pin bị hết. Thế nhưng một chàng đặc nhiệm vốn quen bị hành hạ đâu có nề hà chuyện gì khi nhận được một lời mách bảo nóng bỏng, mà kẻ mách bảo lại muốn làm ra vẻ ngoắt ngoéo, bi kịch.
Đúng là con la ngốc, - anh bạn Phil Decker của tôi lẩm bẩm, trán nhăn lại chăm chú nhìn về hướng những đường nét lờ mờ của bãi biển.
Anh không rủa tôi, mà rủa gã đàn ông muốn gặp chúng tôi lúc nửa đêm ở một địa điểm quái gở thế này: “Vịnh ma” – người ta gọi vị trí này như thế và nằm ở giữa chừng con đường nối Sandy Hook với Long Branch. Hai lưỡi đất mảnh và dài nhô ra bao quanh một con vịnh nhỏ, hầu như chẳng bao giờ được khách tắm ngó ngàng tới vì những vách đá nứt nẻ nguy hiểm. Thêm vào đó, trong suốt những năm qua đã dần hình thành ở đây một dạng nghĩa trang tàu thủy hoang dã. Một hôm đã có một con thuyền buồm rất lớn gặp bão và tìm cách chui vào vịnh né tránh, nhưng lại đâm phải một dải đá ngầm mấp mé dưới mặt nước. Con thuyền giờ vẫn còn nằm trơ ra bởi phí tổn đưa xác nó ra khỏi nơi này quá cao. Sau đó đến những phương tiện giao thông khác, những con thuyền máy cỡ nhỏ, thuyền buồm, những chiếc xe thể thao đã bị hư hỏng trở nên vô dụng. Cơ quan hành chính thuộc khu vực Long Branch từ lâu đành cay đắng chia tay với mọi hy vọng chống chiọi với làn sóng tự giác này. “Vịnh ma” trở thành một khái niệm riêng và trở thành một địa điểm cứ phải vài năm mới một lần được một đám thanh niên Rocker lang thang nhớ tới.
Giờ thì Bernie Beck “bỏ chạy” đã làm ổ ở đây.
Cái biệt danh “bỏ chạy” ra đời bởi Bernie là chuyên gia trốn chạy. Con đường danh vọng rất ngắn ngủi chỉ bao gồm một chuỗi những thất bại, trục trặc. Bao giờ cũng thế, cứ đến giây phút quyết định thì lòng dũng cảm của Bernie lại biến đâu mất. Ở vụ gần đây nhất, những kẻ tòng phạm của Bernie, những kẻ sau khi chơi trò cướp của đột ngột đứng trơ ra trong mưa vì không có xe đến đón, suýt nữa đã vặn cổ anh chàng. Thêm vào đó, anh ta còn phải ngồi hai năm trong tù, bởi cả băng đảng đã bị tóm gọn. Kể từ đó, Bernie rất sợ. Bernie trở thành người trung thực. Và khi một tay bạn cũ đang cần trợ giúp, tìm cách gây sức ép thì Bernie đã thu gom lòng dũng cảm để gọi điện cho FBI.
Bên tai tôi vẫn còn văng vẳng giọng nói hốt hoảng của anh ta.
Các ông có thể tóm nó, các ông đặc nhiệm! Tôi sẽ dọn sẵn nó lên tận đĩa cho các ông xơi. Khốn nạn, tôi không muốn lại bị kéo vào rác rưởi. Mà các ông thì muốn biết cái thứ “hoa giấy” đó ở đâu ra, đúng không? Đây là một vụ của FBI đúng không?
Hoa giấy! Đó là một danh từ, một tiếng lóng, một con mồi non hấp dẫn tột cùng, đã khiến chúng tôi không ngần ngừ chấp nhận tất cả những điều kiện nghe đầy bí hiểm của Bernie. Chúng tôi thật sự rất muốn biết những tờ một trăm dollar giả hiện đang lưu hành toàn bộ khu vực New York đó từ đâu mà ra. Các bạn đồng nghiệp trong bộ phận chống tiền giả cho tới nay chỉ biết rằng, đây là loại “hoa giấy” được làm tinh vi nhất, giống thật nhất kể từ nhiều năm nay. Thường chúng chỉ bị phát hiện ra khi chúng cùng với doanh thu của các siêu thị, của các restaurant và không biết bao nhiêu cơ sở khác dồn tụ về nhà băng, tức là vào thời điểm mà người ta không thể truy ngược ra con đường của chúng nữa. Chúng được in ở đâu, bộ máy phân phát hoạt động ra sao, tất cả vẫn còn là một câu đố. Chỉ có một điều chắc chắn là trong khu vực New York, đám “hoa giấy” này nở rộ hơn là ở các thành phố khác. Dù nở rộ hơn không nhiều nhưng yếu tố này vẫn phải có nguyên nhân của nó.
Bernie khẳng định rằng tay bạn cũ của anh ta có cả một bao tải đầy “hoa giấy”. Mà muốn phân phát đám hoa đó vào tay người lương thiện gã ta cần sự trợ giúp của Bernie. Nhưng Bernie không muốn. Anh ta đã mê món tiền thưởng mà bộ phận chống tiền giả đã treo giá cho những lời mách bảo hữu hiệu hơn.
Cẩn thận, Jerry! – Phil cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. – Cậu ngồi dịch vào giữa thuyền đi, nếu không bọn mình bị nghiêng bây giờ.
Anh có lý. Con đường vào vịnh quá hẹp, mà phía trước tay lái đang có một vài đám bọt lấp lóe, đánh dấu một số dải đá nguy hiểm. Tôi tập trung tư tưởng gắng hòa thuyền của mình vào những nhịp sóng. Sóng biển hôm nay không lớn, bị chắn lại hầu như hoàn toàn bởi những lưỡi đất lởm chởm vách đá nhô dài ra ngoài. Phía bên trong vịnh chỉ lấp lánh những gợn sóng lăn tăn, khe khẽ vỗ vào những mạn thuyền han rỉ. Tôi xoay bánh lái khi mũi thuyền của chúng tôi tách ra khỏi sóng. Chăm chú, tôi cố gắng phát hiện những vách đá dựng đứng, những mỏm đá đen sì nhô cao lên như những cái đinh khổng lồ, và cái bóng đe dọa của dải đá ngầm vẫn còn ngoạm lấy con thuyền buồm bị nạn kia.
Tôi nheo hai mắt lại.
Không có chuyển động nào trên con thuyền buồm khi chúng tôi đi qua. Cột buồm phụ đã bị gãy lìa ra, cột buồm chính bị nứt, lá buồm đã ẩm mục lung lay trong gió nhẹ. Nhưng cabine lái tàu trông vẫn có vẻ chắc chắn. Thậm chí những khuôn cửa sổ vẫn còn nguyên. Những ánh đèn run rẩy ma quái xuyên qua đá, bụi bao nhiêu năm chồng chất. Tôi đoán Bernie Becks  đang đốt nến. Anh ta thuộc loại người đứng trong tối sẽ phát sợ vì chính cái bóng của mình. Tại sao anh ta lại chọn địa điểm gặp gỡ hoang vắng ma quái này? Thật là chuyện khó hiểu.
Liệu có kẻ nào đứng sau anh chàng không? – Phil hỏi, như đoán được những suy nghĩ của tôi.
Tôi nhếch miệng cười.
Đằng sau chàng ta chắc không có ai, nếu không anh ta đã bị nhét lên Alaska hoặc phi xuống Địa Ngục từ lâu rồi. Nhưng đằng sau gã bạn thì có điều bí hiểm. Nếu tay kia quả thật có một túi đầy “hoa giấy”, thì chắc chắn gã ta chỉ có thể ăn cắp nó của bọn người in ra chúng.
Hừm, - Phil lẩm bẩm.
Tôi biết anh đang nghĩ gì. Toàn bộ chuyện này khiến chúng tôi phân vân. Điểm gặp gỡ, điều kiện là chúng tôi phải đến bằng thuyền, mặc dù nếu dùng đường bộ chúng tôi cũng có thể tới đây rất bí mật, cái trò làm ra vẻ bí hiểm của Bernie, nhất là về nơi ở hiện thời của tay bạn anh ta; toàn bộ những thứ đó sao khó hiểu, phi logic. Ngoài ra, khi làm việc với Bernie, người ta luôn phải đề phòng trường hợp gã sẽ cân nhắc lại bất cứ lúc nào. Chắc hiện thời anh ta không còn thời gian để làm điều đó nữa. Cái ánh sáng run rẩy kia cho biết anh ta có mặt.
Tôi giơ tay tắt mô tơ, để con thuyền từ từ trôi những mét cuối dùng bên cạnh bãi tha ma tàu thủy.
Cả hai vách dốc đứng của mạch đá ngầm trôi từ từ về phía chúng tôi.
Tôi ước lượng, đạp lấy đà và nhảy nhẹ nhàng lên nền đá mấp mô. Phil ném dây thừng tới. Tôi buộc nó vào một mẩu đá to, trong khi anh bạn tôi cũng trèo ra khỏi thuyền. Như một vệt tối khổng lồ, con thuyền buồm nhô lên trên đầu chúng tôi. Nó nằm rất nghiêng, đến mức độ chuyện leo trèo theo vách đá và nhảy lên trên mép thuyền đã gỉ sét là trò chơi con trẻ. Theo nhau, chúng tôi lên boong, trèo qua khúc gãy của cột buồm phụ và luồn lách qua một đám hỗn mang những hòm gỗ, những mảnh buồm mục nát và những đoạn dây thừng loằng ngoằng, tới bên cầu thang dẫn xuống cabine.
Cánh cửa treo nghiêng trong bản lề và khẽ rên theo những đợt gió thổi qua. Bây giờ chúng tôi nghe thấy tiếng nhạc nho nhỏ. Phil đảo mắt lên trời. Tôi chỉ nhún vai. Bernie vốn là người không chịu được sự im lặng. Có vẻ như gã trai này chưa được thông báo rằng loài người đã phát hiện ra walkman. Nhưng dù sao gã cũng đã vặn nhạc nhỏ đến mức nó hầu như không thể tiết lộ ra gã.
Phil lắc chân gõ khẽ vào cánh cửa cabine.
Có cái gì kêu loảng xoảng. Rõ là Bernie vì sợ đã buông rơi cốc rượu, chỉ hai phút sau chúng tôi đã nhận thấy như thế. Có lẽ gã trai còn ngã ra khỏi ghế đẩu nữa, nếu cái ghế này không được xoáy đinh chặt vào sàn thuyền. Ánh sáng của ngọn nến đang nhảy nhót trên nét mặt Bernie. Anh ta cao cỡ trung bình, gầy, có đôi vai xương, hai con mắt màu xanh nhạt và nét mặt bình thường, bên dưới một mái tóc vàng lởm chởm. Căng thẳng, anh ta đứng đó và nhìn trân trối về phía chúng tôi. Chỉ sau khi lấy hơi thật sâu, tư thế anh ta mới bình thường  lại phần nào.
Chào các ông, - anh ta nói  với một  nụ cười bối rối. – Tôi… không nghe thấy tiếng các ông tới.
Nếu nghe thấy thì chúng tôi luyện tập làm gì, - tôi khô khan đáp. – Anh đã muốn bày ra cái trò thật rắc rối và bí mật, đúng không? Tại sao thế?
Ừ thì làm sao người ta biết được? Ý tôi muốn nói… e hèm… anh bạn cũ của tôi đâu có hái được “hoa giấy” trên bãi cỏ, đúng không nào.
Chúng nó đang đuổi theo anh ta phải không?
Chúng  nó là ai?
Cái bọn đã bị anh chàng xoáy mất số dollar giả đó, - tôi nhẫn nại giải thích. – Nói rõ ra đi, Bernie! Anh bạn của anh tên gì? Đang trốn ở đâu, sờ tay đến đống tiền đó bằng cách nào?
Bernie Becks  muốn giơ tay về phía chai rượu whisky. Không nói một lời, tôi rút cái chai ra khỏi ngón tay của anh chàng. Một nhân chứng say rượu là một nhân chứng không có giá trị sử dụng, mà giờ thì rõ là Bernie không còn hoàn toàn tỉnh táo nữa. Người đàn ông thở dài não nuột.
Anh bạn tôi tên là Staten, Wilbur Staten, - Bernie báo cáo. – Không biết làm cách nào mà anh ta có được đám hoa đó. Anh ta chỉ cho tôi xem và nói rằng anh ta muốn phân phát càng nhanh càng tốt. Tôi phải giúp anh ta, bởi vì Wilbur chắc sẽ không ló mặt ra được ở nơi nào nữa. Khi tôi tỏ ý không muốn, anh ta đe dọa tôi, dọa gửi đến một vài tên tóm cổ tôi, xé nát tôi. Nhưng tôi đâu có muốn thò tay vào lửa mà bốc… ra cho anh ta. Tôi không muốn bỏng tay lần nữa đâu, các ông đặc nhiệm. Tôi không muốn!
Giọng nói anh ta cao vói lên vì bực bội, hai con mắt màu xanh nhạt sáng lóe vì tức giận. Tôi cố nín cười. Cái lời đe dọa “xé nát xác” rõ ràng là trò bịa. Những ai đã tồi tệ xuống cấp tới mức độ phải nhờ vả đến sự trợ giúp của một người như Bernie “bỏ trốn”, chắc chắn chẳng có trong tay một băng đảng đấm đá đầu gấu nào. Thêm một lần nữa Bernie bị người ta xỏ mũi. Nhưng như thế càng tốt cho chúng tôi.
Thôi được, Bernie, - tôi bình tĩnh nói. – Thế anh bạn của anh bây giờ đang ở đâu?
Trong một khách sạn ở gần đây. Khách sạn Allison. Anh ấy sống ở Bungalow 9. Tôi đã ở đó khi anh ta chỉ cho tôi xem cái túi toàn “hoa giấy”. Thế nào các ông cũng tóm được anh ta. Anh ta đang ngồi đó đợi tôi đấy.
Nào, ta lên đường được rồi.
Tôi chỉ về phía cửa cabine vẻ thúc giục. Bernie đờ người ra nhìn tôi, rồi lắc đầu lia lịa.
Không! Tôi không đi đâu! Nếu Wilbur nhận ra là tôi đã phản bội, nó sẽ…
Wilbur chẳng làm gì đâu. Anh hoàn toàn không phải lộ ra trước mắt gã, Bernie. Chúng tôi có một vài bạn đồng nghiệp ở gần đó, họ sẽ canh chừng cho anh hoàn hảo.
Nhưng mà…
Nào đi thôi, động đậy lên!  Tôi biết anh định làm gì, chừng nào chúng tôi xoay lưng ra khỏi đây. Nhưng nếu lần này mà anh còn bỏ chạy, thì anh không nhận được tiền thưởng đâu, đúng không nào, có lý chưa?
Bernie sụt sịt mũi. Rõ là anh chàng đã muốn bỏ trốn thật. Đầu tiên cứ bỏ đi đã, đứng đằng xa nhìn xem sự việc trôi về đâu, đó chính là thứ hành động tiêu biểu cho tính cách Bernie. Nhưng cái luật về tiền thưởng thì hình như anh ta hiểu ra được.
Tuân phục số phận, anh ta lê mình bước vòng quanh cái bàn đã được đóng chặt với nền phòng. Chai rượu whisky kẹp dưới nách. Đồ hộp, bánh mì khô và nước khoáng dành cho trò ẩn nấp giờ được Bernie rộng lượng bỏ lại cả. Ra đến bên ngoài boong tàu, anh ta vươn vai lên cao và rùng mình. Rõ là tay này chẳng mấy thích không khí trong lành.
Phil là người đầu tiên tung người nhảy qua mạn thuyền, hạ cánh xuống dưới vách đá.
Cả lần này Bernie Becks  cũng làm mọi chuyện trở nên phiền toái hơn. Anh ta không dám nhảy. Thay vào đó anh ta hướng về phía một chiếc thang dây được dấu kín, đang buộc ở phía ngoài mạn thuyền. Tôi đã muốn tung người nhảy theo Phil qua boong tàu. Bernie xoay đầu định nói gì đó. Và chính trong giây phút đó, một tiếng nổ vang lên.
Theo phản ứng, tôi xoay phắt lại, ánh lửa sáng lóe. Một bản hòa âm của những âm thanh nổ, loảng xoảng, vỡ, gãy, dội đến bên tai tôi, và ngay trước mắt tôi cả khung cabine của con thuyền vỡ tung ra thành từng mảnh nhỏ như một ngôi nhà được trẻ em xếp bằng những con bài bị bay tóe ra trong gió…
°
°°
Jenna Becks  chỉ cần vài giây đồng hồ để rũ bỏ cơn sốc.
Cô đâu có phải mới làm nữ phóng viên giật gân từ ngày hôm qua, cô đã học Judo và Karate, cô đâu phải người dễ kinh hãi. Giờ cô hành động thật nhanh và chính xác. Nhảy lên, chạy đến bên cửa, tắt đèn đi. Tất cả chỉ trong một cử chỉ. Sau ba bước chân cô đã chạy dọc căn phòng, kéo rèm cửa sang bên. Cô mở cửa số một cách thận trọng để không gây ra tiếng động. Trong một thoáng cô ngưng lại, nín thở, bất động, lắng nghe chăm chú.
Lại nó!
Một giọng hát trầm và khàn, bây giờ vang lên rất rõ:
“Hãy ném cây đàn guitar đi
Cầm lấy vũ khí.
Ta được sinh ra để giết…”
Jenna mím môi. Uyển chuyển, cô nhảy ra khỏi bậu cửa sổ, đặt chân thật mềm mại xuống nền cỏ êm.
Những bước chân của cô sau đó không hề gây nên một âm thanh nào. Cô ngưng lại định hướng thật nhanh, rút khẩu súng lục Browing nhỏ xíu có cán cẩn trai ra khỏi túi, thận trọng đi về hướng đang vang lên giọng hát.
Sau một vài giây, tiếng hát ngưng.
Jenna rón rén đi tiếp. Phía bên phải cô là hồ bơi của khách sạn. Phía bên trái là con đường rất hẹp khuất dưới bóng cây, con đường nối từ khuôn viên này với xa lộ. Những bãi cỏ rộng tới mười, mười hai mét. Đằng sau đó bắt đầu một phần của công viên, chủ yếu chỉ gồm cây bụi, những luống hoa và một vài cụm thông rời rạc. Đất ở đây cũng mềm, cho thấy là chủ nhân khách sạn rất chú tâm vào việc trau chuốt những bãi cỏ. Do đó người ta có thể chuyển động mà không cần phải xuyên ngang những bụi cây và gây tiếng ồn. Jenna thấy đây là lợi thế của mình nhưng cũng là lợi thế của đối thủ. Không một âm thanh duy nhất nào cho cô biết hướng chuyển động của gã. Cô gái trẻ nhăn trán. Cô dừng lại hai lần để nghe ngóng, rồi lại đi tiếp, lòng thầm cầu may.
Suýt chút nữa cô đã vấp phải người đàn ông đang nằm trên nền đất, một nửa thân mình khuất sau một bụi cây.
Jenna nhận ra đôi chân đó trong tích tắc và ngưng phắt lại. Tim cô đập lồng lên. Vẫn không gây một tiếng động, cô đi vòng quanh bụi cây rồi cuối cùng khuỵu gối xuống thân người câm nín.
Người đàn ông ban nãy đã hét lên!
Anh ta nằm ngửa, cứng đờ và ngoặt ngoẹo một cách kỳ lạ. Hai ống chân hơi co lên, hai cánh tay như duỗi ra trong một cử chỉ tìm nơi bám víu. Hai vết đạn có rìa đen hiện ra trên nền sơ mi. Làn vải trắng thấm máu, và trên gương mặt nhợt nhạt đã hõm vào là đôi con mắt với ánh nhìn trân trối lên bầu trời đêm.