Dịch giả: Nguyễn Thanh An
- 9 -

    
25
riệu Hữu Sơn nghe thấy tiếng gọi lạnh lùng trong giấc mơ, dường như có một người không đầu, máu me be bét, đi chân đất về phía ông ta. Chiếc cổ to như miệng bát kia chốc chốc lại phụt máu. Triệu Hữu Sơn choàng tỉnh dậy, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh toát. Ông ta ngồi bật dậy, vợ ông ta - bà Lý Cẩn Thái - vẫn đang ngủ say. Mỗi lần choàng tỉnh trong cơn ác mộng lúc nữa đêm, Triệu Hữu Sơn luôn ghen tỵ với vợ, lòng thầm nghĩ: “Mẹ nó chứ, không hiểu con mụ này dựa vào đâu mà ngủ yên ổn thế chứ. Mình thì luôn bị ác mộng giày vò tới mức muốn chết đi, còn mụ đàn bà chẳng biết quan tâm này chỉ biết xòe tay đòi tiền mình mà thôi”.
Sau cái chết khó hiểu của hai tay đao phủ, trong lòng Triệu Hữu Sơn luôn xuất hiện dự cảm xấu, mặc dù ông ta không tin chuyện hồn ma của Lăng Sơ Bát thực sự biết giết người. Lý Cẩn Thái giấu ông ta đi mời pháp sư ở phố huyện về nhà trừ ma, đồng thời còn hắt máu chó, dán bùa lên cửa chính. Điều này khiến Triệu Hữu Sơn bực bội vô cùng, bởi ông đường đường là cục trưởng cảnh sát mà còn phải sợ ma quỷ quái gì chứ, nhưng ông ta cũng không trách Lý Cẩn Thái, bởi bất luận thế nào bà Lý Cẩn Thái cũng muốn tốt cho ông, vì sự bình an của ông nên mới làm vậy.
Hôm đó, Du Trường Thủy lặng lẽ tới nhà ông ta, đưa cho ông ta một bài thuốc, nói rằng nếu trúng độc sẽ bảo vệ ông ta được bình an vô sự. Mặc dù ông rất cảm kích trước tấm lòng của Du Trường Thủy nhưng trong lòng không tán đồng. Lăng Sơ Bát đã bị chặt đầu, ông không sợ hồn ma của cô ta, cho dù vẫn còn những người đàn bà nuôi trùng độc nữa thì bọn đó cũng không dám tới phố huyện tác oai tác quái, và quan trọng nhất là trong tay ông có súng, ông không tin pháp thuật của người nuôi trùng độc lại ghê gớm hơn đạn được, nhiều khi ông cho rằng người dân sống ở núi ngu muội quá nên mới đề cao tác dụng của tà thuật.
Triệu Hữu Sơn liên tiếp gặp ác mộng từ sau khi chiến hữu Du Vũ Phi chết trận. Nhưng sự lo lắng của ông ta đối với thời cuộc đã chiến thắng những tin đồn thần bí có liên quan tới cái chết của hai tên đao phủ và ông Du Trường Thủy. Ông ta đã giết rất nhiều người, ông ta sợ rằng một ngày nào đó đồng bọn của những người bị ông ta giết sẽ hợp lại với nhau rồi chiếm lĩnh thành Đinh Châu, sau đó chúng sẽ áp giải ông ta tới pháp trường, chặt đầu ông ta.
Triệu Hữu Sơn cảm thấy mồ hôi trên người mình lạnh như băng, ông ta bất giác rùng mình. Ông giơ tay vớ lấy bộ quần áo trên chiếc tủ đầu giường khoác vội vào người. Cũng tới lúc ông nghĩ về đường lui của mình, nhưng ông còn có thể chạy đi đâu được nữa? Nghĩ tới việc này, lòng ông lại sốt sắng như có lửa đốt vậy.
Triệu Hữu Sơn chửi một tiếng: “Bà nó chứ”, rồi châm một điếu thuốc trong bóng tối.
Đầu thuốc lúc sáng lúc tối khiến cho mặt ông ta đổi màu.
Lúc này, ông ta nghe thấy một tiếng cười của đàn bà, tiếng cười rất lạnh lùng, dường như rất gần mà cũng rất xa. Chắc không phải mình đang nằm mơ chứ? Làm gì có thứ đàn bà con gái nào lại cười nhạt giữa đêm hôm khuya khoắt thế này chứ? Bà vợ Lý Cẩn Thái vẫn ngủ say như chết bên cạnh, rất yên tĩnh, bọn hầu gái trong nhà chắc chẳng có đứa nào phát điên bò dậy cười như thế đâu. Hay có thể do quãng thời gian gần đây ông thường xuyên gặp ác mộng nên sau khi tỉnh mới bị ảo giác chăng?
Một lát sau, ông ta lại nghe thấy một tiếng cười nhạt của đàn bà.
Sao lại có thể thế được? Triệu Hữu Sơn dí đầu thuốc vào mu bàn tay, ngay lập tức rụt tay lại, cảm giác đau rõ ràng như vậy kia mà. Điều đó chứng tỏ tiếng cười của đàn bà kia thực sự tồn tại, không phải ông ta đang mơ, cũng không phải đang bị ảo giác. Triệu Hữu Sơn cảnh giác hơn, ông ta rút khẩu súng browning để dưới gối ra. Đây là khẩu súng Du Vũ Phi tặng cho ông ta. Triệu Hữu Sơn xuống giường, thắp đèn. Trong phòng, ngoài hai vợ chồng ông ta ra, không có ai nữa, nhưng ông thực sự ngửi thấy mùi tanh.
Triệu Hữu Sơn cầm khẩu browning đi tới cửa, mở cửa rồi đi vào phòng khách. Chiếc đèn dầu đặt trước bài vị tổ tiên trên bàn thờ trong phòng khách phát ra ánh sáng đỏ thẫm, càng khiến cho đêm nay thêm phần kỳ quái. Triệu Hữu Sơn cầm súng đi tuần một vòng quanh phòng khách, chẳng phát hiện được gì, tiếng cười đàn bà kia cũng biến mất. Đột nhiên, một cơn gió lạnh cuốn từ giêngs trời xộc xuống, cây đèn dầu trên bàn thờ phụt tắt. Chiếc đèn có nắp chụp bằng pha lê cho dù có gió to đến mấy cũng không dập được, vậy mà không hiểu tại sao lại nhanh chóng phụt tắt như vậy? Triệu Hữu Sơn sợ hết hồn.
Ông ta lần mò trong bóng tối, thắp lại đèn.
Phòng khách im lìm, thậm chí tới cả bọn chuột đêm nào cũng thập thò, bây giờ cũng không thấy đâu. Cả ngôi nhà tĩnh mịch, không hiểu còn có ai đang nấp trong những xó xỉnh tối tăm không? Triệu Hữu Sơn nghĩ lại những cảnh xảy ra trong mơ, nếu như thực sự có người không đầu máu me đầm đìa chậm rãi bước ra từ một xó xỉnh tối tăm nào đó thì ông ta nhất định sẽ hồn xiêu phách lạc mất.
Bàn tay cầm súng khẽ run lên, Triệu Hữu Sơn lui về phòng mình, đóng của, chốt chặt lại. Lúc này, ông ta cảm thấy mồm miệng khô cháy, giơ tay vớ lấy bình trà đặt trên chiếc bàn đắt tiền, để miệng ấm trà trên miệng mình, rồi uống ừng ực một hơi hết nữa bình. Lúc uống trà, ông cảm thấy dường như có thứ gì đó trườn vào họng.
Triệu Hữu Sơn vừa đặt bình trà vào bàn, thì nghe thấy một tiếng cười lạnh lùng. Tiếng cười đó từ trong phòng khách vọng ra cửa.
Trong giây lát, Triệu Hữu Sơn rùng mình.
Một lúc sau, ông cảm thấy bụng bắt đầu đau âm ĩ. Không xong rồi, lẽ nào hồn ma của Lăng Sơ Bát thực sự xuất hiện, không những thế còn hạ độc ông, và trùng độc đó ở chính trong bình trà. Triệu Hữu Sơn nhận ra rằng sự phòng bị của mình đã tan vỡ, ông ta gọi to một tiếng: “Lý Cẩn Thái!”.
Lý Cẩn Thái nghe thấy tiếng gọi của chồng, liền bước ngay xuống, nhìn thấy chồng đang ôm bụng, lăn lộn dưới đất. Bà ta kinh hãi tái mặt, không biết phải làm gì, chỉ nghe thấy Triệu Hữu Sơn nhắc: “Mau, mau đi tìm đơn thuốc trị trùng độc Du Trường Thủy cho, mau phái người đi bốc thuốc đi!”.
Bà Lý Cẩn Thái lúc này mới tỉnh lại, mở cửa phòng gọi to: “có chuyện rồi, có chuyện rồi!”.
Sau đó bà ta trở lại phòng mình tìm đơn thuốc, đơn thuốc do bà ta cất giữ. Bà luôn tin lời của Du Trường Thủy, không vứt đơn thuốc lung tung, mà cất trong hộp trang sức của mình.
Triệu Hữu Sơn đang nằm trên giường thoi thóp thở, sắc mặt xám xịt, mắt đỏ ngầu, bụng không ngừng trướng lên, lúc này đã như cái đèn lồng. Dần dần, ông ta không còn cảm thấy đau đớn nữa, trên người ông ta chỉ còn sót lại hơi thở thoi thóp, thứ duy nhất minh chứng ông ta đang còn sống.
Một ông lang già ngồi ở đầu giường, bắt mạch cho Triệu Hữu Sơn.
Người nhà Triệu Hữu Sơn đứng đầy trong phòng, chốc chốc lại có bạn bè của ông ta vội vàng tới, mọi người đều mở to cặp mắt sợ hãi nhìn Triệu Hữu Sơn.
“Ông lang à, thế nào rồi?, Lý Cẩn Thái run rẩy hỏi”.
Ông lang già không nói gì, ánh mắt kỳ quái vô cùng.
Một lúc lâu sau, ông ta mới khẽ lên tiếng: “Từ trước tới giờ tôi chưa từng khám qua chứng bệnh thế này, e rằng không có cách chữa trị”.
Lý Cẩn Thái nghe xong, liền quỳ sụp ngay xuống trước mặt ông lang già, nói trong nước mắt: “Ông lang à, ông nhất định phải cứu sống Triệu Hữu Sơn, ông nhất định phải cứu sống Triệu Hữu Sơn đấy. Hữu Sơn không thể chết được, không thể chết được. Nếu Hữu Sơn chết, thì toàn bộ già trẻ lớn bé bong nhà họ Triệu này biết sống thế nào đây?”.
Hai người họ hàng kéo Lý Cẩn Thái đứng dậy.
Lúc này, bên ngoài cửa có tiếng nói: “Thuốc sắc xong rồi, sắc xong rồi”.
Mắt bà Lý Cẩn Thái phút chốc lại sáng lên niềm hy vọng, bà ta gào to: “Mau, mau cho Triệu Hữu Sơn uống thuốc, mau cho Triệu Hữu Sơn uống thuốc”.
Thuốc được bốc theo đơn thuốc Du Trường Thủy cho, sau khi sắc xong, ông lang già đút từng thìa từng thìa vào miệng Triệu Hữu Sơn. Không ai nói gì, chỉ còn nghe thấy tiếng thuốc đổ vào họng Triệu Hữu Sơn, trong phòng nồng nặc mùi tanh khó chịu quyện với mùi thuốc bắc thành thứ mùi khó ngửi vô cùng. Ông lang già khó khăn lắm mới đút được hết bát thuốc cho Triệu Hữu Sơn, đưa bát cho người nhà rồi bắt mạch lại cho Triệu Hữu Sơn, mắt nhìn chăm chú vào khuôn mặt xám xịt của người bệnh.
Toàn thân Lý Cẩn Thái run bắn, bà nhìn chằm chằm vào mặt chồng, không nói năng gì, nước mắt tuôn rơi thành dòng trên khuôn mặt phúc hậu.
Ông lang già đột nhiên buông bàn tay đang bắt mạch cho Triệu Hữu Sơn, đứng dậy, môi run run, mọi người không hiểu đã xảy ra chuyện gì.
Sau đó, mọi người nhìn thấy tình cảnh như sau: sắc mặt Triệu Hữu Sơn dần hồng hào lên, cái bụng nhô cao phát ra âm thanh sắc, âm thanh đó giống như có ai đó đang kêu gào thảm thiết. Bề mặt da bụng có thứ gì đó liên tục nổi lên, như thể có gì đó đang giãy giụa trong đó vậy.
Mọi người kinh hãi quan sát sự thay đổi khác biệt trên người Triệu Hữu Sơn.
Bà Lý Cẩn Thái nghĩ thầm: “Nhất định là thuốc đã có tác dụng, cầu mong Bồ Tát phù hộ Triệu Hữu Sơn bình an, vượt qua được kiếp nạn này”.
Đột nhiên, Triệu Hữu Sơn mở mắt, cặp mắt đỏ ban nãy giờ phát ra ánh sáng xanh ghê người, ông ta ngồi bật dậy, hai tay ôm chặt bụng, há to miệng nôn thốc nôn tháo. Có người đưa chậu tới nhưng Triệu Hữu Sơn đã nôn hết ra giường. Những thứ ông ta nôn ra có màu xanh nát nát, lại còn bốc mùi tanh thối, mùi tanh nồng tác động tới tất cả mọi người có mặt trong phòng, họ đều cố gắng kiềm chế để không nôn ra.
Triệu Hữu Sơn nôn mãi, nôn mãi nhưng vẫn không ra được gì nữa, ông ta thở hồng hộc, hai tay ôm chặt lấy bụng, cái bụng vẫn trướng to... Mọi người có mặt trong phòng đều mở to cặp mắt sợ sệt nhìn miệng ông ta từ từ há rộng, chỉ trong giây lát cặp mắt phát ra màu xanh vừa nhắm lại thì một con rắn xanh trườn ra khỏi miệng ông ta. Con rắn trườn theo chân giường, qua chân của mọi người. Một lát sau thì không thấy tăm hơi nó đâu nữa. Đúng lúc này, bên ngoài cửa vọng tới tiếng gió thổi vù vù. Mọi người sửng sờ trợn tròn mắt nhìn Triệu Hữu Sơn với cái miệng há rộng đổ gập xuống giường... Rốt cuộc, đơn thuốc của Du Trường Thủy cũng không cứu được tính mạng của Triệu Hữu Sơn.
Ông lang già lầm bầm: “Cục trưởng Triệu đi rồi”.
Bà Lý Cẩn Thái ngất xỉu.
Căn phòng phút chốc hỗn loạn, có người gào khóc, có người dìu bà Lý Cẩn Thái ra khỏi phòng, lại có người đứng ngây ra...
26
Trời vừa mở sáng, Tam Lại Tử mới trở về thị trấn Đường. Hôm nay vẫn là một ngày âm u, những đám mây đen giống như khuôn mặt người chết to tướng che lấp hết bầu trời. Tam Lại Tử bước vào con đường nhỏ của thị trấn Đường, tâm trạng vô cùng phức tạp, một đám cú mèo đen bay lướt qua đường phố rồi bỏ lại tiếng kêu kỳ quặc ở đằng sau. Tam Lại Tử vội vàng tới trước cửa nhà Hồ Nhị Tẩu, phát hiện cửa nhà mụ mở toang hoang, hắn không nhớ là chính hắn đã quên không đóng cửa khi đi ra ngoài.
Lòng Tam Lại Tử nhói đau, một ngày một đêm hắn không về nhà không hiểu có xảy ra chuyện gì với mụ Hồ Nhị Tẩu không?
Hắn xông vào nhà, tìm từng phòng, từng ngóc ngách nhưng không phát hiện được bất kỳ dấu vết nào của mụ.
Mụ ấy đi đâu được nhỉ?
Lòng Tam Lại Tử nóng như lửa đốt. Hắn xông ra khỏi nhà Hồ Nhị Tẩu, bắt đầu tìm kiếm trên đường phố, nhưng cũng vẫn không phát hiện thấy mụ ta. Lẽ nào mụ lại bốc hơi như hơi nước? Gió thổi vù vù, toàn thân Tam Lại Tử lạnh cóng, bầu trời u ám không chút sức sống. Người đi lại trên đường cũng rất thưa thớt, Tam Lại Tử giữ tất cả mọi người dậy sớm lại để hỏi tình hình mụ Hồ Nhị Tẩu, họ đều lắc đầu nói không biết. Nói chung sự sống chết của mụ Hồ Nhị Tẩu chẳng hề quan trọng trong mắt họ và cũng không đáng để nhắc tới.
Tam Lại Tử vừa lo lắng vừa buồn khổ thầm thì một mình: “Chị à, chị ở đâu đây? Chị đừng dọa tôi đấy! Chị à, tôi đã về rồi, chị có hy vọng rồi. Ông Thổ Địa ơi, ông nói cho tôi biết giờ chị ấy đang ở đâu đi. Ông Thổ Địa à, ông hãy hiển linh đi, hãy để chị ấy xuất hiện trước mặt tôi đi mà”.
Tam Lại Tử nhìn thấy tay đồ tể Trịnh Mã Thủy, hắn cũng dậy sớm đang một mình đúng trước quầy róc sườn lợn.
Nhưng dường như tay đồ tể Trịnh Mã Thủy này không phải đang róc sườn lợn mà là đang róc xương người, con vật bị giết kia cũng không phải là lợn mà là mụ Hồ Nhị Tẩu. Tam Lại Tử chạy tới trước mặt Trịnh Mã Thủy rồi gầm lên: “Đồ tể Trịnh, dừng tay!”.
Trịnh Mã Thủy dừng công việc đang làm, trợn mắt nhìn Tam Lại Tử nói: “Mày nói gì thế?”.
Tam Lại Tử thở hồng hộc đáp: “Đồ tể Trịnh, sao anh lại có thể giết bà chị Hồ Nhị Tẩu, lại còn róc xương bà chị nữa, anh không phải là con người, đồ tể Trịnh à”.
Trịnh Mã Thủy giơ con dao sắc nhọn lên rồi chỉ vào đầu mũi Tam Lại Tử hét lên: “Tam Lại Tử à, có phải mày cũng điên rồi phải không? mở to cái mắt chó của mày ra mà xem, thứ tao giết là lợn hay là con mụ điên”.
Tam Lại Tử giơ tay sờ vào miếng thịt vẫn đang còn ấm nóng, rồi đưa lên mũi ngửi ngửi hít hít, hai hàng nước mắt chảy ra từ đôi mắt chuột bé xíu của hắn: “Đây không phải là chị ấy, không phải là chị ấy”.
Trịnh Mã Thủy cũng chẳng thèm để ý tới hắn, gã vẫn tiếp tục công việc của mình. Bỗng hắn ngửi thấy mùi tanh thối, người hắn run bắn lên.
Giọng của Tam Lại Tử đã dịu đi rất nhiều: “Mã Thủy à, anh có biết bà chị Hồ Nhị Tẩu đi đâu không?”.
Trịnh Mã Thủy bực tức trả lời: “Việc đó thì phải tự hỏi mày chứ, chẳng phải mày trông coi mụ ta rất tốt đấy thôi? Tại sao lạc mất mụ ta mà cũng không biết hả? Cả ngày hôm qua mày chết ở xó xỉnh nào vậy?”.
Tam Lại Tử không nói gì.
Trịnh Mã Thủy lại nói tiếp: “Ngày hôm qua mụ ta còn chạy ra chỗ tao, nói là muốn ăn thịt. Sau đó mụ ta đi về hướng ngõ Thi Niệu. Mụ ấy vốn là mụ điên mà, không biết chừng lúc ăn cứt ở ngõ Thi Niệu không cẩn thận rơi xuống hố phân chết ngạt rồi cũng nên. Sao mày không tới ngõ Thi Niệu mà tìm”.
Tam Lại Tử buồn bã đáp lại: “Tôi đã tìm ở ngõ Thi Niệu rồi, đã kiểm tra từng hố phân rồi, chỗ đó không thấy bóng dáng bà chị Hồ Nhị Tẩu. Hỡi ông Thổ Địa!”.
Trịnh Mã Thủy ngẩng đấu, ghìm giọng nói: “Những hố phân ở ngõ Thi Niệu kia hố nào cũng đầy ắp những phân, mụ rơi vào đó rồi thì sẽ bị ngập chìm trong đống phân và nước tiểu thôi, lẽ nào mày có thể nhìn thấy?”.
Tam Lại Tử nghe lời gã đồ tể nói, trên trán rịn mồ hôi.
Hắn tìm một cái que dài, rồi đi về hướng ngõ Thi Niệu.
Tam Lại Tử dùng chiếc que dài quấy quấy tùng hố phân trong ngõ, với mong mỏi có thể tìm thấy xác mụ Hồ Nhị Tẩu. Nhưng hắn đã tìm khắp mọi hố phân trong ngõ mà vẫn không phát hiện thấy xác của mụ Hồ Nhị Tẩu đâu. Mùi hôi thối khó ngửi nồng nặc bốc lên từ ngõ Thi Niệu khiến những người dậy sớm tới đó đi vệ sinh không chịu nổi, họ đều chửi Tam Lại Tử điên rồi, lại còn đi quấy hố phân lên cho thổi.
Không tìm thấy xác của mụ Hồ Nhị Tẩu ở ngõ thì Niệu, Tạm Lại Tử lại một lần nữa đi lang thang trên đường tiếp tục tìm kiếm. Bỗng nhớ tới khe suối thị trấn Đường, hắn chạy thục mạng về phía khe suối. Rất có thể mụ Hồ Nhị Tẩu tới khe suối rồi không chừng bị rơi xuống nước chết đuối cũng nên. Đây cũng là chuyện rất có khả năng xảy ra, bởi mưa liền một đêm hôm trước, nước suối dâng lên cao. Tam Lại Tử tới bên khe suối, đi men theo bờ suối về phía hạ lưu. Ánh mắt hắn tìm kiếm hai bên bờ suối, hi vọng có thể tìm thấy mụ Hồ Nhị Tẩu ở đám liễu cũng có khả năng mụ ta đang túm chặt cành liễu bằng hai tay để chờ mình đến cũng nên, cũng có khả năng xác của mụ ta mắc ở rặng liễu nào đây... Tam Lại Tử không ngừng gọi tên mụ Hồ Nhị Tẩu.
Hắn đi rất xa, nhưng vẫn không tìm thấy Hồ Nhị Tẩu, kể cả là xác mụ cũng không thấy đâu.
Tam Lại Tử tuyệt vọng rồi.
Hắn xị mặt trở về bên chiếc cầu gỗ nhỏ, đưa mắt nhìn lên những ngôi mộ nhấp nhô trên dãy Ngũ Công Lĩnh, thấp giọng nói:
Ông Thổ Địa à, tại sao Diêm vương không bắt tôi đi chứ, tôi sống còn có ý nghĩa gì đâu. Tôi cho rằng tôi có thể cứu Hồ Nhị Tẩu ra khỏi biển khổ, nhưng xem ra tôi đã sai rồi, tôi chẳng làm được việc gì. Tôi đúng là đáng chết, ông Thổ Địa à.
Trên bầu trời xám xịt xuất hiện một đàn cú mèo bay về hướng thị trấn Đường.
Ánh mắt của Tam Lại Tử dõi theo bầy cú mèo, mãi tới khi không nhìn thấy chúng nữa mới thôi. Không hiểu còn có ai chết ở thị trấn Đường nữa? Thị trấn này còn xảy ra những chuyện không ngờ nào nữa đây? Tam Lại Tử đã không còn sức để nghĩ nhiều như vậy, hắn đi lên cây cầu gỗ, lắc lư đi về phía bờ bên kia.
Trên những ngôi mộ nhấp nhô trên dãy Ngũ Công Lĩnh vẫn có những con cú mèo đậu, chốc chốc chúng lại kêu lên những tiếng quái dị, vừa thê lương lại vừa khiến người ta sợ nổi gai ốc.
Tam Lại Tử mệt mỏi bước trên sườn núi với những ngôi mộ nhấp nhô.
Hắn cảm thấy mắt mình rất nặng, nặng tới mức không thể mở ra được. Hắn khẽ rướn mắt lên nhìn, cảnh tượng tiêu điều ở đây trở nên mờ ảo. Khi hắn lê bước ngang qua một ngôi mộ, con cú mèo đậu trên đó đường như sợ hãi điều gì, hoảng hốt kêu lên một tiếng rồi vỗ cánh phành phạch bay đi. Những con cú mèo đậu ở những ngôi mộ khác cũng hoảng hốt kêu rồi bay đi. Chúng tập hợp thành đàn, giống như đám mây đen di chuyển về phía thị trấn Đường.
Gió vù vù thổi.
Tam Lại Tử như bị ma xui quỷ khiến, đi tới trước huyệt mộ đào sẵn cho mình.
Hắn đứng ở đó, lấy ra một gói giấy từ trong lòng, cái gì được gói trong gói giấy đó, hắn rõ hơn ai hết. Đó là thứ hắn xin được từ chỗ người đàn bà áo trắng. Lúc cùng cô ta rời khỏi phố huyện, khi tới một sườn núi, Tam Lại Tử đột nhiên quỳ xuống trước cô ta, khấu đầu liên tục, trán chảy cả máu, hắn vừa khấu đầu vừa cầu xin: “Cô hãy cứu lấy Hồ Nhị Tẩu đi, cứu chị ấy đi, tôi biết cô có thuốc giải, Lăng Sơ Bát đã một lần cho tôi uống thuốc giải đó”.
Người đàn bà áo trắng bịt mặt kia cười khẩy rồi nói: “Mày yên tâm đi, ta sẽ không để mày chết đâu, cũng không để mày phải đau đớn, chỉ cần mày chịu nghe lời, phục tùng ta mà làm việc, chờ ta báo thù xong xuôi sẽ đưa thuốc giải cho mày để mày có thể sống những ngày tháng bình yên”.
Tam Lại Tử khóc rống lên nói: “Không phải bây giờ tôi muốn lừa thuốc giải của cô, tôi thực sự muốn cứu bà chị Hồ Nhị Tẩu, chỉ cần cô bằng lòng đưa thuốc giải của chị ấy cho tôi, cho dù tôi có phải chết vì cô hoặc cả đời làm nô lệ cho cô, tôi cũng cam tâm tình nguyện”.
Người đàn bà áo trắng thở dài một tiếng: “Không ngờ mày cũng là người có tình có nghĩa như vậy”.
Tam Lại Tử đứng ở bên huyệt mộ, tay nắm chặt gói giấy kia, toàn thân run lên: “Chị à, tôi đã xin được thuốc giải cho chị, tại sao chị lại biến mất chứ? Không hiểu đây có phải là ý trời không vậy?”.
Đúng lúc này, Tam Lại Tử đột nhiên nghe thấy tiếng ai đó rên rỉ, tiếng rên rất yếu ớt.
Tiếng rên này sao lại quen vậy?
Lẽ nào là...
Tim Tam Lại Tử đập loạn xạ, hắn không tin tiếng rên hắn vừa nghe thấy là thật, hắn muốn cố gắng mở to mắt, nhưng lại không dám. Hắn sợ mở mắt ra sẽ phát hiện mọi thứ chỉ là hư ảo. Lại một tiếng rên, một tiếng rên của người sắp chết. Tim Tam Lại Tử như muốn nổ tung, cuối cùng hắn cũng lấy hết can đảm, rướn mí mắt nặng trình trịch như núi lên, sau đó mở to đôi mắt đã mệt mỏi bơ phờ.
Hắn nhìn thấy một người phụ nữ đang nằm co ro trong huyệt mộ, người đó ngâm mình trong đống bùn ở huyệt mộ, toàn thân đầy bùn bẩn và lá cây, mái tóc rối bù của người đó dính đầy bùn, trên mặt cũng be bét bùn, chỉ còn thấy đôi mắt hoảng sợ đơn độc đang nhìn phía trên huyệt mộ.
Người phụ nữ run rẫy đó chính là mụ Hồ Nhị Tẩu.
Môi Tam Lại Tử run lên, hắn không nói được gì, nước mắt tuôn rơi.
Đó là một buổi sáng chết chóc, gió thổi vù vù qua cánh đồng hoang...