- 3 -

    
 Bước vào cửa hiệu truyền thần, Tam Lại Tử ngửi thấy mùi mốc. Thực ra hắn đã không còn cảm giác đối với những mùi vị bất thường nữa. Nhưng trong cửa hiệu có một thứ khiến hắn không thể không quan tâm. Hắn men theo cầu thang, đi lên gác xếp, cửa sổ vẫn đóng kín mít. Gian gác xếp tối om. Vẫn là cái giường đó, không có ai động tới chăn chiếu trên giường, nó chỉ được dùng khi Tống Kha còn sống. Tam Lại Tử bước lại gần, đứng cạnh giường, rồi giơ tay chạm vào chăn. Chăn hơi ẩm, lạnh lẽo. Tam Lại Tử dường như nghe thấy tiếng thở nhẹ thân thiết. Hắn nghi ngờ rồi cảm thấy có một bàn tay thò ra từ trong chăn tóm chặt lấy hắn. Toàn thân Tam Lại Tử nóng rực lên, mắt hắn phát ra ánh sáng chói lòa màu xanh lam.

7
Tối ngày mùng 1 Tết, Trư Cốc bị một người đàn ông đánh thức. Hắn và người đàn ông kia vội vàng rời khỏi quán Tiêu Dao để tới ủy ban thị trấn Đường. Người đàn ông kia nói với Trư Cốc: “Chủ tịch Du đang đợi anh ở phòng đọc sách”.
Đầu óc Trư Cốc vẫn không tỉnh táo lắm, hắn đã định bụng ngủ một mạch tới sáng mùng Hai. Lúc hắn đi ra khỏi quán Tiêu Dao, gió lạnh vẫn không khiến hắn tỉnh táo hơn. Trư Cốc đẩy cửa văn phòng, một luồng khí nóng ập vào người hắn, luồng khí này nồng nặc mùi thuốc lào.
Chủ tịch Du đang trầm ngâm ngồi trên chiếc ghế thái sư hút thuốc lào.
Dưới chân ông ấy để một chậu than đồng, than trong chậu đang cháy đỏ.
Chủ tịch Du nhìn thấy Trư Cốc bước vào, liền đặt ống điếu xuống bàn.
Trư Cốc đi về phía Du Trường Thủy, khẽ nói: “Chủ tịch Du à, ông tìm tôi có việc gì vậy?”.
Du Trường Thủy thở dài: “Lúc chạng vạng, phố huyện có người đưa tin nói xảy ra chuyện rồi”.
Trư Cốc thót tim, đầu óc mụ mị của hắn bỗng chốc tỉnh táo lạ thường, mắt sáng lên: “Chủ tịch Du, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”.
Du Trường Thủy vuốt râu nói: “Trư Cốc, ngồi xuống đi, tôi sẽ kể cho”.
Hắn vẫn đứng đó, thành khẩn, không dám ngồi.
Giọng của Du Trường Thủy đã dịu đi: “Trư Cốc à, ngồi xuống đi!”.
Lúc này, hắn mới ngồi xuống, cặp mắt vẫn dán vào khuôn mặt gầy gầy của Du Trường Thủy.
Du Trường Thủy nói tiếp: “Trư Cốc à, người trên phố huyện đưa tin nói hai tay đao phủ hành hình Lăng Sơ Bát ở pháp trường đều đã chết rồi, đều bị trúng trùng độc”.
Trư Cốc há hốc miệng: “Hả? Lẽ nào mụ Lăng Sơ Bát vẫn chưa chết, mụ lại hạ độc họ? Nhưng rõ ràng mụ ta đã bị chặt đầu rồi mà.”
Du Trường Thủy nhìn vẻ ngỡ ngàng của Trư Cốc nói tiếp: “Việc này quả thực rất khó hiểu. Nghe nói họ chết giống hệt với một số người ở thị trấn này. Bây giờ người dân trên phố huyện cũng hoang mang sợ hãi, họ lo sợ trùng độc sẽ xuất hiện trên người mình”.
Họng Trư Cốc khô khốc, lại còn ngứa lạ, muốn ho nhưng lại không ho được.
Một cơn gió lạnh thổi từ cửa sổ vào khiến giấy dán cửa kêu sột soạt. Ánh mắt của Du Trường Thủy và Trư Cốc lộ vẻ sợ hãi tột độ, cứ như thể có người nào đó sắp phá cửa xông vào vậy. Tay Trư Cốc nắm chặt báng súng moze. Một lát sau, hắn mới nói với Du Trường Thủy: “Là gió thôi, đừng quá căng thẳng”.
Tiếp đó, Du Trường Thủy kể cho Trư Cốc nghe chuyện xảy ra buổi tối hôm qua ở nha môn phố huyện.
Hai tay đao phủ đều là người ngoại tỉnh, Tết không về quê. Không hiểu không còn người thân để đoàn tụ hay sao mà chúng không về. Một tay tên là Đỗ Ngũ, tay còn lại tên là Đinh Tam. Chúng sống ở một căn nhà nhỏ trong ngõ cạnh nha môn. Đêm 30 Tết, hai đứa nó có làm một số món ăn, coi như cơm tất niên. Ăn xong cơm tất niên, hai đứa nó rủ nhau đi xem đèn lồng. Nhà nào nhà nấy đều treo đèn lồng, các loại đèn muôn hình vạn trạng trông rất vui mắt. Chúng cứ đi trên phố, rồi vô tình tới cửa Văn Miếu, phát hiện bên trong có gánh hát đang biểu diễn, liền vào trong xem kịch. Xem xong kịch, tuyết rơi lất phất, thực ra ở trên núi tuyết đã rơi cả một ngày rồi. Chúng trở về nhà, con chó to màu vàng vẫy đuôi mừng chủ. Trong nhà đốt than nên không khí ấm áp vô cùng. Đến nữa đêm, trên phố huyện rộ lên tiếng pháo đón Tết. Từ trước tới giờ chúng chưa từng đốt pháo, năm sau sẽ thế nào, chúng chưa từng nghĩ về chuyện này. Nhưng khi nghe thấy tiếng pháo vui tai kia, chúng liền hâm lại rượu uống, vừa uống vừa nói chuyện, vô tình nói về chuyện giết người.
Đinh Tam nhấp một ngụm rượu nói: “Năm đó, tao giết một thổ phỉ, chặt đầu của hắn, hắn còn đứng dậy đi mười mấy bước mới ngã vật xuống đất. Máu từ cổ hắn phụt ra, bắn tung tóe khắp nơi, thằng thổ phỉ đó không hiểu sao lại nhiều máu thế chứ. Rất lâu sau đó, cứ mỗi lần nhớ tới thằng thổ phỉ đó tao lại không ngủ được cứ nghĩ tới chuyện ngập mình trong máu của nó, toàn thân tao đã lạnh cóng”.
Đỗ Ngũ cũng nhấp một ngụm rượu rồi nói: “Tao với mày giết nhiều người như vậy, loại người nào còn chưa gặp chứ? Tao bây giờ đã trơ rồi. Cũng không còn nghĩ được nhiều như thế nữa. Thà chết quách đi còn hơn sống dặt dẹo, thôi thì sống được ngày nào hay ngày đấy thôi, tao cũng chẳng muốn nghĩ nhiều nữa. Chính tao và mày biết đâu một ngày nào đó lại chết dưới đao của ai đó. Loại người như tao với mày là loại tội ác ngập đầu, có chết cũng sẽ bị đày xuống mười tám tầng địa ngục thôi”.
Đỗ Ngũ uống một hơi hết bát rượu to.
Chúng cứ uống như vậy, không biết uống tới lúc nào nữa. Đột nhiên, chúng phát hiện con chó vàng chúng nuôi đã biến mất.
Con chó vàng đó ngồi canh cửa, hình như nó cảm nhận được có động tĩnh gì liền chui ra khỏi ổ. Đó là con chó rất trung thành. Tuyết vẫn đang rơi đầy trời, phố huyện đã im lắng trở lại. Đột nhiên, con chó phát hiện có bóng người đứng trong ngõ không xa chỗ nó nằm lắm. Nó liền sủa về phía bóng đen đó. Bóng đen đó không bỏ đi mà bay vút lên như hồn ma vậy. Con chó vàng nhảy xô về phía bóng đen. Bóng đen vứt cái gì xuống, con chó liền tợp lấy thứ đó. Đó là một miếng thịt rất ngon, sự cảnh giác của con chó đã không còn nữa. Nó ngấu nghiến ăn hết miếng thịt. Chẳng mất chút sức lực gì, bóng đen đã khiến con chó ngã lăn ra đất, co quắp, kêu ăng ẳng vài tiếng rồi chết hẳn.
Sau khi con chó vàng chết, một bóng trắng bay vào ngõ nhỏ, bay tới trước căn nhà nhỏ của Đỗ Ngũ và Đinh Tam. Bóng đen vẫn đứng im ở chỗ cũ như một xác chết khô. Nếu có ai ra khỏi nhà vào lúc này, chắc chắn sẽ bị bóng đen kia làm cho hồn bay phách lạc mất.
Đỗ Ngũ và Đinh Tam vẫn đang uống rượu, bỗng nhiên tiếng gõ cửa vọng tới.
Chúng đưa mắt nhìn nhau, cứ như thể đứa này muốn hỏi đứa kia: “Ai lại gõ cửa vào lúc này nhỉ?”.
Tiếng gõ cửa lại vang lên.
Chúng không nói chuyện nữa. Đỗ Ngũ đi tới cửa.
Tay phải của hắn đã để lên chốt cửa nhưng vẫn chần chừ không mở.
Đinh Tam cũng đứng dậy, rút đao Quỷ Đầu thường dùng để giết người ở trên tường xuống. Hắn rút đao ra khỏi bao, dưới ánh đèn dầu đao Quỷ Đầu lóe lên ánh sáng lạnh khiến ma sợ quỷ khóc. Đinh Tam đứng ở đó, mặt lạnh tanh, nếu như có người tới trả thù, thì hắn sẽ bảo vệ mình bằng cái đao đã giết vô số người kia. Đỗ Ngũ quay lại nhìn Đinh Tam rồi khe khẽ mở cửa. Cửa vừa mở, gió lạnh cùng tuyết bay vào nhà, Đỗ Ngũ rùng mình. Bên ngoài chẳng có ma nào cả. Bỗng đèn dầu trong nhà phụt tắt, cả căn nhà tối om. Đỗ Ngũ cảm thấy có thứ gì đó đi vào nhà ngay cạnh hắn. Sau khi Đinh Tam thắp lại đèn dầu xong, Đỗ Ngũ lại kiểm trả cả trong nhà lẫn ngoài sân nhưng vẫn không phát hiện được gì.
Sợ bóng sợ gió một lúc, chúng lại tiếp tục ngồi vào bàn, bưng bát rượu uống tiếp. Vừa uống xong một bát, thì từ ngoài cửa vọng tới tiếng cười nhạt của phụ nữ, hai thằng đó ngã úp mặt xuống bàn.... Vào trưa ngày mùng 1, có người tới tìm, phát hiện chúng đã chết một cách rất đáng sợ. Toàn thân chúng trương lên, bụng trương lên như một chiếc trống, mặt sưng như cái đấu, da mặt vàng ệch. Thất khiếu chảy máu đen, và từ miệng chúng xuất hiện con rắn hoa màu xanh. Bất giác người đó nhớ tới Lăng Sơ Bát - người đàn bà nuôi trùng độc mới bị chặt đầu cách đó không lâu. Tất cả người dân trong thị trấn kinh hãi, lẽ nào Lăng Sơ Bát sống lại?
Trư Cốc bủn rủn cả người trong lời kể chậm rãi của Du Trường Thủy.
Sau khi Du Trường Thủy kể xong, Trư Cốc run rẩy lên tiếng: “Chủ tịch Du à, liệu cô ta có tới thị trấn Đường không? Vì chính chúng ta đã đi tới phố huyện báo quan bắt cô ta”.
Du Trường Thủy lấy chiếc ống điếu lên, hút một hơi dài rồi nói: “Gọi cậu tới, là để bàn bạc phải phòng họa như thế nào. Bây giờ không để ý tới việc Lăng Sơ Bát sống lại hay không mà cái chính là phải làm tốt công tác phòng bị. Đội bảo vệ của cậu phải gánh trách nhiệm lớn, nuôi quân nghìn ngày, dùng quân nhất thời, cậu phải hướng dẫn đội bảo vệ tăng cường công tác bảo vệ đối với ủy ban và trên thị trấn. Nếu phát hiện thấy có người khả nghi, cậu có thể tiền trảm hậu tấu, nhất thiết không để bọn nuôi trùng độc có bất kỳ cơ hội nào”.
Trư Cốc gật đầu lia lịa: “Em nhất định sẽ làm theo lời Chủ lịch. Chủ tịch đã cất nhắc em như vậy, em quyết không phụ lòng chủ tịch”.
Du Trường Thủy nhả ra một hơi khói đặc: “Cậu cũng phải bảo vệ tốt quán Tiêu Dao đấy!”.
“Chắc chắn, chắc chắn rồi, em biết rồi ạ.”
Du Trường Thủy khẽ cười: “Biết thì tốt, cậu quả thật biết làm việc hơn Chung Thất, xem ra Du mỗ tôi không nhìn lầm người. Được rồi, cậu đi sắp xếp công việc đi!”.
Trư Cốc đứng dậy từ biệt, đi tới cửa rồi quay người lại nói: “Chủ tịch Du, em còn có một chuyện muốn báo cáo”.
“có chuyện gì vậy? Mau nói đi!”
Trư Cốc chun mũi nói: “Thằng Tam Lại Tử phá hỏng khóa cửa hiệu truyền thần, nó đã chiếm chỗ đó rồi, Chủ tịch xem xem...”,
Du Trường Thủy cười: “Việc này tôi biết rồi, thằng này cũng đáng thương lắm. Trời lạnh như vậy mà chẳng có chỗ nào ở. Chỗ miếu Thổ Địa gió lùa tứ phía, thôi cứ để nó sống ở đó. Cuối năm, lại tới phố huyện tìm họa sĩ rồi tính sau”.
Trư Cốc xun xoe: “Chủ tịch Du đúng là người có tâm Bồ Tát, từ bi quá! Vậy em đi đây!”.
Du Trường Thủy khẽ nói: “Đi đi!”.
Trư Cốc đi tới cửa, liền nghe thấy Du Trường Thủy lẩm bẩm một mình: “Tống Kha là một họa sĩ tốt biết bao, thật đáng tiếc cho một nhân tài như thế. Phải đi đâu để tìm được họa sĩ giống như anh ta chứ?”.