Phần Thứ Nhất - Đời Thuộc Địa Là Thế! - 1925
- 2 -

“Ôi!” Chuck Shermam thở ra, thèm thuồng nhìn chằm chặp bức trường thành làm bằng những tán lá nhiệt đới màu lục, xanh thẩm và dày đặc đang lướt qua mạn tàu, chỉ cách lan can khoảng hơn chục thước:
- Thế này thì rặng núi miền Tây Virginia chỉ còn là một chốn buồn tẻ vô vị, Joey ạ. Em có nghĩ mình sẽ cảm giác như thế nào khi đứng trước mặt một đàn voi hay một con cọp lông vàng sậm ở chốn núi cao rừng thẳm này không?
Joseph trả lời lãng đãng:
- Em nghĩ mình tới đây đâu phải để săn voi bắn cọp.
- Cậu em tốt lành ạ, chúng ta không đi tìm chúng — nhưng liệu chúng có biết cho như vậy không? Nếu chúng tới kiếm chúng ta, dương ngà nhe nanh hoăïc giơ vuốt, cách tốt nhất em phải thủ sẵn khẩu cạc-bin Winchester của em.
Joseph gật đầu một cách máy móc:
- Cứ cho là vậy.
Hai anh em ra khỏi buồng ngủ từ lúc sáng sớm để thưởng thức ngọn gió nhẹ nhàng tươi mát ban mai. Joseph leo lên đứng trên cuộn dây thừng sát lan can kế bên Chuck, tiếp tục đọc sách. Nước trong xanh nơi cửa biển Cần Giờ biến thành một luồng bùn nâu khi con tàu chạy theo sông Lòng Tảo để vào vùng nội địa. Lúc này, hai bên bờ sông san sát tiếp liền nhau những hàng rào thiên nhiên gồm cây cao vút, lá tươi xanh cùng giây leo quyện vào nhau, rủ lướt thướt trên mặt nước.
Thỉnh thoảng qua một chỗ đất trống, mắt hai cậu trai Mỹ bắt gặp đôi ba người dân bản xứ thân hình mảnh khảnh, đầu đội nón lá buông đang cúi mình trên dây rớ hoặc nơm cá nhưng chẳng mấy khi họ ngước mặt lên nhìn; chỉ bọn trẻ con trần truồng bụng ỏng có để ý đôi chút tới các cậu. Khi chiếc Avignon rẽ nước chạy qua phía dưới bờ sông nơi chúng đang đứng ở mé trên, chúng đưa đôi mắt nâu ngó con tàu; ánh mắt ngô nghê không cho thấy chút cảm tưởng nào. Thỉnh thoảng đâu đó có tiếng chim thét lên thất thanh làm hai anh em giật thót người. Còn ngoài ra rừng nhiệt đới xanh tươi đang lấp lánh lướt qua vẫn im ắng lạ thường.
Sau cùng Joseph xếp sách lại, nhún chân và mở miệng:
- Anh Chuck này, em cá với anh rằng anh không biết tại sao có tên Sài Gòn, đúng không. Chuyện thú vị lắm.
Chuck cười cam chịu:
- Anh không biết tại sao nó mang tên đó nhưng anh biết chắc chắn có một kẻ ham đọc sách sắp cắt nghĩa cho anh nghe.
- Có người bảo theo tiếng An Nam cổ, Sài Gòn có nghĩa là “Rừng Gòn”, tên một vùng đất mọc nhiều cây gòn, còn gọi là cây bông gạo. Có người lại bảo Sài Gòn là cách viết chữ nôm của người Việt về danh xưng theo tiếng Khmer là “Prei Mokor”, nghĩa là xứ ở giữa rừng. Ngày xưa nó là một làng nhỏ ở giữa rừng già. Nhà cửa thưa thớt, chung quanh bùn lầy nước đọng. Tới thế kỷ 19, người Việt và người Hoa, với sự tiếp tay của thương buôn người Âu lập thành Sài Gòn Chợ Lớn, gọi chung là Bến Nghé, nghĩa là bờ sông có trâu tơ gọi mẹ. Người Hoa dùng danh từ “Thầy Nguồnn, Đề Ngạn” để gọi vùng thương mại Chợ Lớn, còn danh từ “Xi-cóon, Tây Cống” để chỉ xóm của người Việt tức là chợ Bến Thành. Nhưng có kẻ lại bảo “Tây Cống” có ý nghĩa là cống hiến cho người phương Tây.
Chuck nói bông lơn:
- Cực kỳ hấp dẫn! Em vẫn là xếp sòng sở cung cấp những thông tin chẳng mấy người xài tới!
Thuyền trưởng Avignon, trong bộ đồng phục oai vệ mới ủi hồ cứng vừa theo cầu thang đi xuống, mỉm cười khi nghe hai anh em trêu cợt nhau. Ông tới gần, chào cả hai bằng lối bắt tay kiểu Pháp rất trang trọng:
- Hai người bạn nhỏ tuổi thân mến của tôi ơi, dù người An Nam đặt cho nó cái tên gì đi nữa các cậu cũng sẽ sớm biết được rằng người Pháp chúng tôi gọi thành phố các cậu sắp ghé lại là “Hòn ngọc Viễn đông” hoặc đôi khi còn gọi là “Paris Phương Đông”. Và để hiểu tại sao lại gọi như thế, các cậu chẳng mất nhiều thì giờ lắm đâu.
Joseph thấp giọng hỏi, hất cằm về phía vô số bộ mặt vàng vọt, vẫn yên lặng chen lấn nhau dồn tới nắp vỉ sắt phía dưới boong tàu:
- Nhưng tại sao hết thảy những người Tàu ấy đều muốn tới chỗ đó?
- Sài Gòn là một thành phố kép gồm cả Chợ Lớn, nơi cách đó một quãng đồng chừng vài ba cây số — là chỗ người Tàu muốn tới. Theo tiếng An Nam, Chợ Lớn có nghĩa là “Cái chợ to lớn”. Bọn người Tàu ấy hy vọng sẽ trở thành những kẻ giàu có như nhiều di dân Quảng Đông đã đạt được bằng cách bóc lột lũ An Nam lười biếng. Hiện có tới hai trăm ngàn người Tàu sống ở Chợ Lớn. Ở đó, các cậu có thể mua đủ thứ, từ dọc tẩu thuốc phiện cho tới “ca nữ” mắt xếch!
Thuyền trưởng dừng lại, kín đáo nháy mắt với Chuck để gây chú ý tới câu nói bóng gió của mình.
- Thân phụ các cậu cũng sẽ phải vào Chợ Lớn để sắm cho đủ vật dụng đi săn. Cậu nhớ cảnh giác ông phải cẩn thận. Mặc cả thật gắt! Bọn Tàu là dân Do Thái Á Đông đấy.
Chuck sốt ruột hỏi:
- Thưa thuyền trưởng, phải mất bao lâu nữa chúng ta mới tới được chỗ đó. Rừng này có vẻ như kéo dài tới vô tận.
- Monsieur Charles ạ, bình thường tàu chạy từ cửa Cần Giờ tới bến cảng Sài Gòn mất sáu bảy tiếng đồng hồ.
Khoảng một trăm cây số. Tôi tiếc rằng chẳng mấy chốc nữa chúng tôi buộc lòng phải chào tạm biệt các cậu và vị phụ thân cao quí của các cậu.
- Với tôi, ông thuyền trưởng ạ, như thế chẳng chút nào là quá sớm!
Thượng nghị sĩ Sherman vừa cười niềm nở vừa nói sang sảng khi băng ngang boong tàu để tới gần chỗ họ đứng, trên người ông vẫn mặc áo khoác. Ông tiếp:
- Dĩ nhiên tôi không có ý thất lễ. Trên con tàu này, lòng hiếu khách quảng đại của ông khiến chúng tôi vô cùng hãnh diện. Nhưng giờ đây điều băn khoăn lớn nhất của tôi là làm sao cho mau hết quãng đường này để vô rừng bắt đầu cuộc săn bắn càng sớm càng tốt.
- Thưa thượng nghị sĩ, ông dự tính kiếm thứ gì? Một bộ da cọp đem về trải sàn nhà? Hay một cặp ngà voi để gắn lên vách?
- Không phải vậy đâu ông thuyền trưởng. Chúng tôi không phải là người đi săn để tìm vật kỷ niệm. Trước khi qua đời, cụ thân sinh của tôi có thành lập một ban bảo trợ huy động vốn cho Nhà Bảo Tàng Ngành Vạn Vật Học Sherman tại thủ đô Washington. Ông biết không, vạn vật học là sở thích đặc biệt của cụ. Cụ mất cách đây đúng năm năm nhưng nhà bảo tàng ấy chỉ vừa được xây dựng xong bên trong Khu Thương mãi ngay mé dưới Điện Capitol. Thuyền trưởng ạ, toà nhà ấy thật đẹp, xây bằng đá hoa cương, trông như một cung điện cổ xứ Florence. Vì vậy chúng tôi chỉ muốn trưng bày ở đó những dã thú hạng nhất mà ngay tại đây, trong rừng núi này của quí vị, chúng tôi sẽ sưu tập được một số thú vật hiếm và quí nhất thế giới.
Thượng nghị sĩ ngưng nói để châm điếu xì-gà Havana đầu tiên trong ngày. Thuốc bén lửa, qua làn khói, ông chăm chú quan sát cây rừng đan nhau chằng chịt như trải thảm dọc hai bên bờ sông Lòng Tảo. Qua góc mắt, Joseph liếc thấy mẹ vừa ra khỏi khu buồng ngủ. Khi Flavia đặt chân lên cầu thang dẫn xuống boong tàu, gió nhẹ thổi chiếc áo sơ-mi lụa màu kem dán sát vào những đường nét trên thân thể bà. Đầu cầu thang, Flavia thấy một viên sĩ quan bậc ba đưa tay lên mũ chào nhã nhặn, bà sung sướng vẫy tay đáp lại. Joseph nhận thấy mẹ tránh không đi gần các nắp vỉ sắt đang khóa chặt then nơi khu vực giữa boong. Ra tới đuôi tàu, trong một thoáng Flavia đăm đăm nhìn rừng xanh rồi nhắm mắt, ngửa mặt về phía mặt trời ấm áp dịu êm ban mai.
Thượng nghị sĩ tiếp tục trả lời. Giọng Mỹ miền nam của ông lề mề kéo dài, sang sảng ngân vang trong khung cảnh tịch lặng đang bao trùm sông nước:
- Chúng tôi tìm chủ yếu là trâu nước, heo rừng và nhất là trâu rừng, đặc biệt con min, một loại thú bị gọi là trâu rừng Mã Lai nhưng thật ra nó là đặc sản nhất thế giới của An Nam. Và không những chỉ muốn có con trâu đực to lớn đó thôi, chúng tôi còn cần mỗi loại một đôi — sẵn dịp, có thể luôn cả da nai nữa. Như thế đòi hỏi một cuộc săn lùng cực kỳ gay cấn. Chúng tôi sẽ lột da thú tại chỗ và bảo quản da chưa thuộc để có thể chở về Mỹ nhồi bông. Sau đó, chúng sẽ được đem triển lãm làm thành một mô thức được chúng tôi gọi “trưng bày giữa môi trường sống” để cho hết thảy dân chúng ở nước Mỹ xa xôi, và kể cả những ai không bao giờ tới xứ An Nam hẻo lánh, cũng đều được nhìn các con thú ấy tại thủ đô của chúng tôi như thể họ từng sống trong chốn rừng sâu núi thẳm này. Sau đó, chúng tôi sẽ phái các đoàn thám hiểm khác đi Ấn Độä và châu Phi lùng tìm cọp và voi. Thuyền trưởng thấy đấy, tôi muốn làm sao cho Nhà Bảo Tàng Sherman thành nơi có một không hai của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, thậm chí có thể là số một của thế giới.
Đưa mắt thắc mắc ngó Chuck rồi Joseph, thuyền trưởng hỏi:
- Nhưng người nào trong gia đình ông là nhà thiện xạ hàng đầu?
Nathaniel xoa đầu cậu con lớn, trả lời ngay:
- Chuck đây là “tay thiện xạ”’. Nó đã học không sót chút nào những gì tôi có thể dạy cho nó. Mùa thu nào chúng tôi cũng đi săn trong rặng núi Tây Virginia. Lúc này nó bắn hầu như chẳng kém gì bố.
Thuyền trưởng lại hỏi, cất cao giọng, có phần nào khó chịu và hơi nhuốm vẻ trêu cợt:
- Và Monsieur Joseph đây chắc chắn cũng là “một tay thiện xạ”?
- Joseph chưa sẵn sàng đâu. Tôi nghĩ nó có thể bắn khá giỏi nếu nó muốn, hiềm vì nó chưa quyết định có ham thích ý tưởng đó hay không.
Thượng nghị sĩ dần dần thôi cười. Ông nghiêng người qua lan can, vẫy cho tàn thuốc xì-gà rớt xuống mặt sông quyện bùn:
- Mẹ của nó vốn không tha thiết lắm với chuyện săn bắn. Có thể nó có phần nào đứng về phía mẹ. Tôi đoán rằng biết đâu ngay tại Nam Kỳ này, chúng tôi có thể sẽ phát hiện cái mà Joseph thật sự muốn.
Thuyền trưởng thấy hai khoé miệng của Joseph chợt mím chặt. Rồi cậu bé Mỹ lại mở lớn đôi mắt, sôi nổi chỉ vòng qua lan can bên phải mạn tàu:
- Thuyền trưởng ơi, cái gì ở chỗ đó vậy? Có phải đó là một đền thờ của dân bản xứ không? Trông nó thật vĩ đại.
Nhìn hai đỉnh tháp nhọn bằng đá màu xám nhạt hiện rõ dần như thể vươn lên từ giữa rừng xanh thẳm, thuyền trưởng lại cất tiếng cười:
- Monsieur Joseph ạ, tôi tin rằng tới ngày nào đó, cái đóù sẽ trở thành một loại đền thờ của dân bản xứ, tuy nó được dựng lên trên nền một ngôi chùa cổ. Nó là biểu hiệu mọi thời cho tôn giáo chính ở nơi quê cha đất tổ của chúng tôi, biến nước Pháp thành nữ tử của Giáo hội Công giáo La Mã. Đó là hai tháp chuông song lập của Nhà thờ Chánh toà Sài Gòn — và đó cũng là cảnh tượng tráng lệ thứ nhất của “Hòn ngọc Viễn đông” được các du khách thưởng ngoạn trước tiên.
Vì Joseph đứng mé cuối lan can, phải nhóng cổ lên nhìn cho rõ hơn nên cậu phản đối:
- Nhưng thưa thuyền trưởng, lúc này chúng ta đang không thẳng mũi tàu theo hướng hai cái tháp đôi đó.
- Đúng vậy, nhưng không phải nhìn từ tọa độ này. Sông Lòng Tảo lúc này bắt đầu ngoằn ngoèo y hệt con rắn. Tàu đi như thể bò qua một mê cung. Lần nào tới chỗ này tôi cũng bắt đầu băn khoăn tự hỏi không biết mình có đi lạc vào một luồng nước khác khiến tàu bị chạy ngược trở lại ra biển không.
Các bánh lái của tàu Avignon bắt đầu đu đưa lẹ làng khắp mọi chấm trên hải bàn khi dòng sông tiếp tục uốn lượn quanh co qua rừng thẳm. Đỉnh nhọn của hai chiếc tháp Nhà thờ Đức Bà như lao tới, chỉa quanh con tàu. Thoạt đầu vọt lên một phần tư ngọn tháp bên này rồi tới ngọn tháp bên kia, như hai tai của một chú thỏ tọc mạch đang vểnh lên nhìn theo đường tiến của con tàu. Mới phút trước Joseph vừa thấy chúng ở mạn trái, phút kế đã thấy chúng ở mạn phải. Có lúc chúng bất chợt xuất hiện sừng sững đằng sau đuôi tàu khi dòng sông quành ngược lại.
Một giờ sau, con tàu ra khỏi Rừng Sác. Cả nhà Sherman bỗng thấy trước mắt một cánh đồng phù sa điểm lấm chấm những lùm cây cọ mọc rải rác. Hai bên mạn tàu, trong những thửa ruộng tiếp liền nhau trải dài như vô tận, họ thấy các đám đông người An Nam đầu đội nón lá đã khom người sẵn ở đó từ lúc nào. Thỉnh thoảng những nhà nông ấy vươn thẳng lưng hoặc xoay người lội bì bỏm trong bùn lầy hoặc mặt nước sình đặc quánh tới ngang bụng.
Flavia Sherman đứng chung với cả nhà một lúc ở lan can, tay đặt lên vai Joseph nhưng trông bà có vẻ bứt rứt. Chẳng bao lâu bà thấm mệt khi quan sát nông dân canh tác dưới các thửa ruộng. Tới lúc mặt trời lên cao hơn trên bầu trời, sức nóng càng lúc càng ngột ngạt, Chuck và cha cũng lui chân, rút vào bóng mát trong buồng. Joseph đi theo họ một chút để nhai ngấu nghiến bữa ăn trưa, rồi một mình vọt ra lại boong tàu. Đầu đội mũ cối, đứng tựa lan can, cậu háo hức đưa mắt hau háu nhìn từng chi tiết cảnh sắc đang liên tục thay đổi.
Con tàu Avignon hết vào lại ra khu vực ven rừng rậm rạp, vắng vẻ và lầy lội. Thỉnh thoảng qua những chỗ quang đãng trên bờ, mắt Joseph lại bắt gặp các xóm nhà sàn vách xám xịt. Cậu đưa mũ lên vẫy vẫy mấy người An Nam đang ngồi chồm hổm trên sân đất trước cửa nhà nhưng họ chỉ trơ mắt ngó cậu, không chút động đậy.
Khi lòng sông rộng hơn, chiếc Avignon bắt đầu chạm mặt một con tàu khác từ Sài Gòn chạy trở ra, xuôi theo chiều thủy triều đang rút. Joseph tự hỏi làm thế nào những chiếc thuyền mành mỏng mảnh kiểu Trung Hoa với buồm sờn rách, vá chằng chịt, lại không bị chìm lỉm khi chúng nặng nề lê mình giữa một dãy tàu vận tải nặng và cáu bẩn đến từ châu Âu và châu Mỹ La tinh. Một tàu khách của Pháp đường bệ lướt qua; từ trên lan can tàu, những bộ mặt phương tây xen kẽ với những bộ mặt Á Đông tò mò, đăm đăm nhìn xuống.
Rồi con tàu Avignon rẽ đường tiến tới, xuyên qua một đoàn thuyền tam bản đang lướt xuôi theo con nước để chở chút hàng hóa lưa thưa hoặc chạy việc lặt vặt. Joseph sửng sốt thấy các thuyền đó hầu hết đều do phụ nữ đứng chèo chênh vênh hoặc ngồi đạp hai mái dầm. Dần dần, mặt nước chỉ còn rải rác thuyền bè qua lại, con tàu Avignon êm đềm lướt theo dòng sông lợn cợn bùn trong bầu không khí tĩnh lặng sâu lắng của cơn thủy triều đang lên ban trưa.
Lát sau, Joseph ngạc nhiên thấy đột nhiên xuất hiện một bến tàu bằng đá trắng. Kè đá dài nằm song song với một đại lộ đầy bóng mát chạy dài giữa hai hàng hồ tiêu mượt mà như lông tơ. Quang cảnh đột ngột của những toà nhà kiểu châu Âu làm phản chiếu trở lại trong tâm trí Joseph cảnh tượng những khu rừng, các cánh đồng, làng mạc họ vừa lướt qua trong mấy tiếng đồng hồ trước đó và có vẻ vẫn y nguyên như thế qua nhiều thế kỷ. Nhưng thật rõ ràng trước mắt, hai chiếc tháp song đôi lúc ẩn lúc hiện của Nhà thờ Đức Bà cậu thấy từ đằng xa, lúc này đứng yên một chỗ, xám một màu, trông rõ mồn một, như đứng canh gác những con đường thênh thang chạy giữa các hàng cây thẳng tắp. Cuối cùng, họ thật sự tới điểm đến!
Thế rồi Joseph nhận ra lý do khiến người ta hoàn toàn kinh ngạc khi bất chợt vào thành phố này: nó thinh lặng lạ thường. Đường phố hoang vắng, không nghe có chút âm thanh nào — không tiếng động xe cộ, không tiếng ồn ào đám đông chen chúc nhau, không trẻ em, không loài vật. Cũng không có gì di động dọc theo kè đá đằng trước dãy nhà trệt im vắng dùng làm trạm hải quan.
Bỗng dưng Joseph cảm thấy người choáng váng, buồn nôn, khi ánh mắt cậu chạm tới hàng hàng la liệt thân xác con người ta đang nằm trong bóng mát các toà nhà nơi bến tàu, dưới những gốc cây hồ tiêu. Tay run lẩy bẩy, Joseph chụp ống nhòm. Cậu rà ống kính dọc theo kè đá dài trong khi chiếc Avignon tiến vào gần hơn. Cậu xem xét thật tỉ mỉ từ đống hình nhân này tới đống hình nhân khác. Rõ ràng, không nghi ngờ gì cả! Người ta ngã gục, đang nằm im lìm, miệng há hốc, hai ống chân khẳng khiu xoắn vào nhau. Qua ống kính, cậu thấy rất rõ quần áo của họ cùng với mặt mày họ đỏ lòm máu.
Vừa chạy tới phía cầu thang Joseph vừa hớt hãi lớn tiếng gọi:
- Thuyền trưởng ơi! Thuyền trưởng ơi! Ông tới đây mau, có một cuộc tàn sát khủng khiếp ở Sài Gòn.
Thuyền trưởng ra khỏi phòng lái. Trước cơn kinh hoảng của Joseph, ông cười cười:
- Một cuộc tàn sát ư, Monsieur Joseph?
Mặt Joseph biến sắc xanh rờn:
- Vâng. Đúng. Ông ra mà coi máu... Nhìn kìa! Máu trên mặt họ! Trên quần áo họ! Người họ đầy máu!
Trong một chốc, thuyền trưởng ngó theo hướng ngón tay của cậu bé Mỹ. Rồi đưa cườm tay trái lên, chỉ cho Joseph thấy mặt số trên chiếc đồng hồ đeo tay, ông nói:
- Coi này, Monsieur Joseph, chưa tới hai giờ. Vẫn đang trong giờ ngủ trưa đấy. Ở xứ nhiệt đới này trong khoảng từ mười một giờ tới hai giờ trưa không người nào đi lại cả. Ai cũng phải ưu tiên lo cho mạng sống đang lâm nguy của mình. Hết thảy đồng bào của tôi giờ này đang nằm lơ mơ ngủ với quạt máy trong nhà mình còn dân bản xứ không được may mắn như thế.
Ông khoa tay dọc theo bến tàu:
- Họ chỉ có bóng mát của cây cối thôi.
- Nhưng tại sao trên người họ dính đầy máu?
Thuyền trưởng cười lớn:
- Đó chẳng phải máu đâu, Monsieur Joseph. Người An Nam phần nhiều có thói quen ăn trầu. Đó là một loại thuốc gây tê mê, như một thứ ma túy nhẹ. Nó làm xỉn xỉn giác quan nhưng chất nước của nó dây màu đỏ ra chung quanh miệng và trên quần áo của họ — nó còn làm đỏ đường đỏ sá khi họ nhổ xuống đất.
Joseph ngó ông chằm chặp, không tin. Rồi cậu nhìn khu vực bến tàu đầy đá dăm thêm lần nữa. Cậu thấy trong bóng mát dưới gốc cây những cu-li An Nam “bị tàn sát” bắt đầu về lại cõi đời. Chầm chậm và có vẻ nhức mỏi, họ duỗi hết chân này tới chân khác rồi lạng quạng đứng dậy. Máy tàu ngừng chạy. Thủy thủ đoàn bắt đầu ném dây chảo xuống cho một người da trắng đội mũ cối vừa từ văn phòng khu vực bến tàu đi ra. Các cu-li bắt đầu từ trong bóng mát đi về phía con tàu, bằng những bước chân như của kẻ mộng du. Khi họ tới nơi, nhiều người trong bọn họ nhổ toèn toẹt, để lại đằng sau những vệt đỏ thẩm nước bọt cốt trầu trên kè đá kiên cố và nóng bỏng.