Dịch giả: Cổ Nguyệt
Hồi thứ nhất
TAY PHÓNG ĐẠN BĂNG XUA KẺ ĐỊCH
NÀO NGỜ TÊN ĐỘC CẮM LÊN MÌNH

 
Tháng ba rực nắng vàng,
Oanh ca lừng hoa viên.
Nhà ai vui vẻ tưng bừng thế?
Say cảnh Giang Nam mờ khói sương,
Còn nhớ thảo nguyên mênh mông miền Tái Bắc,
Ngũ Lăng công tử sao còn tung tăng
Có nhớ bộ dạng tiều tụy của gã ăn mày giả điên tháng ngày lang thang?
Mây nhàn thấp thoáng biển ngời sáng,
Dường có dường không bên trời quang
Kìa chợ nước Ngô tiếng tiêu lang hòa khúc hát Ngọc cung duyên.
(Theo điệu “Trích trích tinh”)
Tháng ba cuối mùa xuân, miền Giang Nam cỏ non mơn mởn, cây cối đâm chồi, muôn hoa khoe sắc, chim hót líu lo. Từ xưa đến nay mùa xuân Giang Nam vẫn thế, không biết bao nhiêu kẻ tao nhân mặc khách còn ngơ ngẩn, huống chi là một chàng thanh niên lần đầu tiên đến Giang Nam, giữa tiết trời “mưa phùn chưa đủ ướt áo ai, gió thổi cành dương chẳng rét người”, chàng ta đương nhiên càng mê mẩn.
Chàng trai ấy tuổi khoảng đôi mươi, khuôn mặt non nớt, tánh vẫn còn như đứa trẻ, lúc này chàng đang đứng trên sườn đồi đưa mắt nhìn xung quanh, huơ chân múa tay kêu lên rằng: “Khi lão gia còn ở Tát Ca, ngày nào cũng muốn về nhà, té ra Giang Nam là nơi đẹp thế này, Giang Nam thật đẹp!” Một lũ trẻ kẻo rồng rắn phía sau chàng, một đứa chợt bắt nhịp cho cả bọn hát rằng: “Không biết xấu hổ, không biết xấu hổ, mèo khen mèo đài đuôi!” Chàng trai giả vờ tức giận kêu lên: “Sao các người lại bảo ta là mèo?” Lũ trẻ kêu lên: “Chẳng phải huynh đang tự khen mình hay sao? Rõ ràng huynh bảo Giang Nam thật đẹp, Giang Nam thật đẹp, chẳng phải mèo khen mèo dài đuôi là gì?” Chàng trai cười lớn nói: “Ý ta muốn nói miền Giang Nam thật đẹp, nhưng Giang Nam ta đây cũng đâu phải xấu!” Té ra chàng trai ấy vốn tên là Giang Nam. Chàng là thư đồng của Trần Thiên Vũ, con trai của Tuyên úy sử Trần Định Cơ ở Tát Ca miền Tây Tạng. Trần Định Cơ bị biếm đến Tây Tạng đã hơn mười năm, sau đó vì có công lớn, lại được một người bà con làm quan trong trí t cầu xin nhà vua, ông ta mới về kinh làm lại chức Ngự sử, nhưng Trần Định Cơ thấy quan trường đen tối, về kinh được hai năm thì cáo lão hồi hương. Quê ông là một ngôi làng nhỏ có tên Mộc Độc cách Tô Châu năm sáu mươi dặm, mặt quay về phía Thái Hồ, phong cảnh rất đẹp. Lần đó vì Giang Nam có công đem thư vào kinh cho chủ nhân, Trần Định Cơ nhận chàng làm nghĩa tử.
Chàng xuất thân là một thư đồng, cho nên chẳng hề phách lối, chưa đầy hai tháng mà đã rất thân thiết với lũ trẻ quê này.
Lúc này Giang Nam vừa cười vừa phát kẹo cho lũ trẻ hỏi: “Thế nào, Giang Nam ta đây cũng không tệ chứ?” lũ trẻ không trêu chàng nữa, khen rằng: Giang Nam thật tốt Giang Nam thật tốt!” Giang Nam chợt hỏi: “Này, trong làng của các người có một cô nương biết thổi Hồ Ca hay không?” Lũ trẻ cười ầm lên, có vài đứa còn trêu chàng:
“Hi hi, Giang Nam ca muốn đại cô nương!” Giang Nam nói: “Vớ vẩn, này, ta nói thực đấy, ai nói cho ta biết, ngày mai ta sẽ đến Tô Châu mua cho một con quay bằng đồng.” Lũ trẻ nghe thế đều mừng rỡ, nhưng chẳng đứa nào biết, chỉ hỏi: “Hồ ca là gì, Hồ Ca trông như thế nào?” Giang Nam bèn dùng tay diễn tả: “Là một ống thổi được cuộn bằng một ống trúc rất dài, khi thổi lên phát ra âm thanh nghe véo von.” Lũ trẻ lại hỏi: “Lá trúc có hình dạng như thế nào?” “Thổi có vui không?” “Chúng tôi chưa từng thấy thứ quái quỷ này.”
Hồ Ca là một nhạc cụ của người Hồ ở miền tái ngoại, lũ trẻ ở Giang Nam dĩ nhiên chưa từng thấy, Giang Nam nói thế nào bọn chúng cũng chẳng hiểu, cho nên bọn chúng kể ra một lô một lốc những cô gái thích thổi địch, thổi tiêu, khiến Giang Nam vừa bực mình vừa buồn cười, thầm nghĩ: “Thật kỳ lạ, dù cho mình có nghe nhầm, công tử cũng không thể nghe nhầm, đêm qua rõ ràng là nghe như có tiếng Hồ Ca!”
Đột nhiên có tiếng nhạc từ xa vọng tới, tựa như tiếng vượn hú trên chốn núi rừng, tiếng cú kêu trong đêm khuya, âm thanh nghe rất chói tai mà lại thê lương, cả lũ trẻ cũng nghe rất rõ ràng, Giang Nam giật mình, từ nhỏ chàng đã quen với tiếng Hồ Ca, không thể nào nhầm được, chàng vội vàng chạy về nơi ấy, chợt thấy dưới chân núi có hai thớt ngựa chạy tới Lũ trẻ kêu vọng theo chàng: “Giang Nam ca, đừng gây sự với chúng, chúng là đả thủ của Vương Lão Hổ” 
Giang Nam đến đây đã gần hai tháng, biết Vương Lão Hổ là một ác bá của huyện Ngô, còn là hương chủ của một bang hội nào đó, nhưng Giang Nam lại là người háo sự, chàng chẳng hề xem Vương Lão Hổ vào đâu chàng đang muốn đi tìm y, huống chi chàng thấy hai kẻ này đang phóng ngựa đuổi theo cô gái thổi Hồ Ca.
Đối với Giang Nam, núi non ở miền Tô Châu chẳng qua chỉ giống như cái bánh mãn đầu bằng đất, chàng đề một ngụm khí phóng vọt xuống, chỉ trong chớp mắt đã đến chân núi, nhưng lúc này chàng không phải đang tìm cách đối phó với hai tên đả thủ kia mà đang lấy làm lạ vì không biết cô gái thổi Hồ Ca này ở đâu ra. Chàng chợt nhớ lại canh ba đêm qua, chàng và Trần Thiên Vũ đang ngồi nói chuyện về Kim Thế Di, cả hai vẫn chưa buồn ngủ, chợt nghe loáng thoáng tiếng Hồ Ca, nhưng trong khoảnh khắc âm thanh ấy đã biến mất. Giang Nam nghi thần nghi quỷ tưởng rằng Kim Thế Di đã tới, nhưng Trần Thiên Vũ rất giỏi âm luật, bảo rằng tiếng Hồ Ca nghe thê lương buồn bã, người thổi Hồ Ca ắt hẳn là một cô gái, không thể là Kim Thế Di. Lúc đó Giang Nam định chạy ra xem, Trần Thiên Vũ sợ kinh động đến cha cho nên mới cản lại. Vì thế hôm nay trời vừa sáng thì Giang Nam đã chạy ra dò hỏi, nay vừa gặp thì quả nhiên là một cô gái.
Nhưng cô gái ấy đã che mặt bằng vải đen, Giang Nam càng nghi càng thấy lạ.
Khi Giang Nam chạy đến chân núi, hai thớt ngựa đã đuổi kịp theo cô gái. Hai thớt ngựa ấy phóng lướt qua mặt Giang Nam, một tên đả thủ cười gằn rồi phóng ra một cây cương trảo đánh vù một tiếng, chụp vào cô gái che mặt!
Kẻ này cứ tưởng rằng có thể chụp trúng cô gái, ngay trong khoảnh khắc ấy, chợt nghe có người cười hì hì, tên đả thủ dùng lực giật lại, chợt cảm thấy bàn tay đau nhói như dao cắt, té lăn xuống ngựa, thì ra Giang Nam đã khéo léo xoay người chụp lấy cây cương trảo của y rồi tròng lên gốc cây bên đường.
Tên kia thấy thế thì cả kinh. vội vàng xuống ngựa đỡ đồng bọn dậy, kẻ bị té kêu lên oai oái, nhe răng cười: “Ngươi tự ngã, liên quan gì đến ta, ai bảo người chụp gốc cây, gốc cây có thù oán gì với ngươi? Hừ, hừ, ngươi mắng ai thế?”
Tên kia có vẻ thận trọng hơn, chặn đồng bọn lại rồi hỏi Giang Nam: “Này, ngươi là bằng hữu phương nào?” Giang Nam lắc đầu nói: “Ta không biết các người, sao có thể gọi là bằng hữu?”chàng giả vờ ngờ nghệch không trả lời câu hỏi của y. 
 Kẻ ấy trầm giọng nạt: “Tên nhãi ranh nhà ngươi có biết ta là thủ hạ của Vương hương chủ bang Hải Dương hay không?” Giang Nam nói: “Không biết.” Kẻ ấy bảo: “Ngươi có hiểu quy củ giang hồ không? Ả này lai lịch bất minh, Vương hương chủ phải bắt ả tra hỏi, tại sao ngươi ngăn cản?” Giang Nam nói: “Thật quái lạ hương chủ là thứ gì? Có phải là một chức quan không? Ta đã gặp không ít quan, nhưng chưa bao giờ nghe nói có chức quan như hương chủ, cũng chưa bao giờ nghe nói vì lai lịch không rõ ràng nên bị bắt tra hỏi.” Kẻ ấy hừ một tiếng rồi nói: “Ngươi là đồ khốn kiếp ở đâu ra?” Giang Nam nói: “Ta cũng ở nơi khác đến, hương chủ các người có cần tra hỏi không?” kẻ bị ngã lúc nãy đùng đùng nổi giận, bảo tên đồng bọn: “Thằng nhãi ranh này rõ ràng có ý bôn cột không cho y nếm đòn, y cũng không biết lợi hại, đừng nói nhiều, xông lên!”
Giang Nam nói: “Ngươi vừa tới đã mắng ta là khốn kiếp, lại còn mắng ta là nhãi ranh, đại trượng phu không thể nhịn được nữa, xem đây!” vừa nói hai chữ “xem đây” chàng đã lách người tới tát hai tiếng bốp bốp vào mặt của hai kẻ ấy.
Đến lúc này cả hai tên đả thủ đều biết bản lĩnh của Giang Nam hơn bọn chúng, nhưng cả hai vẫn chưa biết sợ, bèn xông thẳng tới Giang Nam, Giang Nam chỉ nhẹ nhàng kéo gấu áo của chúng, lại nghe thêm hai tiếng bốp bốp nữa, té ra cả hai đã vung quyền đấm vào nhau.
Giang Nam cười hì hì nói: “Các người đã tự đánh nhau, đừng trách ta đấy nhé!” Cả hai tên đại hán đều sưng vêu mặt mày, trợn mắt há mồm, Giang Nam nói: “Các người còn đứng trân đó ra làm gì? Chắc là vẫn đánh nhau chưa đã, có cần đánh thêm với ta một trận không?” rồi chàng đột nhiên quắc mắt, cả hai tên đả thủ vội vàng co giò chạy mất. Lúc này chợt nghe có tiếng cười ha hả vang lên!
Giang Nam quay đầu nhìn lại chỉ thấy trên đường có một đám người, ai nấy đều mang theo binh khí, Giang Nam ngạc nhiên tưởng rằng đó là bọn người của bang Hải Dương, nhưng một hán tử có vẻ là người dẫn đầu bước tới cung tay nói: “Thiếu niên anh hùng, quả thật đáng ngưỡng mộ!”
Giang Nam chưa bao giờ được người ta khen ngợi như thế, nghe y nói thì lòng hoa nở rộ, cười hì hì: “Tôi đâu có phải là anh hùng gì, công tử nhà tôi và những người bạn của người mới đúng là đại hiệp đương thế!” Hán tử ấy nghiêng đầu, tựa như đang suy nghĩ chuyện gì, chợt cung tay nói: “Thất kính, thất kính! Thiếu hiệp khoan hãy nói, để tôi đoán thử công tử của thiếu hiệp là ai? Ồ, chắc chắn đó là Trần Thiên Vũ!
Còn thiếu hiệp là Giang Nam!” Giang Nam mừng rỡ nói: “Chẳng sai tí nào, sao ông biết?” Hán tử ấy nói: “Tôi và Trần công tử là bạn hữu đã nhiều năm, sao không biết?” y ngập ngừng rồi lại nói tiếp: “Chúng tôi cũng quen biết những người bạn của Trần công tử, trong số đó có một người thân thiết nhất với chúng tôi tên gọi Đường Kinh Thiên.” Giang Nam nói: “Đúng, đúng, Đường đại hiệp thân thiết với công tử chúng tôi chả nó khác gì huynh đệ, không ngờ ông ta cũng là bằng hữu của các vị, này các người có quen Kim Thế Di không?”
Hán tử ấy nói: “Ồ, Kim Thế Di? Đúng thế, có gặp vài lần.” Giang Nam vội vàng hỏi: “Lần cuối cùng gặp y là khi nào?” hán tử ấy nói: “Chúng tôi đến núi Đường Cổ Lạp cho nên gặp y ở đấy, sau đó chúng tôi về Giang Nam, chuyện này xảy ra cách đây nửa năm về trước.” Giang Nam cả mừng nói: “Nói như thế Kim Thế Di vẫn chưa chết?” hán tử ấy nói: “Kim Thế Di tuy lớn tuổi, nhưng tinh thần vẫn còn tốt, tôi thấy ít ra ông ta có thể sống mười năm nữa, sao có thể chết được?”  Giang Nam ngạc nhiên, thầm nhủ: “Kim Thế Di cũng trạc tuổi công tử nhà mình, sao lại bảo y hơi lớn tuổi? nhưng chàng chợt hiểu ngay: “Đúng rồi, Kim Thế Di rất thích cải trang. Nhưng sao mình không nhận ra những người này?” Hán tử ấy tựa như biết chàng nghĩ gì, thế nên mới nói: “Năm xưa chúng tôi đã từng giúp Trần công tử một lần cho nên mới quen biết y!” Giang Nam nói: “Lần đó đáng tiếc Trần công tử không dắt tôi theo, rất nhiều kì nhân dị sĩ ở bốn phương đều đến. Té ra các vị đã quen với công tử của tôi như thế, chả trách gì tôi không biết các vị.” Rồi chàng nhìn kỹ lại, đám người này có đến khoảng mười ba người, ai nấy mặt mũi phong trần, nhìn cách ăn mặc thì cũng giống từ miền tái ngoại đến.
Giang Nam suy nghĩ một hồi, hán tử cầm đầu nói: “Thiếu hiệp tuy không biết bọn tôi, nhưng bọn tôi đã nghe đại danh của thiếu hiệp.” Giang Nam lại cười hì hì: “Sao? Chắc chắn là công tử đã nhắc đến tôi, người vẫn thường thích khen tôi!” Hán tử ấy nói: “Đúng thế, Trần công tử bảo thiếu hiệp là thư đồng đắc lực nhất, vừa thông minh vừa lanh lợi, đúng là thập toàn thập mỹ.” Nghe khen một hồi, Giang Nam thấy lâng lâng trong lòng, nói: “Các vị vẫn còn chưa biết, lúc này tôi không còn là thư đồng nữa, được công tử xem trọng, chúng tôi đã kết thành huynh đệ.” Hán tử ấy vội vàng cung tay nói: “Trần nhị công tử, thất kính, thất kính.” Giang Nam hớn hở nói: “Các vị từ xa đến, có cần tôi giúp gì không?” chàng nghe người ta gọi mình là “công tử”, cũng ăn nói nhã nhặn theo lối của một chủ nhân.
Hán tứ ấy nói: “Đang muốn nhờ công tử dẫn đường, Trần đại công tử có ở nhà không?” Giang Nam nói: “Có, chắc chắn là đang ở nhà, hai tháng trước lão gia từ quan chúng tôi mới theo người về đây, tin tức của các người cũng nhanh nhạy lắm!”. Thế rồi chàng toan đi trước dẫn đường, vừa mới bước được một bước thì chợt nhớ một chuyện, hỏi: “Các vị hãy chờ một chốc, cô gái thổi Hồ Ca đâu rồi?” đám người ấy nghe Giang Nam kêu lên mới đưa mắt nhìn quanh, quả nhiên không thấy cô gái ấy, hán tử cười nói: “Chắc nàng sợ nên đã bỏ chạy. Trần nhị công tử tìm nàng ư?”
Chuyện này không khó tí nào, đợi sau khi chúng tôi gặp Trần đại công tử, sẽ chia nhau đi tìm giùm cho công tử.” Giang Nam cảm thấy hơi ngạc nhiên, ở đây là nơi đất bằng phẳng, phía sau có một ngọn đồi nhỏ, nếu cô gái ấy chạy lên đồi, đám người này có lý nào lại không thấy, nếu chạy về phía trước thì chàng cũng sẽ phát hiện, nhưng bây giờ lại chẳng thấy bóng đáng đâu, trừ phi cô gái cũng biết khinh công, nhân đang nói chuyện thì bỏ chạy, nếu không thì rất khó giải thích.
Đám người ấy theo Giang Nam vào trong làng, Giang Nam vốn hơi bất an, nhưng nghe đám người ấy cứ khen mình thì không còn lo lắng điều gì nữa.
Chàng hỏi: “Các vị có biết công tử nhà tôi và Đường đại hiệp là bà con không?” hán tử cầm đầu hỏi lại: “Thế ư?” Giang Nam nói: “Phu nhân của công tử là thị nữ của Đường phu nhân. Đường phu nhân có ngoại hiệu Băng Xuyên thiên nữ. Tuy thiếu phu nhân có thân phận là thị nữ, nhưng Băng Xuyên thiên nữ vốn là một công chúa, thiếu phu nhân của tôi cũng là con gái của một vị đại thần. Thiếu phu nhân không những thông hiểu sách vở, lại còn tinh thâm kiếm thuật. Băng Xuyên thiên nữ đã ban cho thiếu phu nhân Băng phách thần đạn!”
Giang Nam từ nhỏ đã có thói quen thích nói chuyện, khi còn ở Tát Ca, bọn sai dịch trong nha môn đặt cho chàng một cái ngoại hiệu là “Giang Nam lắm lời” nay tuy đã lớn nhưng tật lắm lời vẫn chưa bỏ.
Hán tử cầm đầu nháy mắt với đồng bọn, mỉm cười nói: “Thế à, hay lắm!” giống như ngạc nhiên, đang định hỏi y tại sao bảo là hay lắm, nhưng lúc này đã đến trước cửa, già Vương trông cửa thấy Giang Nam dắt về một đám người thì kinh ngạc, bước tới hỏi, Giang Nam bảo: “Mau thông báo với công tử rằng có một đám bằng hữu của người ở tái ngoại tới.” Chàng ta đang hớn hở, không đợi Trần Thiên Vũ bước ra đón khách mà dắt cả đám người vào trong sân, đang bước lên bậc cấp thì chợt thấy Trần Thiên Vũ đã đứng ở trên, sắc mặt rất kỳ lạ!
Hán tử cầm đầu cười ha hả: “Trần công tử, không ngờ chúng tôi đến bái phỏng nhanh như thế phải không?” Trần Thiên Vũ tức giận nói: “Triệu Ninh Quân, ngươi muốn gì?” hán tử cầm đầu nói: “Ngươi có Đường Kinh Thiên chống lưng, bọn ta không dám làm gì đâu, chẳng qua chỉ muốn mời ngươi nếm thử mùi vị bị đâm vào xương tỳ bà mà thôi.” Giang Nam kinh ngạc quát: “Té ra các ngươi là kẻ thù của công tử nhà ta!” rồi chàng phóng vọt người lên đâm vào cổ họng hán tử ấy, hán tử tung ra một cú phi cước, Giang Nam kêu: “Lợi hại lắm!” khi người đang ở trên không trung, chỉ nghe bốp một tiếng, mông của Giang Nam đã bị y đá trúng, may sao chàng xoay người nhanh, nếu bị y đá trúng ngực thì đã toi mạng. Thì ra Triệu Ninh Quân là chưởng môn của phái Không Động, sáu năm trước, bên ngoài thành Trát Luân ở Tây Tạng, bọn chúng đã vây đánh chưởng môn của phái Võ Đang là Lôi Chấn Tử. May có Trần Thiên Vũ và U Bình bắt gặp, Trần Thiên Vũ rút đao tương trợ, U Bình đùng Băng phách thần đạn đả thương mắt của Triệu Ninh Quân, sau đó Đường Kinh Thiên cũng tới, phóng ra mười ba mũi Thiên Sơn thần mang, đả thương Triệu Ninh Quân và mười hai sư đệ của y, thần mang đâm vào xương tỳ bà của bọn chúng, võ công của bọn chúng đều bị phế bỏ cho nên phải rút lui ra khỏi Tây Tạng.
Nếu xương tỳ bà bị đâm trúng dù được chữa trị cũng phải mất mười năm trở lên mới khôi phục lại võ công, nhưng gặp cơ duyên cho nên đã mua được Thiên niên đoạn tục của thương nhân người Ba Tư, lại được một trưởng lão võ công cực cao của trong phái nối lại xương, giúp bọn chúng khôi phục lại võ công, không đầy năm năm thì đã khỏe lại hoàn toàn, võ công còn có phần hơn trước. Đó là một mối nhục lớn của phái Không Động, bọn chúng đương nhiên không thể quên. Sau khi khỏe hẳn thì đã muốn trả thù, chỉ vì vợ chồng Đường Kinh Thiên võ công quá cao, bọn chúng không dám gây sự, vì thế mới chọn người kém hơn để ra tay, bọn chúng tìm từ bắc xuống nam đến một năm, cuối cùng được Giang Nam dẫn đường cho nên tìm đến Trần Thiên Vũ.
  Giang Nam bò dậy, Trần Thiên Vũ và đám người kia đã ra tay, chỉ thấy kiếm khí ngang dọc, ánh đao chói lòa, tiếng kim khí giao nhau loảng xoảng nghe nhức cả tai, Trần Thiên Vũ thì giữ chặt phía trên không để cho bọn chúng tấn công. Đang lúc kịch chiến chợt nghe soạt một tiếng, Trần Thiên Vũ đã đâm trúng một tên, tiếp theo lại một tiếng soạt nữa, Triệu Ninh Quân đã xé vạt áo của Trần Thiên Vũ. Giang Nam lo lắng vội vàng chạy ra hậu viện gọi thêm ngườÌ. Kiếm pháp của Trần Thiên Vũ tuy tinh diệu, nhưng hai quyền khó địch bốn tay, huống chi lúc này kẻ địch là mười ba cao thủ của phái Không Động, trong khoảnh khắc chàng lại bị Triệu Ninh Quân đánh một chướng, Trần Thiên Vũ đùng đùng cả giận, thế là chém soạt ngang một tiếng, Triệu Ninh Quân đội vàng né tránh, nhát kiếm này đã vạch đốt ngón tay của một người ở phía sau Triệu Ninh Quân. Triệu Ninh Quân nhân lúc này đẩy ra một chưởng, Trần Thiên Vũ đứng không vững, một kẻ địch khác lại bồi thêm một đao, đao ấy trúng vào vai chàng cho nên máu đỏ tuôn trào như suối. Chợt nghe một giọng nói già nua cất lên: “Bọn cẩu tặc các người...” nói chưa xong thì người ấy đã đổ xuống đất, té ra người đó chính là Trần Định Cơ, cha của Trần Thiên Vũ, ông ta thấy con trai của mình bị thương vừa lo vừa giận, vừa mắng được một tiếng thì đã ngã sầm xuống đất. Triệu Ninh Quân cười ha hả: “Ngươi dám mắng ta, đáng đời. Được, ta cũng sẽ đâm xương tỳ bà tên giặc già này!” Trần Thiên Vũ mình đầy máu tươi, không chặn đỡ nổi cho nên đã có mấy người lướt qua người chàng phóng lên bậc cấp. Trần Thiên Vũ nổi giận mắng lớn, bọn này đang muốn chàng nổi giận cho nên càng cười lớn.
Chợt nghe có tiếng mắng: “Ai dám hại công công của ta!” rồi thấy ánh hàn quang chói mắt, khí lạnh tỏa ra, bọn người ấy chưa kịp khép miệng lại thì quai hàm đã cứng đờ. Té ra, bọn chúng tuy đã phòng bị trước nhưng U Bình phóng ra quá nhanh, trong khoảnh khắc không kịp trở tay mỗi người bị bắn vào mồm một viên Băng phách thần đạn, thế là lạnh đến nỗi miệng cứng đờ. U Bình đóng sầm cánh cửa, phóng ra tiếp mấy viên Băng phách thần đạn, lần này Triệu Ninh Quân đã kịp thời ra tay, chỉ nghe tiếng ám khí kêu lên loạt soạt trong không trung, tiếp theo là những tiếng tanh tách vang lên, chỉ thấy khí lạnh tản ra, tựa như có một bức màn sương từ trên buông xuống. 
Để chống đỡ loại Băng phách thần đạn có một không hai trên đời này, mấy năm qua Triệu Ninh Quân đã luyện ám khí mai hoa châm, loại ám khí này có thể đánh vở Băng phách thần đạn ra. Với công lực của bọn Triệu Ninh Quân, nếu bị băng đạn đánh trúng huyệt đạo, khí lạnh công tâm, đương nhiên khó chống cự, nhưng nếu mau chóng đánh vỡ nó ra thì bản thân bọn chúng vẫn có thể chống cự nổi cơn lạnh của băng đạn phát ra. Triệu Ninh Quân thấy có hiệu quả thì cười ha hả: “Ngươi còn bao nhiêu băng đạn? có cần xin tiếp hay không?” Té ra Băng Xuyên thiên nữ đã lấy băng từ hố băng ngàn năm ở băng cung để luyện ra loại Băng phách thần đạn này, khi U Bình xuống núi, nàng có đem theo mấy trăm viên, sau nhiều năm chỉ còn lại hai mươi tám viên, vừa rồi đã dùng mất mười viên, chỉ còn lại không quá hai mươi viên. Nhưng kẻ địch đến mười ba người, U Bình lo lắng, nghĩ bụng phải để lại băng đạn để phòng thân, nàng chỉ hơi chần chừ thì đã bị kẻ địch bao vây. U Bình quát lớn một tiếng, rút ra thanh trường kiếm lạnh lẽo sáng loáng, thanh kiếm này không phải vàng cũng chẳng phải sắt, đây là cây Hàn ngọc kiếm được ngâm trong suối lạnh vạn năm, tuy không bằng Băng phách hàn quang kiếm của Băng Xuyên thiên nữ, nhưng khi múa cũng có một luồng khí lạnh phát ra, nếu người chưa luyện qua nội công thì chắc chắn sẽ không chống đỡ nổi. U Bình múa ra chiêu thứ nhất là Vạn lý phi sương, tiếp theo là một chiêu Thiên Sơn lạc diệp, hai chiêu này có uy lực rất lớn, tựa như sương tuyết tung bay, khí lạnh phát ra cắt da khiến cho ai nấy đều nổi da gà! Triệu Ninh Quân vội vàng tiến lên phía trước, phất ống tay áo, quạt cây băng kiếm của U Bình ra, nhưng Trần Thiên Vũ thừa cơ phản công, đã phóng tới hợp với U Bình. Hai vợ chồng sánh vai tác chiến, dũng khí tăng lên, cả hai thi triển Băng xuyên kiếm pháp liên thủ chống địch, lúc này bọn Triệu Ninh Quân cũng không thể nào áp tới được nữa. Nhưng công lực của U Bình vẫn còn kém, chỉ nhờ vào cây Hàn ngọc kiếm, vả lại không dám sử dụng băng đạn nữa, trong lúc bị vây đánh thì nàng không thể phát huy được uy lực của Hàn ngọc kiếm, thời gian cứ kéo dài ra thì dần cảm thấy hơi đuối sức.
Trần Thiên Vũ công lực tuy có nhỉnh hơn nhưng chàng đã bị thương trước, khổ chiến một hồi lâu thì đã thở hổn hển, mồ hôi tuôn ra như suối, kẻ địch lại ùa tới tấn công một lượt, bọn họ phải lui thêm hai bậc cấp nữa, U Bình đâm ra một kiếm, chỉ thiếu có nửa tấc thì đã trúng Triệu Ninh Quân. nhưng lại bị một người phe kia thừa cơ quét một chưởng. May mà U Bình né tránh lanh lẹ, chỉ bị cạnh chưởng của y chạm trúng vai nhưng cũng vì thế mà thối lui thêm hai bậc cấp. Triệu Ninh Quân lạnh lùng nói: “Các người muốn bị đâm vào xương tỳ bà hay muốn bị cắt đầu?” Trần Thiên Vũ và U Bình nhìn nhau, cả hai vợ chồng tâm ý tương thông, vừa nhìn thì đã hiểu được đối phương, cả hai cùng nghĩ: “Bất quá là chết, có gì phải sợ?” Thế là cả hai liều chết chống địch, chỉ trong khoảnh khắc ánh hàn quang quét xuống, kiếm khí như cầu vồng, đẩy bọn Triệu Ninh Quân lui xuống trở lại một bậc cấp.
Cả hai vợ chồng tuy đồng tâm hợp lực, cùng nhau chống địch nhưng đáng tiếc lúc này đã đuối sức không được bao lâu thì bọn Triệu Ninh Quân đã dồn lên trở lại. Lúc này Trần Thiên Vũ chợt cảm thấy trong không trung có mùi hương lạ, hít vào thì người lâng lâng như say rượu. Trần Thiên Vũ nghĩ thầm: “Sao lại có mùi hương của ma quỷ thế này?” Khi ở Tây Tạng, chàng đã nghe một bậc dị sĩ có võ công cao cường tên gọi Long Linh Kiều nói, trong băng cốc ở Hy Mã Lạp Nhã có một loại hoa tên gọi A Tu la, trong tiếng Phạn “A Tu la” có nghĩa là ma quỷ, cho nên hoa A Tu la cũng gọi là hoa Ma quỷ. Người bình thường hít phải mùi hương của loại hoa này sẽ lập tức hôn mê. Dù người có căn cơ nội công, hít mãi loại hương hoa này thì gân cốt rã rời, tựa như bị say rượu, dù có võ công giỏi đến mức nào cũng không thể phát huy được. Có một lần Long Anh Kiều hít phải hương hoa này cho nên đã bị võ sĩ nước Nề Bách Nhĩ bắt sống. Lúc này Triệu Ninh Quân cũng phát hiện có điều lạ cười lạnh: “Té ra Trần công tử cũng biết dùng mê hương! Nhưng các ngươi đã sai rồi, bọn ta chẳng phải là bọn sợ mê hương!” Nói chưa dứt lời chợt nghe Trần Thiên Vũ kêu: “Mau phát Băng phách thần đạn!” U Bình xoay người nhảy vọt lên, dùng thủ pháp Thiên nữ tán hoa phóng một nắm băng đạn về phía bọn người kia, Triệu Ninh Quân vẫn dùng mai hoa châm để đánh băng đạn, nhưng băng đạn tuy bị vô, khí lạnh lại tăng thêm mấy lần, công lực của Triệu Ninh Quân cao nhất cho nên vẫn nghiến răng chống cự, tuy vậy y vẫn cảm thấy da thịt rét buốt, những kẻ có võ công kém thì đã nằm cứng đờ, Triệu Ninh Quân cả kinh, không biết sao công lực của mình lại đột nhiên giảm xuống. Té ra bọn chúng sau khi hít phải hương của hoa ma quỷ, chân khí trì trệ, cho nên cảm thấy khí lạnh tăng lên.
Trần Thiên Vũ và U Bình đã được Băng Xuyên thiên nữ truyền tâm pháp, vì thế không sợ khí lạnh, vả lại họ đã chuẩn bị trước cho nên vừa phóng ra băng đạn thì lập tức nín thở phóng xuống bậc cấp lia kiếm tấn công. Lúc này bọn Triệu Ninh Quân kẻ đã bải hoải chân tay, người thì run bần bật, nào có thể chống cự được nữa, chỉ trong khoảnh khắc đã có bốn năm kẻ trúng kiếm ngã xuống đất, Triệu Ninh Quân cũng bị chặt đứt hai ngón tay. Y vội vàng kêu đồng bọn rút lui. Những kẻ chưa bị thương và bị thương nhẹ đỡ những người đã bị thương nặng vượt tường tháo chạy, Trần Thiên Vũ và U Bình tuy đã toàn thắng nhưng họ cũng chẳng biết tại sao mình đã thắng!  U Bình đút kiếm vào vỏ, phất ống tay áo quạt khí âm hàn ra, xé một mảnh áo băng vết thương cho chồng rồi nói: “Không biết là cao nhân phương nào đã ngầm giúp chúng ta? Chàng có đau không?” Trần Thiên Vũ nói: “May mà không trúng xương. Không biết mùi hương hoa A Tu la từ đâu tới!” U Bình định hỏi hoa A Tu la là gì, chợt thấy Giang Nam tập tễnh bước ra, mặt lộ vẻ lo lắng, nói: “Công tử, tôi đã dắt nhầm kẻ thù đến nhà, công tử hãy xử phạt.” Trần Thiên Vũ nhíu mày nói: “Từ rày về sau phải cẩn thận hơn! Mau kêu người nhà rửa sạch vết máu dưới sân. Chuyện lúc nãy đừng nói ra ngoài.”
Giang Nam vâng một tiếng, chàng chợt ngẩn người ra, lúc này sương lạnh của Băng phách thần đạn đã tan theo gió, U Bình nhìn theo ánh mắt Giang Nam, chỉ thấy dưới gốc hòe trong sân có một thiếu nữ che mặt đang ngồi, trên tay nàng là một đóa hoa đã khô. Đóa hoa có hai màu đỏ và trắng trông rất kỳ lạ. Trước kia khi còn ở trong băng cung, U Bình đã thấy rất nhiều loại hoa kỳ lạ, nhưng chưa bao giờ thấy loại hoa này! U Bình giật mình: “Chả lẽ đây là hoa A Tu la?” nhưng chợt thấy thiếu nữ ấy cúi đầu, tóc tai rối bời, run lên bần bật, từng cánh hoa rơi lả tả xuống đất, tựa như nàng ta không chịu nổi cơn lạnh. Giang Nam đứng thộn mặt ra, lạc giọng kêu lên: “Chính là nàng, người đã thổi Hồ Ca!” Trần Thiên Vũ kêu “Ồ” một tiếng, U Bình vội vàng chạy đến, lấy ra một viên Dương hòa hoàn có tác dụng chống lại khí lạnh, dịu dàng nói: “Đa tạ cô nương đã giúp chúng tôi đánh lui kẻ địch.” Lúc này U Bình rất cảm kích, đang định vạch mạng che mặt giúp nàng uống thuốc. Nàng thiếu nữ chợt phóng vọt người dậy, phát ra tiếng cười quái dị, còn U Bình thì kêu thảm một tiếng, ngã ngửa xuống đất, trên ngực cắm một mũi tên ngắn đen bóng, đuôi tên vẫn còn rung bần bật!  Trong khoảnh khắc ấy Trần Thiên Vũ kinh hoảng đến ngây người ra, chỉ nghe nàng thiếu nữ cười rú lên: “Thứ ta không lấy được cũng mãi mãi chẳng giữ được!” Trần Thiên Vũ phóng vọt người lên chụp vào vai của thiếu nữ ấy, gằn giọng quát: “Ngươi... ngươi là ai? Tại sao hạ độc thủ như thế?” Sau cuộc ác chiến, chàng lại hít phải mùi thơm của hoa A Tu la, lúc này vốn đã đuối sức. Chàng phóng vọt lên nhảy bổ tới khiến cho vết thương trên vai vỡ ra, đứng không vững chân cho nên kéo thiếu nữ ấy cùng ngã xuống đất. Thiếu nữ chợt kéo mạng che mặt xuống, đôi mắt long lanh tựa khóc mà không phải khóc, như cười mà cũng chẳng phải cười, nàng nhìn Trần Thiên Vũ sững sờ, Trần Thiên Vũ kêu lên lạc giọng như gặp phải ma quỷ: “Ngươi... ngươi là Tang Bích Y?” Thiếu nữ ấy đột nhiên cười rú lên, rồi nàng nói tiếp: “Đúng thế, ngươi đã nhận ra ta, vị hôn thê của ngươi đã đến tìm ngươi, chúng ta cùng đi thôi!” rồi đột nhiên nàng rút ra thêm một mũi tên ngắn, đâm vào cổ họng Trần Thiên Vũ, Giang Nam kêu hoảng. Trần Thiên Vũ mặt xám ngoét như xác chết, lòng thầm than: “Oan nghiệt, oan nghiệp” rồi chàng nhắm mắt chờ chết, chợt nghe soạt một tiếng, Trần Thiên Vũ mở mắt nhìn lại thì ra mũi tên ấy không phải đâm vào cổ họng của mình mà là đâm vào ngực của nàng thiếu nữ. Chỉ nghe nàng thiếu nữ thở dài, thều thào nói: “Thiên Vũ, ngươi hay lắ! Ngươi không chịu đi cùng ta có phải không? Dẫu sao ta cũng đã giết ả, một mình ngươi sống trên đời sẽ rất đau lòng. Thiên Vũ, ngươi hãy để ta cột lại dây giày cho ngươi.” Giọng nói càng lúc càng nhỏ, rồi người cũng đổ ập xuống dưới gối của Trần Thiên Vũ, hai tay thì nắm giày của chàng. Nàng thiếu nữ che mặt chính là con gái của Thổ Ti Tát Ca. khi Trần Định Cơ làm Tuyên úy sứ ở Tát Ca, bị Thổ Ti của Tát Ca uy hiếp, đành phải hứa cưới con gái của Thổ Ti cho con trai của mình. Lâu nay Trần Thiên Vũ không hề thừa nhận hôn sự này, chàng cũng đã chạy trốn. Sau này Thổ Ti đã bị một thiếu nữ người Tạng là Chi Na đâm chết, thế là hôn sự cũng ta vỡ. Không ngờ sau khi Trần Thiên Vũ trở về Giang Nam, Tang Bích Y đã vượt đường xa muôn dặm tìm chàng. Nàng vốn muốn đâm chết Trần Thiên Vũ, nhưng khi xuống tay thì đột nhiên không nỡ lòng, cho nên trở ngược mũi tên đâm vào ngực mình. Trần Thiên Vũ đẩy nhẹ Tang Bích Y ra, thì ra dây giày của mình đã bị xổ, té ra theo phong tục của Tây Tạng, thiếu nữ buộc dây giày cho một người đàn ông nào đó thì có nghĩa là trái tim của nàng đã thuộc về người ấy, trước đây Tang Bích Y đã từng buộc dây giày một lần cho Trần Thiên Vũ, lúc đó Trần Thiên Vũ không biết phong tục này. Tang Bích Y vẫn nhớ mãi hôn ước, cho đến chết vẫn muốn làm vợ của chàng, vì thế trước khi ra đi nàng vẫn muốn buộc dây giày cho Trần Thiên Vũ.
Trần Thiên Vũ rút chân ra, đưa tay sờ thì thấy Tang Bích Y đã đứt hơi. Trong không khí thê thảm ấy, máu chàng tựa như đông lại, chàng vội vàng chạy đến bên cạnh U Bình, nhưng U Bình đã nhắm tịt hai mắt, mặt không hề có sắc máu. Mảnh áo trên vai nàng đã bị Tang Bích Y xé rách, cả bờ vai của nàng bị bầm đen, chàng thấy mũi tên độc cắm vào ngực của U Bình, nghĩ bụng chắc nàng không thoát khỏi cái chết. Trần Thiên Vũ đứng ngẩn người ra, rút soạt thanh kiếm, trở mũi kiếm lại toan đâm vào yết hầu của mình. Trải qua biến cố lần này, chàng quả thật không muốn sống một mình trên đời để đau lòng nữa.  Giang Nam đang đứng bên cạnh, thấy thế thì tung ra một cước, đá bay thanh kiếm của Trần Thiên Vũ, kêu lên: “Công tử, xem kìa, đầu của thiếu phu nhân còn cử động được!” Trần Thiên Vũ nhìn lại, mái tóc của U Bình đang phất phơ theo gió, thần trí của nàng hơi tỉnh hơn, chàng nghĩ thầm: “Đúng thế, mình phải cố hết sức.” Vì thế mới kêu Giang Nam vào trong lấy cao đơn hoàn tán giải độc ra, chàng không dám rút mũi tên độc, chỉ nắm chặt hai tay của U Bình, cảm thấy mạch đập của nàng mỏng manh như sợi tơ, tuy hơi yếu nhưng vẫn chưa đoạn hoàn toàn.
Một hồi sau, Giang Nam đã đem ra tất cả các loại thuốc giải độc, Trần Thiên Vũ chọn hai loại thuốc mà U Bình đã lấy về từ băng cung, rồi vạch áo bôi vào vết thương, sau đó lại nhẹ nhàng xoa bóp, độc khí đã tản mát, qua một hồi lâu sau, U Bình hơi hé mắt, miệng mấp máy, Trần Thiên Vũ kề tai vào miệng nàng. Chỉ nghe nàng khẽ nói: “Đừng làm khó nàng ta!” Ý của U Bình là muốn nói Tang Bích Y. Trần Thiên Vũ nhói lòng, nói: “Nàng đã chết!” U Bình nói: “Chàng đừng căm hận nàng, cứ chôn nàng theo lẽ phu thê. Nếu muội chết, huynh cứ chôn muội bên cạnh nàng!” Trần Thiên Vũ thổn thức nói: “Không, muội không thể chết được.” Lúc này bên trong nhà có tiếng người ồn ào, Trần Thiên Vũ lòng rối bời, hỏi Giang Nam: “Lão gia thế nào rồi?” Giang Nam nói: “Lão gia hoảng quá đến nỗi ngã bệnh.” Trần Thiên Vũ bế U Bình vào phòng rồi vội vàng đến thăm cha. May mà Trần Định Cơ vì già cả yếu ớt, hoảng quá thành bệnh chứ không hề gì.
Suốt mấy ngày qua Trần Thiên Vũ ngồi bên giường chăm sóc cho vợ, không biết cây tên của Tang Bích Y đã tẩm loại độc gì mà tuy có linh dược của băng cung cũng chỉ có thể ngăn thương thế không mở rộng mà thôi. May mà được Đường Kinh Thiên chỉ điểm tâm pháp nội công chính tông, cho nên mỗi ngày chàng đều đùng nội công thượng thừa phối hợp với linh dược của băng cung trị thương cho U Bình. Lại cũng nhờ U Bình có căn cơ võ công vững chắc, kéo dài được đến ngày thứ tư thì nàng mới có thể ăn uống được một chút, mạch đập cũng hơi mạnh hơn nhưng vẫn còn trong tình trạng nguy hiểm. Trần Thiên Vũ vừa chăm sóc cho cha, vừa trông coi vợ, quả thật rất mệt mỏi.
Hôm nay U Bình đã hơi tỉnh táo, thấy Trần Thiên Vũ sắc mặt tiều tụy thì nàng buồn bã thở dài: “Muội đã liên lụy huynh ra nông nỗi này, chi bằng cứ để muội chết cho xong.” Linh dược của băng cung cũng không thể giải độc, chắc là không có thầy thuốc nào trị nổi. Mấy năm nay muội được hưởng phước, dẫu cho có chết sớm cũng nhắm mắt.” Trần Thiên Vũ nói: “Đừng nghĩ càn, muội không thể chết được!” chàng tuy nói cứng như thế nhưng đó chỉ là an ủi cho U Bình, thực ra trong lòng chàng cũng chẳng có cách gì hay. U Bình chợt nói: “Huynh đã xây mộ cho Tang Bích Y chưa?”
Trần Thiên Vũ nói: “Mấy ngày qua huynh đã bảo Giang Nam đốc công xây xong.” U Bình nói: “Nàng tuy ra tay ác độc nhưng cũng vì si tình. Huynh đừng đối xử tệ với nàng.” Trần Thiên Vũ nói: “Huynh đã chôn cất nàng theo lời muội.” U Bình nói: “Tốt lắm, sau này nếu gặp nàng ở suối vàng, muội cũng yên lòng.” Trần Thiên Vũ nói: “Muội hãy vì huynh, đừng nói những lời đau lòng ấy được không?” có linh dược của băng cung, lại thêm công lực của bản thân muội đủ cho trong nhất thời không thể khỏe hẳn, nhưng vẫn có thể giữ được lánh mạng.” U Bình cười thảm nói: “Hàng ngày huynh phải trông coi một người sắp chết như thế này, huynh không phiền muộn nhưng muội thì rất đau đớn!” nàng ngừng một lát rồi lại nói: “Có một chuyện muội vẫn chưa cho huynh biết, năm xưa Đường Kinh Thiên lần đầu tiên đến băng cung, đã viết đôi câu đối cho muội: “U cốc hoang sơn, nguyệt sắc tẩy thanh nhan sắc. Bình ngạnh liên diệp, vũ thanh tích toái hà thanh” nghĩ lại muội quả thực chỉ hợp sống ở nơi u cốc hoang sơn, khi theo huynh về nơi trần thế phồn hoa này, trái lại đã khiến huynh đau lòng vì muội suốt một đời!” Trần Thiên Vũ đang rối bời ruột gan, chàng chợt sực tỉnh, mừng rỡ kêu lớn: “Đúng rồi, sao huynh lại không nhớ ra chứ? Giang Nam, Giang Nam!”
U Bình nói: “Huynh đã nhớ được gì?” Trần Thiên Vũ nói: “Đường Kinh Thiên, Thiên Sơn tuyết liên? May mà muội nhắc đến ông ta. Thiên Sơn tuyết liên có thể giải bách độc, còn lo gì?” U Bình cười khổ sở: “Thiên Sơn cách đây bao xa?” Trần Thiên Vũ nói: “Nếu dùng khoái mã đi và về nhiều nhất không quá nửa năm. Trong thời gian này huynh sẽ điều trị cho muội, có lẽ bệnh tình sẽ không chuyển biến xấu!” lúc này Giang Nam đã vội vàng chạy vào, đứng cúi đầu chờ trước giường bệnh, vẻ mặt rất lo lắng. Trần Thiên Vũ nói: “Giang Nam, tôi muốn nhờ ngươi hai chuyện.” Giang Nam kêu ối chao rồi nói: “Sao công tử lại nói thế? Công tử đối với tôi rất tốt, có chuyện gì thì cứ sai khiến, dù nước sôi lửa bỏng Giang Nam cũng không nhíu mày!” Trần Thiên Vũ nói: “Làm phiền ngươi hãy đến băng cung một chuyến, xin Đường đại hiệp một đóa Thiên Sơn tuyết liên.” Vì lần này Giang Nam đã dắt kẻ địch đến, Trần Thiên Vũ tuy không trách, nhưng rất áy náy trong lòng, lúc nào cũng không yên, nay nghe Trần Thiên Vũ bảo đi lấy Thiên Sơn tuyết liên, chàng nghĩ chắc đó là một loại thuốc giải độc, không khỏi cả mừng nói: “Công tử hãy yên tâm, Giang Nam chắc chắn sẽ làm được.” Trần Thiên Vũ nói: “Đường sá xa xôi, người phải cẩn thận mới được.”
Giang Nam nói: “Đương nhiên, nếu trên đường gặp kẻ cường địch, nếu tránh được thì tránh, không tránh được tôi sẽ liều mạng với bọn chúng.” Trần Thiên Vũ nói: “Ta không lo diều này. Tuy trên đường nhiều cường đạo, nhưng ngươi chẳng mang theo vật gì đáng tiền, vả lại võ công của ngươi đã có tiến bộ, đủ ứng phó với bọn mã tặc thông thường. Điều quan trọng nhất là đừng gây sự.” Giang Nam nói: “Được, tôi sẽ giả vờ chẳng biết võ công, dù có bị đánh tôi cũng không trả đòn.” Trần Thiên Vũ nhíu mày: “Đâu có ai vô duyên vô cớ đánh mắng ngươi. Ngươi không gây chuyện đã là tốt lắm.” Ngừng một lát rồi trịnh trọng nói: “Ta còn nhờ ngươi một chuyện nữa.”
Giang Nam nói: “Công tử cứ căn dặn, Giang Nam sẽ nghe theo.” Trần Thiên Vũ nói: “Ngươi phải nhớ kỹ hai câu nói này!” Giang Nam vội vàng hỏi: “Câu nói gì?” Trần Thiên Vũ nói: “Đành rằng phải nói chuyện với người khác nhưng không thể vạch áo cho người xem lưng. Trên giang hồ hạng tiểu nhân gian xảo nào cũng có, ngươi phải sửa tật lắm lời.” Giang Nam đỏ mặt, ngượng ngùng nói: “Khi đi đường người khác hỏi tôi hai câu, tôi sẽ đáp một câu. Người ta hỏi mươi câu tôi sẽ đáp bốn câu. Nếu y có lai lịch bất minh, tôi sẽ giả vờ câm điếc. Quyết không dám làm hỏng chuyện lớn của
công tử.” U Bình nghe chàng nói một hồi thì bật cười, Giang Nam nói: “Bây giờ còn đang ở nhà, tôi có nói thêm vài câu cũng chẳng hề chi. Thiếu phu nhân hãy yên tâm, khi đi đường tôi sẽ kín như bưng!” Trần Thiên Vũ mỉm cười nói: “Ta rất cảm kích tấm lòng trung thành của ngươi đối với ta. Trước đây ngươi là thư đồng của ta, từ rày về sau đừng gọi ta là công tử nữa.” Giang Nam nói: “Đợi sau khi lấy được Thiên Sơn tuyết liên thì đổi cách xưng hô cũng được. Công tử có còn căn dặn gì nữa không?” Trần Thiên Vũ nói: “Chỉ có một việc ngươi có thể dò hỏi ở trên đường đó là tin tức của Kim Thế Di.” Nói rồi lấy ra hai trăm lượng bạc đưa cho chàng làm lộ phí, lại sai người dắt con ngựa tốt giống Đại Uyển ra cho Giang Nam. Trần Thiên Vũ đưa Giang Nam ra khỏi thôn, dặn dò một hồi rồi mới vẫy tay cáo biệt.
Trên suốt quãng đường Giang Nam nhớ kỹ lời đồn của Trần Thiên Vũ, quả nhiên không dám nói nhiều. Chàng phóng ngựa rất nhanh, mỗi ngày sáng sớm đã lên đường, đến trời tối thì tìm nơi tá túc, đến ngày thứ năm thì đã đi hơn một ngàn dặm đường, chàng nhủ thầm: “Đi nhanh như thế này không cần nửa năm, nhiều nhất bốn tháng là
có thể quay về.” Nào ngờ đến ngày thứ sáu thì gặp phải một chuyện bất ngờ, suýt nữa khiến chàng mất mạng.
Đó chính là: “Giang hồ sóng gió xưa nay lắm, vượt qua đâu dễ đã bao người?”
Muốn biết tiếp đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.